12 tình huống tuyên truyền pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 87/2024/NĐ-CP

Thứ hai - 29/06/2026 03:08 5 0
Tình huống 1:
Do ảnh hưởng của mưa lũ, giá nước uống đóng chai trên địa bàn tỉnh X có biến động mạnh. UBND tỉnh đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp bình ổn giá, yêu cầu các cơ sở kinh doanh bán sản phẩm nước uống đóng chai loại 500ml với mức giá không vượt quá 5.000 đồng/chai.
Mặc dù đã được thông báo đầy đủ, cửa hàng tạp hóa của chị H đã giảm giá bán so với thông thường nhưng vẫn bán sản phẩm này với giá 5.500 đồng/chai. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định chị H vẫn thực hiện bán hàng theo chương trình bình ổn giá nhưng áp dụng sai mức giá do cơ quan có thẩm quyền quy định. Sau khi bị nhắc nhở chị H chủ động điều chỉnh lại giá bán đúng theo quy định. Trong trường hợp này, hành vi của chị H có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Trong trường hợp này, chị H vẫn thực hiện việc bán hàng theo chương trình bình ổn giá nhưng áp dụng mức giá cao hơn mức giá tối đa do UBND tỉnh quy định. Hành vi này được xác định là chấp hành không đúng biện pháp bình ổn giá.
Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý giá như sau:
"Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi chấp hành không đúng một trong những biện pháp bình ổn giá do cơ quan có thẩm quyền quy định."
Do đó, trong trường hợp này chị H có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Bên canh đó, theo điểm a khoản 3 Điều 6 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP, chị H bị buộc chấp hành đúng biện pháp bình ổn giá do cơ quan có thẩm quyền quy định trong thời gian áp dụng biện pháp bình ổn giá.
Tình huống 2:
Trước tình trạng giá gạo tăng cao, UBND tỉnh X ban hành quyết định áp dụng biện pháp bình ổn giá đối với mặt hàng gạo tẻ thường và yêu cầu các doanh nghiệp, hộ kinh doanh phải bán theo mức giá đã được cơ quan có thẩm quyền công bố. Mặc dù đã nhận được thông báo, ông M là chủ một đại lý kinh doanh lương thực vẫn không thực hiện bán gạo theo mức giá bình ổn mà tự ý tăng giá bán thêm 30%. Đồng thời, ông M còn cất giữ một lượng lớn gạo trong kho, hạn chế bán ra thị trường nhằm chờ giá tăng để thu lợi nhuận cao hơn. Hành vi của ông M có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP Nghị định số 87/2024/NĐ-CP ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý giá như sau: "Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không chấp hành một trong những biện pháp bình ổn giá do cơ quan có thẩm quyền quy định."
Trong tình huống này, mặc dù đã được cơ quan nhà nước thông báo và yêu cầu thực hiện biện pháp bình ổn giá, ông M vẫn cố tình không thực hiện, tự ý bán hàng với mức giá khác và hạn chế nguồn cung ra thị trường. Hành vi này được xác định là không chấp hành biện pháp bình ổn giá do cơ quan có thẩm quyền quy định.
Do đó, Ông M có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; trường hợp có tình tiết tăng nặng, mức phạt có thể áp dụng gần mức tối đa của khung phạt.
Bên cạnh đó, theo điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP, ông M bị buộc chấp hành các biện pháp bình ổn giá do cơ quan có thẩm quyền quy định trong thời gian thực hiện biện pháp bình ổn giá.
Tình huống 3:
Công ty TNHH C là doanh nghiệp đầu mối kinh doanh mặt hàng thuộc diện có Quỹ bình ổn giá. Theo quy định, định kỳ ngày 05 hằng tháng công ty phải công khai thông tin về tình hình trích lập, sử dụng và số dư Quỹ bình ổn giá trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến ngày 15 của tháng đó, Công ty C vẫn chưa thực hiện việc công khai thông tin mặc dù đã được cơ quan quản lý nhà nước nhắc nhở. Qua kiểm tra xác định doanh nghiệp hoàn toàn có đầy đủ số liệu nhưng cố tình chậm công khai để tránh sự giám sát của khách hàng và cơ quan quản lý.
Hành vi của Công ty C có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Theo điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý giá: "Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi không công khai thông tin về Quỹ bình ổn giá theo quy định của pháp luật sau 05 ngày làm việc kể từ ngày phải công khai."
Trong tình huống này, Công ty TNHH C không thực hiện công khai thông tin về Quỹ bình ổn giá sau thời hạn trên 05 ngày làm việc kể từ ngày phải công khai theo quy định. Do đó, hành vi của Công ty TNHH C thuộc trường hợp vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP: “Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền của tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền của cá nhân.”
Do đó, Công ty TNHH C có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng.
Bên cạnh đó, theo điểm a khoản 6 Điều 7 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP quy định về biện pháp khắc phục thì Công ty TNHH C phải buộc công khai đầy đủ thông tin về Quỹ bình ổn giá theo quy định.
Tình huống 4:
Công ty TNHH X là doanh nghiệp được giao quản lý Quỹ bình ổn giá đối với xăng dầu. Trong quá trình hoạt động, do gặp khó khăn về dòng tiền, Giám đốc công ty đã chỉ đạo bộ phận kế toán sử dụng 3 tỷ đồng từ Quỹ bình ổn giá để thanh toán một số khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp.
Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định số tiền trên không được sử dụng cho hoạt động bình ổn giá theo quy định mà được sử dụng phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Hành vi của Công ty X có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Theo khoản 3 Điều 2 Thông tư số 103/2021/TT-BTC ngày 18 tháng 11 năm 2021 của Bộ Trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn phương thức trích lập, chi sử dụng, quản lý Quỹ bình ổn giá xăng dầu quy định: “không được sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu để cấp vốn kinh doanh hoặc sử dụng cho mục đích khác”.
Theo khoản 5 Điều 7 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP 7 ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý giá: "Phạt tiền từ 120.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng Quỹ bình ổn giá không đúng quy định của pháp luật."
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP: “Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền của tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền của cá nhân.”
Trong trường hợp này, Công ty TNHH X đã sử dụng tiền từ Quỹ bình ổn giá để thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp thay vì phục vụ hoạt động bình ổn giá theo quy định. Đây là hành vi sử dụng Quỹ bình ổn giá không đúng mục đích, không đúng quy định của pháp luật. Do đó, Công ty X có thể bị phạt tiền từ 240.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng.
Về biện pháp khắc phục hậu quả:
Theo điểm đ và điểm e khoản 6 Điều 7 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP, Công ty TNHH X buộc nộp vào Quỹ bình ổn giá toàn bộ số tiền đã sử dụng không đúng mục đích; buộc nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ số lợi bất hợp pháp có được từ việc sử dụng sai mục đích Quỹ bình ổn giá (nếu có).
Như vậy, ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, doanh nghiệp còn phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã sử dụng sai quy định và nộp lại các khoản lợi bất hợp pháp phát sinh từ hành vi vi phạm.
Tình huống 5:
Công ty TNHH A là doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thuộc đối tượng phải thực hiện chế độ báo cáo giá định kỳ theo yêu cầu để phục vụ công tác quản lý, điều tiết giá trên địa bàn. Theo văn bản yêu cầu, chậm nhất ngày 05/6/2026, Công ty A phải gửi báo cáo về tình hình giá bán sản phẩm trong tháng. Tuy nhiên, đến ngày 20/6/2026 (sau 11 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn báo cáo), công ty mới gửi báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần.
Hành vi của Công ty A có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Theo khoản 3 Điều 8 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý giá: "Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này sau 10 ngày làm việc."
Điểm a khoản 1 Điều 8 quy định: "Gửi báo cáo hoặc cung cấp thông tin, tài liệu sau thời hạn theo quy định hoặc sau thời hạn tại văn bản yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền từ 03 ngày làm việc đến 05 ngày làm việc."
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP: “Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền của tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền của cá nhân.”
Trong tình huống này, Công ty TNHH A có trách nhiệm gửi báo cáo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đã không thực hiện đúng thời hạn và chậm trên 10 ngày làm việc.
Do đó, hành vi của Công ty TNHH A thuộc trường hợp vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP và có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Bên cạnh đó, Theo điểm a khoản 4 Điều 8 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP, Công ty TNHH A buộc gửi báo cáo theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, Công ty A còn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ công tác quản lý, điều tiết giá.
Tình huống 6:
Công ty A là doanh nghiệp kinh doanh nước sạch trên địa bàn tỉnh X. Theo quy định và yêu cầu của Sở Tài chính, Công ty A lập phương án giá nước sạch chậm nhất ngày 05/8/2026 và gửi đến Sở Tài chính. Tuy nhiên, đến ngày 22/8/2026, Công ty A mới gửi phương án giá cho Sở Tài chính. Hành vi của Công ty A có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Theo khoản 3 Điều 9 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định:
"Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi gửi hoặc không gửi phương án giá hàng hóa, dịch vụ hoặc báo cáo đánh giá chi tiết về các yếu tố hình thành giá hàng hóa, dịch vụ hoặc cung cấp số liệu, tài liệu có liên quan sau 10 ngày làm việc kể từ ngày phải lập phương án giá theo quy định của pháp luật."
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP: “Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền của tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền của cá nhân.”
Trong trường hợp này, Công ty A đã có hành vi vi phạm quy định về gửi phương án giá hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Tình huống 7:
Bãi giữ xe của Công ty A tại thành phố X là điểm trông giữ xe thuộc diện áp dụng mức giá dịch vụ do UBND tỉnh quy định. Theo quyết định của UBND tỉnh, giá trông giữ xe máy ban ngày là 5.000 đồng/lượt. Tuy nhiên, trong thời gian diễn ra một lễ hội lớn trên địa bàn, Công ty A đã thu của mỗi khách gửi xe máy 10.000 đồng/lượt. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định trong 03 ngày diễn ra lễ hội, Công ty A đã thu cao hơn mức giá quy định đối với hàng nghìn lượt khách.
Hành vi của Công ty A có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Theo điểm a khoản 1 Điều 10 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý giá: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Hành vi bán không đúng mức giá hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá cụ thể”.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP: “Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền của tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền của cá nhân.”
Trong trường hợp này, giá trông giữ xe máy cụ thể đã được UBND tỉnh quy định là 5.000 đồng/lượt, nhưng Công ty A đã thu 10.000 đồng/lượt. Như vậy, Công ty A đã có hành vi bán dịch vụ cao hơn giá tối đa do Nhà nước ban hành.
Do đó, Công ty A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 10 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP, Công ty A bị buộc trả lại cho khách hàng toàn bộ số tiền chênh lệch do bán cao hơn mức giá quy định. Đồng thời, phải thông báo công khai nội dung khắc phục hậu quả trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 30 ngày. Trường hợp không xác định được khách hàng hoặc khách hàng từ chối nhận lại tiền thì phải nộp toàn bộ số tiền chênh lệch vào ngân sách nhà nước.
Tình huống 8:
Công ty TNHH Dịch vụ vận tải Minh Phát là đơn vị quản lý, khai thác Bến xe khách X trên địa bàn tỉnh Y. Theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Y, mức giá tối đa đối với dịch vụ xe ô tô khách ra, vào bến xe là 50.000 đồng/lượt xe.
Tuy nhiên, qua kiểm tra, Đoàn kiểm tra liên ngành phát hiện trong tháng 6/2026, Công ty TNHH Dịch vụ vận tải Minh Phát đã thu của các xe khách ra, vào bến với mức 70.000 đồng/lượt xe, cao hơn 20.000 đồng/lượt xe so với giá tối đa do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành. Tổng số lượt xe đã bị thu cao hơn giá quy định là 200 lượt, số tiền chênh lệch thu vượt là 4.000.000 đồng.
Hỏi: Hành vi của Công ty TNHH Dịch vụ vận tải Minh Phát có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Hành vi của Công ty TNHH Dịch vụ vận tải Minh Phát là hành vi cung cấp dịch vụ với mức giá cao hơn giá tối đa do Nhà nước ban hành.
Điểm d khoản 1 Điều 10 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP quy định: “1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: d) Hành vi bán cao hơn giá tối đa do Nhà nước ban hành;
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP: “Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền của tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền của cá nhân.”
Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP quy định: “Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc trả lại cho khách hàng toàn bộ tiền chênh lệch do bán cao hơn mức giá quy định do hành vi vi phạm gây ra tại điểm a, điểm b và điểm d khoản 1 Điều này.
Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông báo công khai nội dung biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên lên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 30 ngày, trường hợp không xác định được khách hàng hoặc khách hàng từ chối nhận thì nộp toàn bộ số tiền chênh lệch do bán cao hơn mức giá quy định vào ngân sách nhà nước.”
Như vậy, công ty Minh Phát có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc trả lại cho khách hàng toàn bộ tiền chênh lệch do bán cao hơn mức giá quy định do hành vi vi phạm gây ra; thông báo công khai nội dung biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên lên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 30 ngày, trường hợp không xác định được khách hàng hoặc khách hàng từ chối nhận thì nộp toàn bộ số tiền chênh lệch do bán cao hơn mức giá quy định vào ngân sách nhà nước.
Tình huống 9:
Công ty A là đơn vị cung cấp nước sạch cho Khu công nghiệp X. Do phát sinh tranh chấp về giá bán nước sạch giữa Công ty A và các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, Sở Tài chính tỉnh đã tổ chức hiệp thương giá theo quy định của pháp luật.
Kết quả hiệp thương được các bên thống nhất và được ghi nhận tại biên bản hiệp thương giá với mức giá cung cấp nước sạch là 12.000 đồng/m³. Tuy nhiên, sau khi biên bản hiệp thương có hiệu lực, Công ty A vẫn thu của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp với mức giá 13.500 đồng/m³.
Hành vi của Công ty A có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Theo Điều 11 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý giá:
"Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng biên bản ghi nhận kết quả hiệp thương hoặc văn bản xác định mức giá của cơ quan hiệp thương giá."
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP: “Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền của tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền của cá nhân.”
Trong trường hợp này, Công ty A đã có hành vi không thực hiện đúng biên bản ghi nhận kết quả hiệp thương giá và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.
Tình huống 10:
Công ty TNHH A là doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh X, trong đó có 15 mặt hàng thuộc danh mục phải thực hiện kê khai giá theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong đợt điều chỉnh giá bán đầu năm 2026, Công ty TNHH A đã tăng giá đối với toàn bộ 15 mặt hàng nêu trên và đưa mức giá mới vào áp dụng ngay trên thị trường. Tuy nhiên, doanh nghiệp không thực hiện kê khai giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi áp dụng mức giá mới.
Hành vi của Công ty A có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Theo điểm b khoản 2 Điều 12 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý giá:
"Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không đúng giá bán hoặc không kê khai giá từ 11 đến 20 hàng hóa, dịch vụ cụ thể thuộc diện kê khai giá."
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP: “Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền của tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền của cá nhân.”
Trong trường hợp này, Công ty A đã điều chỉnh giá bán đối với 15 mặt hàng thuộc diện kê khai giá nhưng không thực hiện kê khai giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định. Hành vi của Công ty A thuộc trường hợp không kê khai giá từ 11 đến 20 hàng hóa thuộc diện kê khai giá nên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Bên cạnh đó, theo điểm b khoản 3 Điều 12 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP, Công ty TNHH A buộc phải thực hiện kê khai đối với các mức giá thực hiện.
Tình huống 11:
Công ty B kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách tuyến cố định thuộc diện phải thực hiện kê khai giá. Khi thực hiện kê khai giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, doanh nghiệp đã tự lập văn bản kê khai theo mẫu riêng của mình, không sử dụng mẫu kê khai giá theo quy định và cũng không thể hiện đầy đủ một số nội dung bắt buộc trong hồ sơ kê khai.
Hành vi của Công ty B có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 12 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định:
"Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không đủ các nội dung hoặc không đúng mẫu của văn bản kê khai giá."
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP: “Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền của tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền của cá nhân.”
Trong trường hợp này, Công ty B đã sử dụng văn bản kê khai không đúng mẫu và không đầy đủ các nội dung theo quy định. Hành vi này vi phạm quy định về kê khai giá hàng hóa, dịch vụ, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, theo điểm a khoản 3 Điều 12 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP quy định về biện pháp khắc phục hậu quả: "Buộc nộp lại văn bản kê khai đủ các nội dung hoặc đúng mẫu.". Do đó, Công ty B buộc phải lập và gửi lại văn bản kê khai giá đúng mẫu, đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật.
Tình huống 12:
Cửa hàng điện máy A tại phường X đang kinh doanh nhiều mặt hàng gia dụng. Đối với sản phẩm nồi cơm điện nhãn hiệu M, cửa hàng niêm yết giá bán công khai là 1.500.000 đồng/chiếc.
Tuy nhiên, khi khách hàng đến mua, nhân viên cửa hàng thông báo giá bán thực tế là 1.700.000 đồng/chiếc với lý do chi phí vận chuyển tăng. Trong một đợt kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện cửa hàng đã bán 50 chiếc nồi cơm điện với mức giá cao hơn giá niêm yết.
Hành vi của cửa hàng điện máy A có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Theo khoản 2 Điều 13 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định:
"Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi bán cao hơn giá niêm yết hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân định giá, kê khai giá không thuộc khoản 3 Điều này."
Trong trường hợp này, cửa hàng điện máy A đã niêm yết giá bán nồi cơm điện là 1.500.000 đồng/chiếc nhưng thực tế lại bán cho khách hàng với giá 1.700.000 đồng/chiếc. Hành vi này là bán hàng hóa cao hơn giá niêm yết.
Căn cứ khoản 2 Điều 13 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP, cửa hàng điện máy A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, theo điểm b khoản 4 Điều 13 Nghị định số 87/2024/NĐ-CP quy định về biện pháp khắc phục hậu quả: "Buộc trả lại cho khách hàng số tiền đã thu cao hơn giá niêm yết."
Do đó, cửa hàng điện máy A phải hoàn trả cho khách hàng toàn bộ số tiền chênh lệch đã thu vượt so với giá niêm yết. Trường hợp không xác định được khách hàng hoặc khách hàng từ chối nhận lại tiền thì phải nộp toàn bộ số tiền chênh lệch vào ngân sách nhà nước theo quy định.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn biết tới Cổng thông tin PBGDPL Thái Nguyên qua đâu ?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập598
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm595
  • Hôm nay52,007
  • Tháng hiện tại185,153
  • Tổng lượt truy cập35,219,108
Làm bài thi
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây