24 tình huống tuyên truyền pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Lê Thị Minh Hiếu
2026-07-07T20:59:13-04:00
2026-07-07T20:59:13-04:00
https://pbgdplthainguyen.gov.vn/de-cuong-tuyen-truyen/24-tinh-huong-tuyen-truyen-phap-luat-ve-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh-956.html
https://pbgdplthainguyen.gov.vn/uploads/tai-lieu-tuyen-truyen/2026_07/bia-th-xlvphc.jpg
Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Cổng thông tin điện tử Phổ biến giáo dục pháp luật
https://pbgdplthainguyen.gov.vn/uploads/botuphap.png
Tình huống 1:
Công ty TNHH Mỹ phẩm Rose Beauty là đơn vị chịu trách nhiệm đưa dòng sản phẩm "Mặt nạ trắng da siêu tốc Rose White" ra thị trường. Để tăng hiệu quả làm trắng nhanh nhằm thu hút khách hàng, trong quá trình sản xuất, đơn vị sản xuất đã chủ động đưa thêm thành phần là một chất bị cấm sử dụng trong các sản phẩm mỹ phẩm thông thường (do có nguy cơ gây đột biến tế bào, ung thư da và rối loạn sắc tố nặng) vào công thức của mặt nạ. Dù biết nhưng vì lợi nhuận cao, công ty vẫn kinh doanh loại mặt nạ này. Hành vi của công ty sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như thế nào?
Trả lời: Theo Nghị định số 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, hành vi của Công ty TNHH Mỹ phẩm Rose Beauty có thể bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:
Hành vi kinh doanh mặt nạ có thành phần chất cấm sử dụng trong mỹ phẩm của Công ty TNHH Mỹ phẩm Rose Beauty đã vi phạm quy định về mua bán mỹ phẩm trong hoạt động kinh doanh mỹ phẩm tại điểm a khoản 3 Điều 70 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP:
“3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường thực hiện một trong các hành vi sau đây:
a) Kinh doanh mỹ phẩm có thành phần chất cấm sử dụng trong mỹ phẩm hoặc vượt quá giới hạn cho phép đối với chất có quy định giới hạn nồng độ, hàm lượng sử dụng theo quy định của pháp luật”.
Khoản 4 Điều Điều 70 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP quy định về biện pháp khắc phục hậu quả:
“4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc thu hồi và tiêu hủy sản phẩm mỹ phẩm đối với hành vi quy định tại khoản 1, khoản 2 và các điểm a, b, c khoản 3 Điều này;
b) Buộc nộp lại số tiếp nhận phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm đối với hành vi quy định tại khoản 3 Điều này”.
Ngoài ra, khoản 5 Điều 4 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP quy định: “5. Mức phạt tiền được quy định tại Chương II Nghị định này là mức phạt tiền đối với cá nhân. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân”.
Căn cứ các quy định trên, hành vi kinh doanh mặt nạ có thành phần chất cấm sử dụng trong mỹ phẩm của Công ty TNHH Mỹ phẩm Rose Beauty sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính:
- Hình phạt chính: phạt tiền với mức phạt từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng (nếu không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì mức phạt là 70.000.000 đồng.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc thu hồi và tiêu hủy sản phẩm mỹ phẩm vi phạm; buộc nộp lại số tiếp nhận phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm vi phạm.
Tình huống số 02:
Anh A có con trai ruột là D, năm nay 19 tuổi. Do thường xuyên bỏ học, mê chơi game và không nghe lời khuyên bảo của gia đình nên giữa hai cha con thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Trong một lần nóng giận vì không thể giáo dục được con, anh A đã dùng gậy đánh D nhiều lần, khiến D bị thương phải đi khám tại cơ sở y tế. Kết quả giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của D là 3%.
Hỏi: Hành vi đánh con ruột của anh A có bị xử phạt vi phạm hành chính hay không? Nếu có thì mức phạt là bao nhiêu?
Trả lời: Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, hành vi đánh đập, hành hạ hoặc cố ý xâm hại đến sức khỏe của thành viên gia đình là hành vi bạo lực gia đình. Mối quan hệ cha, mẹ và con là quan hệ gia đình được pháp luật bảo vệ, do đó việc lấy lý do dạy dỗ con để sử dụng bạo lực gây thương tích là hành vi bị nghiêm cấm.
Tại điểm b khoản 3 Điều 37 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định:
“3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
…
b) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;”.
Đối với hành vi này, anh A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định về hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình.
- Hình phạt chính: phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt là 15.000.000 đồng).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực gia đình có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng; buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh (nếu có) theo quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 37 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.
Như vậy, việc cha mẹ sử dụng bạo lực để dạy dỗ con là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Trong trường hợp gây thương tích cho con, người thực hiện hành vi không những có thể bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hậu quả hoặc tính chất hành vi đạt đến mức luật định.
Tình huống số 03:
Chị A làm nghề kinh doanh hàng ăn. Mẹ đẻ của chị A là bà D, năm nay 80 tuổi, bị tai biến đã 10 năm, không thể đi lại và mất khả năng tự chăm sóc bản thân. Hằng ngày chị A đều mang cơm đến cho mẹ ăn.
Tuy nhiên, vào thời điểm cận Tết, do lượng khách đông, chị A thường xuyên bỏ mặc việc chăm sóc mẹ. Trong tuần vừa qua, chị A đã không mang cơm cho bà D trong 3 ngày liên tiếp, khiến bà D bị đói lả, phải kêu cứu và được người dân xung quanh phát hiện, hỗ trợ.
Hỏi: Hành vi của chị A có vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
- Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, việc bỏ mặc, không chăm sóc thành viên gia đình là người cao tuổi, người không có khả năng tự chăm sóc bản thân; không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc dẫn đến ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của họ là hành vi bạo lực gia đình. Hành vi của chị A là hành vi vi phạm pháp luật và được xác định là hành vi bạo lực gia đình.
Trong tình huống trên, bà D là mẹ ruột của chị A, đã 80 tuổi, bị tai biến, không thể tự đi lại và mất khả năng tự chăm sóc bản thân. Chị A là người có nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, phụng dưỡng mẹ. Việc chị A không mang thức ăn cho bà D trong 3 ngày liên tiếp, để bà D bị đói lả và phải cầu cứu người dân xung quanh là hành vi bỏ mặc, không chăm sóc người cao tuổi không có khả năng tự chăm sóc bản thân.
- Tại điểm a khoản 1 Điều 38 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định:
“1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, không chăm sóc thành viên gia đình là phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người già yếu, người cao tuổi, người không có khả năng tự chăm sóc;”.
Đối với hành vi này, chị A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định về hành vi bỏ mặc, không chăm sóc thành viên gia đình là người già yếu, không có khả năng tự chăm sóc bản thân.
- Hình thức phạt chính: phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì mức phạt là 15.000.000 đồng).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực gia đình có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng.
Tình huống số 04:
Anh A và chị D là vợ chồng, đã kết hôn được 10 năm và có hai người con gái. Do tư tưởng trọng nam khinh nữ, anh A luôn cho rằng việc gia đình không có con trai là lỗi của chị D. Trong suốt một năm qua, anh A thường xuyên chửi bới, chì chiết, xúc phạm chị D bằng những lời lẽ thô tục, miệt thị trước mặt con cái và hàng xóm. Nhiều lần anh A còn đe dọa sẽ ly hôn và đuổi chị D ra khỏi nhà nếu chị không sinh được con trai.
Hỏi: hành vi thường xuyên chửi bới, xúc phạm vợ của anh A có được coi là bạo lực gia đình hay không? Anh A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính như thế nào?
Trả lời:
- Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, gây áp lực thường xuyên về tâm lý hoặc các hành vi khác làm tổn hại đến sức khỏe tinh thần của thành viên gia đình là hành vi bạo lực gia đình.
Trong tình huống trên, việc anh A liên tục chửi bới, xúc phạm, đổ lỗi cho chị D vì không sinh được con trai, đồng thời đe dọa ly hôn, đuổi ra khỏi nhà trong thời gian dài đã gây tổn hại nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm và sức khỏe tinh thần của chị D. Do đó, đây là hành vi bạo lực gia đình dưới hình thức bạo lực tinh thần.
- Tại khoản 1 Điều 39 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định:
“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.”.
Đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, gây áp lực tâm lý thường xuyên đối với thành viên gia đình, anh A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
- Hình thức phạt chính: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt là 7.500.000 đồng).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc xin lỗi công khai khi chị D có yêu cầu theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 39 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.
Mỗi thành viên trong gia đình đều có quyền được tôn trọng, yêu thương và đối xử bình đẳng. Việc thường xuyên chửi bới, xúc phạm, miệt thị hay gây áp lực tâm lý không chỉ làm rạn nứt hạnh phúc gia đình mà còn là hành vi vi phạm pháp luật, cần được lên án và xử lý nghiêm.
Tình huống số 05:
Chị A và anh B là vợ chồng. Trong thời gian chung sống, anh B phát hiện chị A có quan hệ tình cảm với người khác. Cho rằng mình bị phản bội nên anh B vô cùng tức giận. Để trả thù vợ, anh B đã bí mật lưu giữ nhiều hình ảnh riêng tư, nhạy cảm của chị A và đăng tải lên mạng xã hội kèm theo những lời lẽ xúc phạm, bôi nhọ danh dự của chị A. Sau khi các hình ảnh được đăng tải, nhiều người đã chia sẻ, bình luận khiến chị A bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm và cuộc sống.
Hỏi: Hành vi của anh B có vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
- Theo quy định của pháp luật, mỗi cá nhân đều có quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và hình ảnh của mình. Việc sử dụng, đăng tải hoặc phát tán hình ảnh riêng tư của người khác khi chưa được sự đồng ý của họ là hành vi bị nghiêm cấm.
Theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, hành vi tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm là hành vi bạo lực gia đình. Hành vi của anh B vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
- Đối với hành vi tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm tuỳ theo mức độ vi phạm anh B có thể bị xử phạt hành chính như sau:
Tại khoản 2 Điều 39 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định:
“2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”.
- Hình thức phạt chính: phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt là 15.000.000 đồng).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc xin lỗi công khai, thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh đối với hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 3 Điều 39 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.
Như vậy, việc phát tán hình ảnh riêng tư của người khác lên mạng xã hội để bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm không phải là cách giải quyết mâu thuẫn trong gia đình mà là hành vi vi phạm pháp luật. Người thực hiện hành vi này không chỉ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, buộc bồi thường thiệt hại mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng.
Tình huống số 06:
Chị H có con trai là cháu M, học lớp 7. Vì muốn con đạt thành tích cao, chị H yêu cầu cháu học từ 5 giờ sáng đến 11 giờ đêm mỗi ngày, ngoài giờ học chính khóa còn phải học thêm liên tục nhiều môn. Khi cháu M mệt mỏi, xin được nghỉ ngơi hoặc tham gia hoạt động với bạn bè, chị H không đồng ý, thường xuyên la mắng, gây áp lực và bắt cháu tiếp tục học.
Sau một thời gian, cháu M có biểu hiện kiệt sức, căng thẳng, học tập giảm sút. Giáo viên chủ nhiệm phát hiện sự việc và báo cho chính quyền địa phương. Qua xác minh, cơ quan chức năng xác định chị H đã có hành vi cưỡng ép thành viên gia đình học tập quá sức.
Hỏi: Hành vi của chị H có được coi là vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì có thể bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm d khoản 1 Điều 40 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định về hành vi cưỡng ép, cản trở, cô lập, giam cầm, gây áp lực thường xuyên về tâm lý như sau:
“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
d) Cưỡng ép thành viên gia đình học tập quá sức.”
Tại khoản 5 Điều 40 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định:
“5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực gia đình có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.”
Trong trường hợp trên, cơ quan chức năng đã xác định chị H đã có hành vi cưỡng ép thành viên gia đình học tập quá sức. Do đó, chị H có hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
- Hình thức phạt chính: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt là 7.500.000 đồng)
- Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực gia đình có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng.
Tình huống số 7:
Anh A và chị B ly hôn năm 2024. Theo bản án của Tòa án, chị B được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C (7 tuổi). Sau khi ly hôn, anh A thường xuyên đến thăm nom, quan tâm và mua sắm đồ dùng học tập cho con.
Tuy nhiên, do mâu thuẫn với gia đình chồng cũ, chị B không cho anh A gặp cháu C, nhiều lần khóa cửa không tiếp, chặn số điện thoại và yêu cầu cháu C không được liên lạc với bố. Mặc dù anh A đã nhiều lần đề nghị được thăm nom cháu nhưng chị B vẫn cố tình ngăn cản trong thời gian dài, khiến tình cảm giữa anh và cháu bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Hỏi: Hành vi của chị B có vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định hành vi ngăn cản ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân là một trong những hành vi bạo lực gia đình theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 3.
Trong tình huống trên, mặc dù là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu C, nhưng chị B đã cố tình cản trở anh A thăm nom, liên lạc và duy trì quan hệ tình cảm với cháu mà không có căn cứ chính đáng. Hành vi này đã xâm phạm quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa cha và con, đồng thời được xác định là hành vi bạo lực gia đình.
Tại Điều 42 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định:
“Điều 42. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án.”.
Như vậy chị B có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
- Hình thức phạt chính: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt là 7.500.000 đồng).
Quyền thăm nom con sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ. Việc cố tình ngăn cản cha hoặc mẹ gặp gỡ, chăm sóc, giáo dục con không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ mà còn là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định hiện hành.
Tình huống số 08:
Anh A và chị C là vợ chồng. Do không muốn vợ đi làm tại một công ty ở tỉnh khác vì lo ngại chị C có các mối quan hệ xã hội bên ngoài, anh A nhiều lần yêu cầu chị C nghỉ việc để ở nhà chăm sóc gia đình. Tuy nhiên, chị C không đồng ý vì công việc là nguồn thu nhập chính của bản thân.
Bực tức trước sự phản đối của vợ, anh A đã khóa cửa phòng ngủ, giữ toàn bộ giấy tờ tùy thân và điện thoại của chị C, không cho chị ra ngoài hay liên lạc với bất kỳ ai. Trong suốt 2 tuần, anh A chỉ mang thức ăn và nước uống vào phòng mỗi ngày. Chỉ đến khi người thân phát hiện sự việc và báo cơ quan chức năng thì chị C mới được giải thoát.
Hỏi: Hành vi của anh A có vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Trong tình huống trên, việc anh A khóa cửa nhốt chị C trong phòng ngủ suốt 2 tuần, tước quyền tự do đi lại, giữ điện thoại và không cho liên lạc với người khác đã xâm phạm nghiêm trọng quyền tự do thân thể, quyền lao động và các quyền công dân hợp pháp của chị C. Đây là hành vi bạo lực gia đình dưới hình thức cô lập, giam cầm và kiểm soát trái pháp luật.
Tại khoản 3 Điều 40 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định:
“3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi cô lập, giam cầm thành viên gia đình, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.”.
Đối với hành vi này, anh A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cô lập, giam cầm thành viên gia đình.
- Hình thức phạt chính: phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt là 25.000.000 đồng).
Nếu hành vi giam giữ người trái pháp luật có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì anh A còn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Tình huống số 9:
Anh B và chị E đã ly hôn theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo bản án, chị E là người trực tiếp nuôi con chung là cháu H (8 tuổi), còn anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu H đủ tuổi thành niên theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, sau khi ly hôn, mặc dù có công việc và thu nhập ổn định, anh B thường xuyên không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Trong 9 tháng đầu năm 2026, anh B không chuyển bất kỳ khoản tiền nào để hỗ trợ chị E nuôi dưỡng cháu H, mặc dù chị E đã nhiều lần nhắc nhở và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo bản án của Tòa án. Việc anh B không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng khiến chị E gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo đảm điều kiện học tập, sinh hoạt cho con.
Hỏi: Hành vi của anh B có vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, sau khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quyết định của Tòa án hoặc theo thỏa thuận hợp pháp của các bên. Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ bắt buộc và không được từ chối thực hiện.
Trong tình huống trên, bản án của Tòa án đã xác định rõ anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Việc anh B cố tình không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng trong thời gian dài mặc dù có điều kiện thực hiện là hành vi vi phạm pháp luật.
Tại điểm b khoản 1 Điều 43 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định:
“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
…
b) Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.”.
Đối với hành vi này, anh B có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
- Hình thức phạt chính: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt là 7.500.000 đồng)
- Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.
Nghĩa vụ cấp dưỡng là trách nhiệm pháp lý của cha, mẹ đối với con sau khi ly hôn và không phụ thuộc vào mâu thuẫn giữa vợ chồng. Việc cố tình không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của trẻ em mà còn là hành vi vi phạm pháp luật, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Tình huống số 10:
Chị A và anh B là vợ chồng, cùng đi làm và có thu nhập ổn định. Tuy nhiên, sau mỗi kỳ trả lương, anh B yêu cầu chị A phải chuyển toàn bộ tiền lương vào tài khoản do anh quản lý. Anh B không cho chị A giữ bất kỳ khoản tiền nào, mọi khoản chi tiêu cá nhân như mua quần áo, thuốc men, hay thăm hỏi người thân đều phải xin phép. Mỗi tháng, anh B chỉ đưa cho chị A 1.000.000 đồng để chi tiêu sinh hoạt và thường xuyên kiểm tra, chất vấn mọi khoản chi. Nếu chị A không đồng ý giao tiền lương hoặc tự ý sử dụng thu nhập của mình thì anh B đe dọa, chửi mắng và không cho chị tiếp tục đi làm.
Hỏi: Theo quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hành vi của anh B được xác định là gì? Theo quy định hiện hành, anh B có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức nào?
Trả lời:
- Trong tình huống trên, anh B yêu cầu chị A phải giao toàn bộ tiền lương để mình quản lý, không cho chị A tự quyết định việc sử dụng thu nhập của mình, chỉ cấp một khoản tiền rất nhỏ để chi tiêu và kiểm soát mọi khoản mua sắm. Hành vi này khiến chị A mất quyền tự chủ về tài chính, phụ thuộc hoàn toàn vào anh B trong cuộc sống hằng ngày.
Theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về mặt tài chính là một trong các hành vi bạo lực gia đình về kinh tế được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022. Mặc dù không sử dụng bạo lực thể chất, nhưng việc kiểm soát thu nhập, hạn chế quyền sử dụng tài sản hợp pháp của người khác vẫn là hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên gia đình, ảnh hưởng đến sự bình đẳng giữa vợ và chồng.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; đồng thời mỗi người có quyền đối với tài sản riêng và thu nhập hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Việc một bên áp đặt, tước quyền quản lý và sử dụng thu nhập của bên còn lại là trái với nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ hôn nhân.
- Tại điểm đ khoản 1 Điều 44 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định:
“1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
…
đ) Kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần hoặc các mặt khác.”.
Như vậy, với hành vi của mình anh A có thể bị xử phạt hành chính.
- Hình phạt chính: phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt là 25.000.000 đồng).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tài sản có được do chiếm giữ trái phép đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật cho chủ sở hữu hợp pháp đối với hành vi vi phạm.
Tình huống số 11:
Bà A, 75 tuổi, là mẹ ruột của anh B. Sau khi chồng mất, bà A tiếp tục sinh sống tại căn nhà do vợ chồng bà tạo lập từ nhiều năm trước. Năm 2024, anh B được mẹ đồng ý cho đứng tên quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở để thuận tiện trong việc quản lý.
Sau một thời gian, do mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình, anh B nhiều lần yêu cầu bà A chuyển đến ở nơi khác để nhường chỗ cho gia đình mình. Mặc dù bà A không có nơi ở nào khác và không đồng ý rời đi, anh B vẫn tự ý thay khóa cửa, chuyển toàn bộ đồ đạc cá nhân của bà A ra ngoài sân và không cho bà vào nhà. Anh B còn tuyên bố nếu bà A quay lại sẽ gọi người đuổi đi. Không còn nơi ở, bà A phải sang nhà người thân ở tạm và trình báo sự việc với cơ quan có thẩm quyền.
Hỏi: Hành vi của anh B có vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ của con như sau:
“2. Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.”.
Đồng thời, các thành viên trong gia đình có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, xây dựng gia đình hòa thuận, tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhau.
Trong tình huống trên, bà A là mẹ ruột của anh B, tuổi đã cao và không có nơi ở khác. Thay vì thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng và bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho mẹ, anh B lại lợi dụng mâu thuẫn gia đình để tự ý thay khóa cửa, chuyển đồ đạc của mẹ ra ngoài và không cho mẹ tiếp tục ở tại nơi ở hợp pháp. Hành vi này không chỉ vi phạm đạo đức, truyền thống hiếu kính cha mẹ mà còn trái với nghĩa vụ của con đối với cha mẹ theo Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tại khoản 1 Điều 45 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định hành vi cưỡng ép thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp trái pháp luật bị xử phạt như sau:
“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cưỡng ép thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp trái pháp luật, trừ trường hợp quy định tại các khoản 2 và 3 Điều này.”.
Như vậy, hành vi cưỡng ép mẹ đẻ ra khỏi chỗ ở hợp pháp là hành vi vi phạm pháp luật, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
- Hình thức phạt chính: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt là 7.500.000 đồng).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực gia đình có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng.
Việc xử phạt đối với hành vi cưỡng ép thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp không chỉ nhằm răn đe người vi phạm mà còn góp phần bảo vệ quyền được sống an toàn, ổn định và được tôn trọng của mỗi thành viên trong gia đình, đặc biệt là người cao tuổi.
Tình huống số 12:
Anh B là hàng xóm của vợ chồng anh D và chị E. Một buổi tối, anh B nghe thấy tiếng la hét, kêu cứu phát ra từ nhà anh D. Khi chạy sang xem, anh B chứng kiến anh D liên tục dùng tay, chân và một thanh gỗ đánh đập chị E một cách tàn nhẫn. Chị E bị thương, nằm gục dưới nền nhà, có dấu hiệu nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng.
Nhận thấy sự việc nghiêm trọng, anh B đã lập tức gọi điện báo cho Công an xã và Ủy ban nhân dân xã. Sau khi tiếp nhận tin báo, lực lượng chức năng kịp thời có mặt, ngăn chặn hành vi bạo lực, đưa chị E đi cấp cứu và xử phạt vi phạm hành chính đối với anh D theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, sau khi biết chính anh B là người đã báo tin cho cơ quan chức năng, anh D vô cùng tức giận. Vài ngày sau, anh D sang nhà anh B, lớn tiếng chửi bới, lăng mạ.
Hỏi: Hành vi của anh D đối với anh B có vi phạm pháp luật hay không? Người phát hiện, báo tin về hành vi bạo lực gia đình có được pháp luật bảo vệ hay không?
Trả lời:
- Theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, khi phát hiện hành vi bạo lực gia đình có nguy cơ gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kịp thời thông báo, tố giác hoặc báo tin cho cơ quan có thẩm quyền để ngăn chặn và bảo vệ người bị bạo lực.
Trong tình huống trên, anh B chứng kiến anh D đánh đập chị E một cách tàn nhẫn, khiến chị E có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng. Việc anh B gọi điện báo cho Công an xã và chính quyền địa phương là hành động đúng pháp luật, góp phần giúp cơ quan chức năng kịp thời can thiệp, ngăn chặn hành vi bạo lực và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của chị E. Đây là trách nhiệm của công dân trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình, đồng thời là hành động cần được khuyến khích và bảo vệ.
Hành vi của anh D không chỉ xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của anh B mà còn cản trở việc thực hiện trách nhiệm của công dân trong việc phòng, chống bạo lực gia đình.
- Với hành vi này anh D có thể bị xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP như sau:
“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
…
b) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người ngăn chặn, phát hiện, báo tin bạo lực gia đình, người giúp đỡ người bị bạo lực gia đình.”.
- Hình phạt chính: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt là 7.500.000 đồng).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc xin lỗi công khai khi người ngăn chặn, phát hiện, báo tin bạo lực gia đình, người giúp đỡ người bị bạo lực gia đình có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng theo điểm b khoản 3 Điều 46 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.
Pháp luật khuyến khích và bảo vệ mọi cá nhân kịp thời phát hiện, báo tin, tố giác hành vi bạo lực gia đình để bảo vệ nạn nhân. Mọi hành vi trả thù, đe dọa hoặc cản trở người báo tin đều bị nghiêm cấm và sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Tình huống số 13:
Anh A và chị B đã ly hôn năm 2022. Theo bản án của Tòa án, chị B được giao trực tiếp nuôi con chung là cháu C (4 tuổi). Sau khi ly hôn, anh A thường xuyên đến thăm con. Tháng 6 năm 2026, khi đến thăm con, thấy chị B đi chơi với một người khác giới, anh A nổi cơn ghen tuông, dùng tay tát vào mặt và dùng chân đá vào bụng chị B. Chị B được người dân đưa đi cấp cứu, kết quả giám định thương tích xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0%.
Hỏi: Hành vi của anh A có được xác định là bạo lực gia đình hay không? Anh A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính như thế nào đối với hành vi dùng tay, chân đánh chị B?
Trả lời:
- Khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định:
“2. Hành vi quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện giữa người đã ly hôn; người chung sống như vợ chồng; người là cha, mẹ, con riêng, anh, chị, em của người đã ly hôn, của người chung sống như vợ chồng; người đã từng có quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi với nhau cũng được xác định là hành vi bạo lực gia đình theo quy định của Chính phủ.”.
Trong đó, điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định:
“1. Hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;”
Theo quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, hành vi đánh đập, hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc cố ý xâm hại đến sức khỏe của thành viên gia đình là hành vi bạo lực gia đình.
- Tại khoản 2 Điều 37 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định:
“2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng thành viên gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.”.
Tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định:
“Điều 7. Xử phạt vi phạm hành chính đối với người đã ly hôn; người chung sống như vợ chồng; người là cha, mẹ, con riêng, anh, chị, em của người đã ly hôn, của người chung sống như vợ chồng; người đã từng có quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi với nhau thực hiện hành vi bạo lực gia đình
1. Các hành vi vi phạm quy định tại Điều 37; Điều 39; các điểm a và c khoản 1, khoản 2 Điều 40; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 41; Điều 45 Nghị định này cũng được áp dụng xử phạt đối với người đã ly hôn.”
Trong tình huống nêu trên, mặc dù anh A và chị B đã ly hôn, nhưng anh A đã nhiều lần có hành vi chửi bới, xúc phạm chị B và dùng vũ lực đối với chị B. Đây là hành vi cố ý xâm hại sức khỏe của người đã từng là vợ của mình, do đó được xác định là hành vi bạo lực gia đình.
Như vậy, đối với hành vi dùng tay, chân đánh chị B, anh A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định về xử phạt hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình.
- Hình thức phạt chính: phạt tiền có thể từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt là 7.500.000 đồng).
- Biện pháp khắc phục hậu quả như buộc chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho chị B (nếu có) và buộc xin lỗi công khai khi chị B có yêu cầu theo quy định tại khoản 5 Điều 37 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.
Tình huống 14:
Tháng 5/2026, Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên tiến hành kiểm tra hoạt động của Trung tâm Tư vấn pháp luật Hòa Bình thuộc một tổ chức chính trị - xã hội. Qua kiểm tra phát hiện trung tâm đã ký hợp đồng lao động với ông Nguyễn Văn A là cử nhân luật để thực hiện công tác tư vấn pháp luật. Ông A không phải là luật sư, không có Chứng chỉ hành nghề luật sư và không hành nghề luật sư với tư cách cá nhân theo quy định của Luật Luật sư.
Trong quá trình hoạt động, Trung tâm Tư vấn pháp luật Hòa Bình đã ban hành quyết định cử ông A tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị B trong một vụ án tranh chấp dân sự theo yêu cầu tư vấn pháp luật của bà B. Hành vi của Trung tâm Tư vấn pháp luật Hòa Bình có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì căn cứ xử phạt, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hành vi vi phạm của Trung tâm Tư vấn pháp luật Hòa Bình sẽ bị xử phạt hành chính như sau:
Trung tâm tư vấn pháp luật Hòa Bình đã cử ông Nguyễn Văn A chỉ là người lao động của trung tâm, không phải là luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho trung tâm theo quy định của pháp luật tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng.
Tại điểm e khoản 2 Điều 11 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định:
“Điều 11. Hành vi vi phạm quy định về hoạt động của trung tâm tư vấn pháp luật, chi nhánh của trung tâm tư vấn pháp luật:
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: … e) Cử người không phải là luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho trung tâm tư vấn pháp luật tham gia tố tụng để bào chữa, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu tư vấn pháp luật;”
- Hình thức phạt chính: Phạt tiền 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Trung tâm tư vấn pháp luật Hòa Bình (áp dụng mức phạt tiền đối với tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Hình thức phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm của Trung tâm tư vấn pháp luật Hòa Bình quy định tại khoản 5 Điều 11 Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
Tình huống 15:
Tháng 6/2026, Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên tiến hành kiểm tra hoạt động của Trung tâm Tư vấn pháp luật Công đoàn A. Theo Giấy đăng ký hoạt động do Sở Tư pháp cấp, trung tâm được phép thực hiện tư vấn pháp luật trong các lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, công đoàn và các chính sách liên quan đến người lao động. Tuy nhiên, qua kiểm tra phát hiện trung tâm đã ký nhiều hợp đồng dịch vụ tư vấn và thực hiện các hoạt động pháp lý trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản, thành lập doanh nghiệp và tư vấn các giao dịch chuyển nhượng dự án thương mại. Các hoạt động này không thuộc phạm vi, lĩnh vực tư vấn pháp luật đã được ghi nhận trong Giấy đăng ký hoạt động của trung tâm. Trung tâm Tư vấn pháp luật Công đoàn A có vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì hành vi vi phạm được xác định như thế nào, căn cứ xử phạt, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng ra sao?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hành vi vi phạm của Trung tâm Tư vấn pháp luật Công đoàn A sẽ bị xử phạt hành chính như sau:
Trung tâm Tư vấn pháp luật Công đoàn A đã thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật về lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản, thành lập doanh nghiệp đây là các linh vực ngoài phạm vi lĩnh vực được ghi trong Giấy đăng ký hoạt động. Do đó, trung tâm đã vi phạm quy định hoạt động không đúng phạm vi theo quy định của pháp luật, không đúng lĩnh vực ghi trong Giấy đăng ký hoạt động.
Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP:
“3. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Hoạt động không đúng phạm vi theo quy định của pháp luật, không đúng lĩnh vực ghi trong giấy đăng ký hoạt động;”
- Hình thức phạt chính: Phạt tiền 8.500.000 đồng đối với Trung tâm Tư vấn pháp luật Công đoàn A (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Hình thức phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm của Trung tâm Tư vấn pháp luật Công đoàn A theo quy định tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP: “5. Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm e khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này.”;
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài bị áp dụng hình thức phạt tiền Trung tâm Tư vấn pháp luật Công đoàn A buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Tình huống 16:
Tháng 6/2026, Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên tiến hành kiểm tra hoạt động của Trung tâm Tư vấn pháp luật B thuộc một tổ chức chính trị - xã hội. Qua kiểm tra, đoàn kiểm tra phát hiện ông Nguyễn Văn A là tư vấn viên pháp luật của trung tâm đang sử dụng Thẻ tư vấn viên pháp luật có dấu hiệu bị chỉnh sửa. Kết quả xác minh cho thấy thời hạn ghi trên thẻ đã bị tẩy xóa, sửa chữa từ ngày hết hạn "31/12/2025" thành "31/12/2028". Ông A sử dụng thẻ đã bị sửa chữa này để thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật, tham gia các buổi làm việc với cơ quan, tổ chức và giới thiệu tư cách tư vấn viên pháp luật với khách hàng. Hành vi của ông Nguyễn Văn A có bị xử phạt vi phạm hành chính hay không? Nếu có thì căn cứ xử phạt, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn A sẽ bị xử phạt hành chính như sau:
Ông Nguyễn Văn A là tư vấn viên pháp luật đang sử dụng Thẻ tư vấn viên pháp luật mà trên thẻ có một số thông tin bị chỉnh sửa về ngày hết hạn và ông sử dụng thẻ sửa chữa này để thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật.
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung thẻ tư vấn viên pháp luật;”
- Hình thức phạt chính: Phạt tiền 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn A (mức phạt áp dụng đối với cá nhân vi phạm theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ);
- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài bị áp dụng mức phạt tiền theo quy định ông Nguyên Văn A còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại thẻ tư vấn viên pháp luật bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung cho cơ quan, người có thẩm quyền đã cấp đối với hành vi vi phạm trên quy định tại điểm c khoản 5 Điều 12 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “c) Buộc nộp lại thẻ tư vấn viên pháp luật bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung cho cơ quan, người có thẩm quyền đã cấp đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.”.
Tình huống 17:
Trung tâm Tư vấn pháp luật A thuộc một tổ chức chính trị - xã hội nhận tư vấn cho ông Nguyễn Văn B trong vụ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Trần Thị C. Trong quá trình giải quyết vụ việc, Trung tâm A đã cử tư vấn viên pháp luật nghiên cứu hồ sơ, tư vấn cho ông B về phương án bảo vệ quyền lợi của mình. Sau đó, do không kiểm tra thông tin khách hàng, Trung tâm A tiếp tục tiếp nhận yêu cầu và cử một tư vấn viên khác của Trung tâm tư vấn cho bà C trong chính vụ tranh chấp nêu trên. Nội dung tư vấn tập trung vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà C, đối lập với quyền lợi của ông B. Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định Trung tâm A đã thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật cho các bên có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ việc. Hành vi của Trung tâm Tư vấn pháp luật A có bị xử phạt không? Mức phạt được áp dụng như nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hành vi vi phạm của Trung tâm Tư vấn pháp luật A sẽ bị xử phạt hành chính như sau:
Trung tâm Tư vấn pháp luật A đã thực hiện hành vi cử tư vấn viên pháp luật nghiên cứu hồ sơ, tư vấn cho khách hàng về phương án bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời cử một tư vấn viên pháp luật khác của Trung tâm tư vấn cho khách hàng trong chính vụ tranh chấp nêu trên. Nội dung tư vấn tập trung vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của 2 khách hàng đối lập với quyền lợi với nhau. Đây là hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động tư vấn pháp luật vì làm ảnh hưởng đến tính khách quan, độc lập và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên được tư vấn.
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 12 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “3. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:… c) Tư vấn pháp luật cho các bên có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ việc;”
- Hình thức phạt chính: Phạt tiền 17.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Công ty Tư vấn pháp luật A (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức có hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Hình thức phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng thẻ tư vấn viên pháp luật, chứng chỉ hành nghề luật sư từ 06 tháng đến 09 tháng đối với 02 tư vấn viên pháp luật của Công ty Tư vấn pháp luật A theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “b) Tước quyền sử dụng thẻ tư vấn viên pháp luật, chứng chỉ hành nghề luật sư từ 06 tháng đến 09 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 3 Điều này;”
Tình huống 18:
Ông Nguyễn Văn H là Trưởng Văn phòng công chứng X tại tỉnh Thái Nguyên. Trong thời gian từ năm 2024 đến 2026, Văn phòng công chứng X có 03 người tập sự hành nghề công chứng là A, B và C. Quá trình chuẩn bị hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên cho A và B, ông H đã ký xác nhận trong giấy tờ: A và B có đủ thời gian tập sự hành nghề công chứng theo quy định; có kết quả tập sự đạt yêu cầu. Đồng thời xác nhận thời gian công tác pháp luật trước đây của A và B phù hợp điều kiện bổ nhiệm.
Tuy nhiên, qua kiểm tra của Sở Tư pháp, xác định: A mới chỉ tập sự được 09 tháng nhưng giấy xác nhận ghi đủ 12 tháng; B không đạt kết quả tập sự nhưng vẫn được xác nhận “đạt yêu cầu”. Thời gian công tác pháp luật của B bị xác nhận sai so với hồ sơ thực tế. Việc xác nhận sai của ông H được sử dụng để làm căn cứ trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên và đăng ký tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng. Hành vi của ông Nguyễn Văn H có vi phạm hành chính không? Hình thức xử phạt chính và xử phạt bổ sung được áp dụng như thế nào?
Trà lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn H sẽ bị xử phạt hành chính như sau:
Ông Nguyễn Văn H đã ký xác nhận cho ông A, bà B có đủ thời gian tập sự hành nghề công chứng theo quy định, có kết quả tập sự đạt yêu cầu. Nhưng trên thực tế ông A và bà B mới chỉ tập sự được 09 tháng và không đạt yêu cầu tập sự.
Căn cứ Luật Công chứng năm 2024 quy định về điều kiện bổ nhiệm công chứng viên, tập sự hành nghề công chứng và trách nhiệm xác nhận hồ sơ;
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 13 Nghị định 109/2026/NĐ-CP:
“2. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Không xác nhận hoặc xác nhận không đúng về thời gian công tác pháp luật, thời gian tập sự, kết quả tập sự hành nghề công chứng để làm căn cứ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên hoặc tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng;”
- Hình thức phạt chính: Phạt tiền 8.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn H (mức phạt áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ);
- Hình thức phạt bổ sung: tịch thu toàn bộ giấy tờ, văn bản đã được ông H xác nhận cho ông A, bà B đủ thời gian tập sự, kết quả tập sự đạt yêu cầu theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “b) Tịch thu tang vật là giấy tờ, văn bản đã được xác nhận không đúng, đã bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này”.
- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài bị áp dụng hình thức phạt tiền Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm mà có theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 13 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này.”
Tình huống 19:
Bà Nguyễn Thị H là cộng tác viên dịch thuật của Văn phòng công chứng A tại tỉnh Thái Nguyên và đã được đăng ký danh sách người phiên dịch theo quy định của pháp luật về công chứng.
Tháng 5/2026, ông Trần Văn M mang Giấy khai sinh bằng tiếng Hàn Quốc đến Văn phòng công chứng A để dịch sang tiếng Việt phục vụ thủ tục đăng ký hộ tịch. Bà H được phân công thực hiện việc dịch thuật. Trong quá trình dịch, bà H đã dịch sai một số nội dung quan trọng của giấy tờ như:
- Dịch sai họ của người mẹ từ “Kim” thành “Lim”;
- Dịch sai địa danh nơi đăng ký khai sinh.
Bản dịch sau đó được sử dụng trong hồ sơ hành chính. Khi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu với bản gốc đã phát hiện các nội dung dịch không chính xác. Qua xác minh, xác định các sai sót trên xuất phát từ lỗi của người dịch. Hành vi của ông Nguyễn Thị H có vi phạm hành chính không? Hình thức xử phạt chính được áp dụng như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hành vi vi phạm của bà Nguyễn Thị H sẽ bị xử phạt hành chính như sau:
Bà H đã thực hiện dịch sai một số nội dung (dịch sai họ của người mẹ, sai địa danh nơi đăng ký khai sinh) từ tiếng Hàn Quốc sang tiếng Việt trong giấy tờ yêu cầu dịch thuật của ông Trần Văn M.
Căn cứ Luật Công chứng năm 2024 quy định người phiên dịch do người yêu cầu công chứng mời và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc phiên dịch của mình;
Điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định: “2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:…b) Dịch không chính xác với giấy tờ, văn bản cần dịch;”
- Hình thức phạt chính: Phạt tiền 12.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà Nguyễn Thị H (mức phạt áp dụng đối với hành vi vi phạm của cá nhân theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Hình thức phạt bổ sung: Buộc Văn phòng công chứng A đang lưu trữ hồ sơ công chứng thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ liên quan về hành vi vi phạm của bà Nguyễn Thị H quy định tại điểm a khoản 6 Điều 14 Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
Tình huống 20:
Công ty TNHH Dịch vụ pháp lý Minh Phát được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, có ngành nghề kinh doanh tư vấn pháp luật, dịch thuật và hỗ trợ thủ tục hành chính. Công ty không phải là Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng. Tuy nhiên, từ tháng 01/2026 đến tháng 5/2026, Công ty Minh Phát đã treo biển hiệu với nội dung: "Nhận công chứng hợp đồng, giao dịch, giấy tờ các loại"; tiếp nhận hồ sơ của người dân, soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho tài sản và thu tiền dịch vụ với danh nghĩa "phí công chứng".
Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định Công ty Minh Phát đã thực hiện hoạt động thuộc phạm vi hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng mặc dù không phải là tổ chức hành nghề công chứng được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Trong thời gian vi phạm, Công ty Minh Phát đã thu được 35.000.000 đồng từ hoạt động này. Hành vi của Công ty TNHH Dịch vụ pháp lý Minh Phát có vi phạm hành chính không? Hình thức xử phạt chính được áp dụng như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hành vi vi phạm của Công ty TNHH Dịch vụ pháp lý Minh Phát sẽ bị xử phạt hành chính như sau:
Công ty TNHH Dịch vụ pháp lý Minh Phát có ngành nghề kinh doanh tư vấn pháp luật, dịch thuật và hỗ trợ thủ tục hành chính nhưng đã thực hiện hành vi treo biển hiệu quảng cáo có nội dung: Nhận công chứng hợp đồng, giao dịch, giấy tờ các loại"; tiếp nhận hồ sơ của người dân, soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho tài sản và thu tiền dịch vụ với danh nghĩa "phí công chứng".
Căn cứ Điều 19 Luật Công chứng năm 2024 tổ chức hành nghề công chứng bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
Tại điểm b khoản 4 Điều 14 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định: “4. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: … b) Không phải là tổ chức hành nghề công chứng mà thực hiện hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng dưới bất kỳ hình thức nào;”
- Hình thức phạt chính: Phạt tiền 70.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Công ty TNHH Dịch vụ pháp lý Minh Phát (mức phạt áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài bị áp dụng hình thức phạt tiền Công ty TNHH Dịch vụ pháp lý Minh Phát còn bị buộc phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do hành vi vi phạm mà có. Cụ thể: nộp lại số tiền 35.000.000 đồng thu được từ hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 6 Điều 14 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “c) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a và điểm b khoản 4 Điều này.”
Tình huống 21:
Ông Nguyễn Văn A là công chứng viên đang hành nghề tại Văn phòng công chứng Hòa Bình, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định của pháp luật về công chứng, công chứng viên có nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hằng năm theo chương trình, thời lượng do cơ quan có thẩm quyền quy định. Năm 2025, Hội công chứng viên tỉnh Thái Nguyên tổ chức 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng cho công chứng viên trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn A chỉ tham gia một 01 lớp bồi dưỡng, không tham gia đầy đủ thời gian bồi dưỡng bắt buộc theo quy định nhưng vẫn tiếp tục hành nghề công chứng. Qua công tác kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định ông Nguyễn Văn A không tham gia đầy đủ nghĩa vụ bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hằng năm theo quy định.Hành vi của ông Nguyễn Văn A có vi phạm hành chính không? Hình thức xử phạt được áp dụng như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi của ông Nguyễn Văn A bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:
Ông Nguyễn Văn A là công chứng viên đang hành nghề tại Văn phòng công chứng Hòa Bình nhưng không tham gia đầy đủ nghĩa vụ bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hằng năm theo quy định của pháp luật về công chứng. Đây là hành vi vi phạm quy định về hoạt động hành nghề công chứng.
Căn cứ Luật Công chứng năm 2024 quy định công chứng viên có nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hằng năm;
Điểm d khoản 1 Điều 16 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định: “1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: … d) Tham gia không đầy đủ nghĩa vụ bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hằng năm theo quy định.”
- Hình thức phạt chính: Phạt tiền 2.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Ông Nguyễn Văn A (mức phạt áp dụng đối với cá nhân vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Hình thức phạt bổ sung: Nghị định 109/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung đối với hành vi vi phạm trên.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Nghị định 109/2026/NĐ-CP không quy định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm trên.
Tình huống 22:
Ông Nguyễn Văn B là công chứng viên của Văn phòng công chứng ND, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 15/3/2026, ông Nguyễn Văn B thực hiện công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị C. Qua kiểm tra hồ sơ công chứng, Sở Tư pháp phát hiện lời chứng của công chứng viên trong hợp đồng có nhiều sai sót như: Ghi không đúng tên giao dịch là "Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất" trong khi thực tế là "Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất", ghi sai thông tin chủ thể tham gia giao dịch, ghi không chính xác thời gian công chứng so với thời gian thực tế ký kết hợp đồng. Các sai sót nêu trên được xác định là do công chứng viên thiếu trách nhiệm trong quá trình kiểm tra và ghi lời chứng. Hành vi của ông Nguyễn Văn A có vi phạm hành chính không? Hình thức xử phạt và biện pháp xử lý được áp dụng như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi của ông Nguyễn Văn B bị xử lý như sau:
Ông Nguyễn Văn B là công chứng viên đã thực hiện hành vi khi thực hiện chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị C, ông B đã ghi lời chứng trong văn bản công chứng không đầy đủ nội dung theo quy định: ghi không chính xác về tên giao dịch; sai thông tin chủ thể giao dịch; sai thời gian hoặc địa điểm công chứng. Đây là hành vi vi phạm quy định về hoạt động hành nghề công chứng.
Căn cứ Luật Công chứng năm 2024 quy định công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của văn bản công chứng và nội dung lời chứng;
Tại điểm e khoản 3 Điều 16 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định: “3. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: … e) Ghi lời chứng trong văn bản công chứng không đầy đủ nội dung theo quy định hoặc không chính xác về tên giao dịch; chủ thể giao dịch; thời gian hoặc địa điểm công chứng;”
- Hình thức xử phạt chính: Ông Nguyễn Văn B (công chứng viên) không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mức phạt trung bình của khung tiền phạt 8.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông B (mức phạt áp dụng đối với cá nhân thực hiện hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
- Hình thức xử phạt bổ sung: Theo quy định tại Điều 16 Nghị định 109/2026/NĐ-CP hành vi vi phạm của ông B không thuộc các trường hợp bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung. Không áp dụng hình thức xử phạt bổ sung.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Theo quy định Điều 16 Nghị định 109/2026/NĐ-CP hành vi vi phạm của ông B không thuộc các trường hợp bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Tình huống 23:
Ông Nguyễn Văn H là công chứng viên đang hành nghề tại Văn phòng công chứng Hà Lan tỉnh Thái Nguyên. Năm 2026, trong quá trình kiểm tra hồ sơ công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh, cơ quan có thẩm quyền phát hiện bản chính Thẻ công chứng viên của ông Nguyễn Văn H có dấu hiệu bị tẩy xóa, sửa chữa thông tin về thời hạn sử dụng của thẻ. Qua xác minh, ông H đã tự ý sửa chữa nội dung trên Thẻ công chứng viên nhằm tiếp tục sử dụng trong hoạt động hành nghề công chứng. Hành vi của ông Nguyễn Văn H có vi phạm hành chính không? Hình thức xử phạt và biện pháp xử lý được áp dụng như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi của ông Nguyễn Văn H bị xử lý như sau:
Ông Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung thẻ công chứng viên của mình nhằm (sửa chữa thông tin về thời hạn sử dụng của thẻ công chứng viên) để tiếp tục sử dụng trong hoạt động hành nghề công chứng. Đây là hành vi vi phạm quy định về hoạt động hành nghề công chứng.
Căn cứ Luật Công chứng năm 2024, công chứng viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc hành nghề của mình;
Tại điểm g khoản 4 Điều 16 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định: “4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: …g) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên hoặc thẻ công chứng viên;”
- Hình thức xử phạt chính: Trong tình huống này, hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn H (cá nhân) không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Mức phạt tiền áp dụng cụ thể như sau: Phạt tiền: 12.5.00.000 đồng (quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
- Hình thức xử phạt bổ sung: Căn cứ điểm d khoản 8 Điều 16 Nghị định 109/2026/NĐ-CP tịch thu tang vật là thẻ công chứng viên bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Căn cứ điểm d khoản 9 Điều 16 Nghị định 109/2026/NĐ-CP không áp dung biện kháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại thẻ công chứng viên bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung cho cơ quan, người có thẩm quyền đã cấp do thẻ đã bị tịch thu theo điểm d khoản 8 Điều 16 Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
Tình huống 24:
Văn phòng công chứng An Bình được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Trong quá trình kiểm tra chuyên ngành năm 2026, Sở Tư pháp phát hiện tại trụ sở Văn phòng công chứng An Bình thực hiện việc niêm yết đầy đủ các nội dung theo quy định. Cụ thể:
- Không niêm yết lịch làm việc của tổ chức hành nghề công chứng;
- Không niêm yết nội quy tiếp người yêu cầu công chứng;
Hành vi của Văn phòng công chứng An Bình có vi phạm hành chính không? Hình thức xử phạt được áp dụng như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi của Văn phòng công chứng An Bình bị xử lý như sau:
Văn phòng công chứng An Bình đã thực hiện hành vi tại trụ sở thực hiện niên yết không đầy đủ các nội dung về lịch làm việc của tổ chức hành nghề công chứn, nội quy tiếp người yêu cầu công chứng mà theo quy định phải thực hiện đầy đủ. Đây là hành vi vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng.
Căn cứ Điều 36 Luật Công chứng năm 2024 quy định nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng trong việc thực hiện niêm yết lịch làm việc, thủ tục công chứng, nội quy tiếp người yêu cầu công chứng, phí công chứng, phí, giá dịch vụ theo yêu cầu liên quan đến việc công chứng và chi phí khác tại trụ sở của tổ chức mình; báo cáo Sở Tư pháp phê duyệt và niêm yết danh sách cộng tác viên dịch thuật của tổ chức mình;
Tại khoản điểm a khoản 1 Điều 17 quy định: “1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Không niêm yết hoặc niêm yết không đầy đủ lịch làm việc; thủ tục công chứng; nội quy tiếp người yêu cầu công chứng; phí công chứng, phí, giá dịch vụ theo yêu cầu liên quan đến việc công chứng và chi phí khác tại trụ sở của tổ chức mình;”
- Hình thức phạt chính: Trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ hành vi vi phạm của Văn phòng công chứng An Bình (tổ chức hành nghề công chứng) bị áp dụng mức phạt tiền: 5.000.000 đồng (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
- Hình thức phạt bổ sung: Điều 17 Nghị định 109/2026/NĐ-CP không quy định hình phạt bổ sung đối với hành vi vi phạm của Văn phòng công chứng An Bình.
- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Điều 17 Nghị định 109/2026/NĐ-CP không quy định biện pháp khắc phục hậu của đối với hành vi vi phạm trên.