07 tình huống tuyên truyền pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 146/2026/NĐ-CP

Thứ hai - 29/06/2026 05:22 4 0
Tình huống 1:
Ông Tuấn là chủ rừng sản xuất là rừng trồng thuộc sở hữu toàn dân. Thấy một số cây keo đã đến tuổi khai thác, ông Tuấn nghĩ rằng mình là chủ rừng, cây cũng không phải gỗ quý nên tự ý mang cưa vào chặt một số cây để bán lấy tiền.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng xác định ông Tuấn đã khai thác trái pháp luật 0,7 m³ gỗ keo là gỗ thông thường trong rừng sản xuất, khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án khai thác. Hỏi, hành vi của ông Tuấn có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định số 146/2026/NĐ-CP ngày 06/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/6/2026 quy định hành vi khai thác lâm sản trong rừng trồng thuộc sở hữu toàn dân khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án khai thác hoặc ngoài diện tích khai thác được phê duyệt, bị xử phạt như sau:
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:
a) Rừng sản xuất từ 0,4 m³ đến dưới 01 m³ gỗ thông thường hoặc từ 0,3 m³ đến dưới 0,7 m³ gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
Tại khoản 13, 14 Điều 15 Nghị định số 146/2026/NĐ-CP quy định:
13. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều này;
b) Tịch thu phương tiện giao thông thô sơ đường bộ và các dụng cụ, công cụ được sử dụng để thực hiện các hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều này;
...
14. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều này;
b) Buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với trường hợp tang vật, phương tiện tịch thu bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.
Căn cứ quy định trên, ông Tuấn đã tự ý khai thác 0,7 m³ gỗ thông thường trong rừng sản xuất là rừng trồng thuộc sở hữu toàn dân, khi chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án khai thác là hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, ông Tuấn có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài việc bị phạt tiền, số gỗ khai thác trái pháp luật và dụng cụ, công cụ sử dụng để vi phạm sẽ bị tịch thu theo quy định. Trường hợp ông Tuấn có thu lợi bất hợp pháp từ việc bán gỗ thì còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp đó; buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm nếu đã tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy tang vật, phương tiện trái quy định của pháp luật.
Như vậy, dù là gỗ rừng trồng, không phải gỗ quý, người dân vẫn không được tự ý khai thác khi chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án khai thác. Mọi hoạt động chặt cây, lấy gỗ trong rừng trồng thuộc sở hữu toàn dân phải thực hiện đúng quy định pháp luật.
Tình huống 2:
Ông Lợi là chủ khu rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Thấy trong rừng có một số cây gỗ bạch đàn đã lớn, ông Lợi nghĩ rằng chỉ chặt những cây nhỏ về xẻ ván sửa lại căn bếp cũ của gia đình thì không ảnh hưởng nhiều đến rừng. Vì vậy, ông Lợi mang cưa vào rừng tự ý chặt cây, cắt khúc và kéo gỗ ra khỏi rừng.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng xác định ông Lợi đã khai thác trái pháp luật 0,8 m³ gỗ bạch đàn trong rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Hỏi, hành vi của ông Lợi có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Hành vi của ông Lợi là hành vi khai thác rừng tự nhiên trái pháp luật.
Khoản 3 Điều 16 Nghị định số 146/2026/NĐ-CP ngày 06/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/6/2026 quy định hành vi khai thác lâm sản trong rừng tự nhiên khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án khai thác hoặc ngoài diện tích khai thác được phê duyệt, bị xử phạt như sau:
3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:
a) Rừng sản xuất từ 0,5 m³ đến dưới 01 m³ gỗ thông thường hoặc từ 0,3 m³ đến dưới 0,5 m³ gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
Khoản 13, 14 Điều 16 Nghị định số 146/2026/NĐ-CP quy định:
13. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều này;
b) Tịch thu phương tiện giao thông thô sơ đường bộ và các dụng cụ, công cụ được sử dụng để thực hiện các hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều này;

14. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều này;
b) Buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với trường hợp tang vật, phương tiện tịch thu bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.
Căn cứ quy định trên, ông Lợi đã tự ý khai thác 0,8 m³ gỗ bạch đàn trong rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Khối lượng gỗ này thuộc trường hợp “rừng sản xuất từ 0,5 m³ đến dưới 01 m³ gỗ thông thường”, nên ông Lợi có thể bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Ngoài việc bị phạt tiền, số gỗ khai thác trái pháp luật và dụng cụ, công cụ sử dụng để vi phạm có thể bị tịch thu theo quy định. Trường hợp ông Lợi có thu lợi bất hợp pháp từ hành vi vi phạm thì còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp đó; buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm nếu đã tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy tang vật, phương tiện trái quy định của pháp luật.
Như vậy, dù khai thác gỗ để sử dụng trong gia đình, không nhằm mục đích mua bán, ông Lợi vẫn vi phạm pháp luật. Rừng tự nhiên có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường, giữ nguồn nước, phòng chống sạt lở và bảo tồn đa dạng sinh học; vì vậy, người dân tuyệt đối không được tự ý chặt cây, lấy gỗ, tận thu lâm sản trong rừng tự nhiên khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Tình huống 3:
Ông H là chủ cơ sở kinh doanh cây giống lâm nghiệp tại xã X. Vào đầu mùa trồng rừng, cơ sở của ông H nhập một lô cây giống keo để bán cho người dân trên địa bàn. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện lô cây giống này thuộc loài cây trồng lâm nghiệp chính nhưng không bảo đảm chất lượng theo quy định.
Giá trị lô giống cây trồng lâm nghiệp vi phạm được xác định là 15.000.000 đồng. Ông H trình bày rằng do nhu cầu mua cây giống tăng cao, cơ sở đã nhập giống từ nguồn quen biết, chưa kiểm tra kỹ chất lượng trước khi bán ra thị trường.
Hỏi: Hành vi của ông H có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Hành vi của ông H là hành vi sản xuất, kinh doanh giống của loài cây trồng lâm nghiệp chính không bảo đảm chất lượng theo quy định.
Điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 17 Nghị định 146/2026/NĐ-CP ngày 06/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/6/2026 quy định:
4. Sản xuất, kinh doanh giống của loài cây trồng lâm nghiệp chính không bảo đảm chất lượng theo quy định, bị xử phạt như sau:

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với lô giống cây trồng lâm nghiệp trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng;
5. Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc tiêu hủy lô giống cây trồng lâm nghiệp đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 và khoản 4 Điều này.
Như vậy, hành vi của ông H có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Ngoài hình thức phạt tiền, ông H còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy lô giống cây trồng lâm nghiệp không bảo đảm chất lượng theo quy định.
Tình huống 4:
Công ty TNHH Lâm nghiệp Minh Sơn được giao quản lý, sử dụng diện tích rừng sản xuất tại xã X. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép khai thác rừng trồng trên diện tích 10 ha, công ty có trách nhiệm thực hiện trồng lại rừng theo đúng thời hạn quy định.
Tuy nhiên, qua kiểm tra thực tế, cơ quan chức năng phát hiện đã quá thời hạn phải trồng lại rừng nhưng Công ty TNHH Lâm nghiệp Minh Sơn vẫn chưa thực hiện việc trồng rừng trên diện tích đã khai thác. Diện tích chậm trồng rừng được xác định là 10 ha; thời gian chậm trồng rừng là 01 năm 06 tháng so với thời hạn phải trồng rừng theo quy định.
Đại diện công ty cho rằng do khó khăn về nguồn giống và nhân công nên chưa kịp triển khai trồng lại rừng. Tuy nhiên, việc chậm trồng rừng đã ảnh hưởng đến kế hoạch phục hồi, phát triển rừng và việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp tại địa phương.
Hỏi: Hành vi của Công ty TNHH Lâm nghiệp Minh Sơn có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi của Công ty TNHH Lâm nghiệp Minh Sơn là hành vi chậm trồng rừng thay thế. Tại điểm a khoản 3 và khoản 9 Điều 18 Nghị định 146/2026/NĐ-CP ngày 06/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/6/2026 quy định:
Hành vi vi phạm quy định về chậm trồng rừng thay thế theo phương án hoặc kế hoạch trồng rừng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc chậm trồng lại rừng sau khi tạm sử dụng rừng theo phương án tạm sử dụng rừng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bị xử phạt như sau:

3. Chậm trồng rừng diện tích từ 05 ha đến dưới 15 ha:
a) Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 01 năm đến dưới 02 năm;

9. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc trồng lại rừng ngay trong vụ trồng rừng kế tiếp nhưng không quá 12 tháng tính từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này.”
Tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị định 146/2026/NĐ-CP quy định:
“1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, tổ chức, cá nhân phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này được xác định như sau:
a) Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức áp dụng đối với cá nhân;
b) Đối với tổ chức có hành vi vi phạm hành chính cùng loại và cùng mức độ với cá nhân thì bị phạt tiền gấp hai lần mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 27;”
Trong tình huống trên, Công ty TNHH Lâm nghiệp Minh Sơn chậm trồng rừng trên diện tích 10 ha, thuộc trường hợp từ 05 ha đến dưới 15 ha; thời gian chậm trồng rừng là 01 năm 06 tháng, thuộc trường hợp từ 01 năm đến dưới 02 năm. Vì vậy, công ty có thể bị phạt tiền từ 140.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng. Ngoài hình thức phạt tiền, công ty còn phải buộc trồng lại rừng ngay trong vụ trồng rừng kế tiếp nhưng không quá 12 tháng tính từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. 
Tình huống 5:
Công ty TNHH Lâm nghiệp Bình Minh được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ diện tích rừng sản xuất tại xã A. Hằng năm, trước mùa khô, UBND xã và cơ quan kiểm lâm địa bàn đều có văn bản yêu cầu chủ rừng chủ động thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng theo quy định.
Tuy nhiên, qua kiểm tra thực tế, cơ quan chức năng phát hiện Công ty TNHH Lâm nghiệp Bình Minh chưa thành lập tổ, đội phòng cháy và chữa cháy rừng; không phân công người phụ trách, không xây dựng lịch trực, không duy trì lực lượng sẵn sàng tham gia chữa cháy rừng khi có tình huống xảy ra. Khi được yêu cầu cung cấp hồ sơ, đại diện công ty chỉ xuất trình được phương án bảo vệ rừng chung, chưa có quyết định thành lập tổ, đội phòng cháy và chữa cháy rừng theo quy định.
Đại diện công ty cho rằng diện tích rừng do công ty quản lý chưa từng xảy ra cháy nên chưa chú trọng việc thành lập và duy trì hoạt động của tổ, đội phòng cháy và chữa cháy rừng. Tuy nhiên, việc không tổ chức lực lượng phòng cháy và chữa cháy rừng có thể làm giảm khả năng phát hiện, xử lý kịp thời khi xảy ra cháy rừng, nhất là trong thời điểm nắng nóng, hanh khô.
Hỏi: Hành vi của Công ty TNHH Lâm nghiệp Bình Minh có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi của Công ty TNHH Lâm nghiệp Bình Minh là hành vi vi phạm quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng.
Tại điểm a khoản 5 Điều 19 Nghị định 146/2026/NĐ-CP ngày 06/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/6/2026 quy định: “5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: a) Chủ rừng không thành lập tổ, quản lý và duy trì hoạt động của tổ, đội phòng cháy và chữa cháy rừng;
Tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị định 146/2026/NĐ-CP quy định:
“1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, tổ chức, cá nhân phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này được xác định như sau:
a) Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức áp dụng đối với cá nhân;
b) Đối với tổ chức có hành vi vi phạm hành chính cùng loại và cùng mức độ với cá nhân thì bị phạt tiền gấp hai lần mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 27;”
Như vậy, Công ty TNHH Lâm nghiệp Bình Minh là chủ rừng nhưng không thành lập, quản lý và duy trì hoạt động của tổ, đội phòng cháy và chữa cháy rừng nên có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Tình huống 6:
Ông K là chủ rừng được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ và sử dụng diện tích rừng trồng tại xã B. Trong quá trình kiểm tra rừng, ông K phát hiện một số khoảnh rừng keo có dấu hiệu bị sâu bệnh gây hại, lá cây bị vàng, khô ngọn và nhiều cây sinh trưởng kém. Mặc dù đã phát hiện có sinh vật gây hại rừng trên diện tích rừng được giao quản lý, nhưng ông K không báo cho cơ quan có thẩm quyền để được hướng dẫn và hỗ trợ các biện pháp phòng trừ, khoanh vùng kịp thời. Ông K tự ý thuê người phun thuốc cục bộ, không lập biên bản theo dõi, không khoanh vùng khu vực bị hại và cũng không thông tin cho kiểm lâm địa bàn hoặc UBND xã.
Sau một thời gian, sinh vật gây hại rừng tiếp tục lây lan, phát dịch trên diện tích 06 ha rừng trồng. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định việc ông K không kịp thời báo cáo đã làm chậm quá trình khoanh vùng, phòng trừ, khiến sinh vật gây hại rừng phát dịch trên diện tích từ 05 ha trở lên.
Hỏi: Hành vi của ông K có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi của ông K là hành vi vi phạm quy định về phòng trừ sinh vật hại rừng.
Tại khoản 3, khoản 4 Điều 21 Nghị định 146/2026/NĐ-CP ngày 06/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/6/2026 quy định:
3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với chủ rừng khi phát hiện có sinh vật gây hại rừng trên diện tích rừng được giao, được thuê mà không báo cho cơ quan có thẩm quyền để được hướng dẫn và hỗ trợ các biện pháp phòng trừ, khoanh vùng kịp thời làm sinh vật gây hại rừng phát dịch trên diện tích từ 05 ha trở lên.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
Trong tình huống trên, ông K là chủ rừng, đã phát hiện sinh vật gây hại rừng nhưng không báo cho cơ quan có thẩm quyền. Hậu quả là sinh vật gây hại rừng phát dịch trên diện tích 06 ha, thuộc trường hợp từ 05 ha trở lên. Vì vậy, ông K có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Ngoài việc bị xử phạt, ông K buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh đối với hành vi vi phạm của mình.
Tình huống 7:
Ông M là người dân sinh sống tại xã C. Gần khu vực gia đình ông đang canh tác có một diện tích rừng tự nhiên là rừng sản xuất do cộng đồng dân cư thôn quản lý, bảo vệ. Đây là diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng.
Do muốn mở rộng diện tích trồng hoa màu, ông M đã tự ý mang dao phát, máy cắt vào khu vực này để chặt phá cây rừng, phát dọn thực bì mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Qua kiểm tra thực tế, cơ quan chức năng xác định diện tích rừng tự nhiên bị phá là 4.500 m².
Ông M trình bày rằng nghĩ khu vực này ít cây gỗ lớn nên có thể tận dụng để sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, việc tự ý chặt phá rừng tự nhiên đã làm thiệt hại đến tài nguyên rừng, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Hỏi: Hành vi của ông M có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Hành vi của ông M là hành vi phá rừng, vi phạm quy định của pháp luật về bảo vệ rừng.
Tại điểm a khoản 2, khoản 14 Điều 23 Nghị định 146/2026/NĐ-CP ngày 06/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/6/2026 quy định:
“Hành vi chặt, đốt, phá cây rừng, đào, bới, san ủi, nổ mìn; đắp đập, ngăn dòng chảy tự nhiên, xả chất độc hoặc các hành vi khác gây thiệt hại đến rừng thuộc sở hữu toàn dân với bất kỳ mục đích gì (trừ hành vi quy định tại Điều 15, Điều 16 Nghị định này) mà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị xử phạt như sau:

2. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:
a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 3.000 m2 đến dưới 6.000 m2;
14. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều này bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi đào, bới, san ủi, nổ mìn, đắp đập, ngăn dòng chảy tự nhiên gây thiệt hại đến rừng;
b) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh áp dụng đối với hành vi xả chất độc gây thiệt hại đến rừng;
c) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính;
d) Buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với trường hợp tang vật, phương tiện tịch thu bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật;
đ) Buộc trồng lại rừng ngay trong vụ trồng rừng kế tiếp nhưng không quá 12 tháng tính từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.”
Tại khoản 15 Điều 23 Nghị định 146/2026/NĐ-CP quy định: “15. Mức phạt hành vi phá rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều này áp dụng đối với rừng trồng. Trường hợp phá rừng tự nhiên là rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì áp dụng mức phạt bằng hai lần đối với hành vi tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều này.
Trong tình huống trên, ông M phá 4.500 m² rừng tự nhiên là rừng sản xuất, thuộc diện tích từ 3.000 m² đến dưới 6.000 m². Do đó, mức phạt được xác định bằng 02 lần mức phạt tại điểm a khoản 2 Điều 23, tức là từ 14.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về biện pháp khắc phục hậu quả, ông M bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính (nếu có); buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với trường hợp tang vật, phương tiện tịch thu bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật; buộc trồng lại rừng ngay trong vụ trồng rừng kế tiếp nhưng không quá 12 tháng tính từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn biết tới Cổng thông tin PBGDPL Thái Nguyên qua đâu ?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập558
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm555
  • Hôm nay51,828
  • Tháng hiện tại184,974
  • Tổng lượt truy cập35,218,929
Làm bài thi
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây