Tình huống 1
UBND xã X tổ chức lập quy hoạch chi tiết một khu dân cư mới. Trong hồ sơ quy hoạch, đơn vị tư vấn đã bố trí hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước sinh hoạt và các công trình hạ tầng kỹ thuật khác. Tuy nhiên, hồ sơ không thể hiện nguồn nước phục vụ chữa cháy, khoảng trống và đường cho xe chữa cháy hoạt động.
Trong quá trình thẩm định, cơ quan chuyên môn yêu cầu bổ sung các nội dung về phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật. Đơn vị tư vấn cho rằng các hạng mục này sẽ được xác định và đầu tư khi triển khai dự án xây dựng nên chưa cần thể hiện trong quy hoạch chi tiết, đồng thời đề nghị tiếp tục trình hồ sơ để bảo đảm tiến độ thực hiện dự án.
Hỏi: Trong tình huống này, cơ quan thẩm định giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 15 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Quy hoạch chi tiết đô thị, khu dân cư, cụm công nghiệp và các khu chức năng phải có:
a) Đường bộ, bãi đỗ, khoảng trống bảo đảm cho xe chữa cháy và phương tiện chữa cháy cơ giới triển khai hoạt động;
b) Nguồn nước chữa cháy từ bồn, bể, ao, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo hoặc hệ thống cấp nước chữa cháy ngoài nhà;
c) Nguồn điện phục vụ hoạt động phòng cháy, chữa cháy;
d) Địa điểm cho đơn vị phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ..."
Đối với tình huống trên, việc không bố trí nguồn nước chữa cháy, khoảng trống và đường cho xe chữa cháy hoạt động trong hồ sơ quy hoạch là chưa đáp ứng yêu cầu của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy. Quan điểm của đơn vị tư vấn cho rằng các hạng mục này sẽ được bổ sung ở giai đoạn triển khai dự án là không phù hợp, bởi các yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy phải được xác định ngay từ giai đoạn lập quy hoạch để bảo đảm bố trí quỹ đất và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.
Do đó, cơ quan thẩm định phải yêu cầu đơn vị lập quy hoạch bổ sung đầy đủ các nội dung về phòng cháy, chữa cháy theo quy định trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt. Chỉ khi hồ sơ quy hoạch đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo khoản 3 Điều 15 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 thì mới đủ điều kiện để trình phê duyệt.
Tình huống 2:
Tại xã D, sau khi ghi nhận một số ca mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A (các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm), cơ quan y tế xác định anh M là người tiếp xúc gần với người mắc bệnh. Căn cứ kết quả điều tra dịch tễ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ban hành quyết định cách ly y tế tại nhà đối với anh M trong thời gian theo quy định.
Tuy nhiên, anh M cho rằng bản thân vẫn khỏe mạnh, không có biểu hiện mắc bệnh nên tự ý rời khỏi nơi cách ly để đi làm và gặp gỡ nhiều người.
Hỏi: Anh M có phải thực hiện quyết định cách ly y tế theo quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 hay không?
Trả lời:
Có. Anh M có trách nhiệm chấp hành quyết định cách ly y tế theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 19 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
"Điều 19. Cách ly y tế
1. Người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người tiếp xúc với tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A và một số bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B phải được cách ly y tế theo quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền."
Trong tình huống trên, anh M được cơ quan y tế xác định là người tiếp xúc với tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A và đã có quyết định cách ly y tế của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, anh M thuộc trường hợp bắt buộc phải thực hiện cách ly y tế theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Phòng bệnh.
Vì vậy, việc anh M tự ý rời khỏi nơi cách ly là không đúng quy định của pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, anh M có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 3:
Chị H là người nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B (các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm) và được cơ quan y tế quyết định áp dụng biện pháp cách ly y tế tại nhà. Tuy nhiên, chị H cho rằng cách ly chỉ được thực hiện tại bệnh viện nên không đồng ý chấp hành quyết định cách ly tại nhà.
Hỏi: Pháp luật có quy định cách ly y tế chỉ được thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hay không?
Trả lời:
Theo khoản 2 Điều 19 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
"2. Hình thức cách ly y tế bao gồm cách ly tại nhà, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cửa khẩu, các cơ sở, địa điểm khác."
Trong tình huống trên, cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng hình thức cách ly y tế tại nhà đối với chị H. Đây là một trong các hình thức cách ly y tế được Luật Phòng bệnh quy định.
Vì vậy, chị H có trách nhiệm chấp hành quyết định cách ly tại nhà của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp không chấp hành, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chị H có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 4:
Chị N có con trai 18 tháng tuổi thuộc độ tuổi được tiêm vắc xin trong Chương trình tiêm chủng mở rộng. Khi đến Trạm Y tế xã, chị N cho rằng chỉ trẻ em ở thành phố mới được ưu tiên tiêm vắc xin miễn phí, còn trẻ em ở địa phương mình phải tự mua vắc xin nên không đăng ký cho con tiêm.
Hỏi: Con của chị N có quyền được sử dụng và được bảo đảm công bằng trong tiếp cận vắc xin theo quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 hay không?
Trả lời:
Con của chị N có quyền được sử dụng và được bảo đảm công bằng trong tiếp cận vắc xin theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 21 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
"Điều 21. Sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong phòng bệnh
1. Người dân có quyền được sử dụng và được bảo đảm công bằng trong tiếp cận vắc xin, sinh phẩm theo lứa tuổi, đối tượng trong suốt vòng đời để bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng."
Trong tình huống trên, con của chị N thuộc đối tượng được tiếp cận vắc xin theo quy định. Pháp luật bảo đảm mọi người dân đều có quyền được sử dụng và được tiếp cận công bằng với vắc xin, sinh phẩm theo lứa tuổi và đối tượng, không phân biệt nơi cư trú hay điều kiện kinh tế khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Vì vậy, chị N nên đưa con đến cơ sở y tế để được tư vấn và sử dụng vắc xin theo quy định nhằm bảo vệ sức khỏe của trẻ và góp phần phòng, chống dịch bệnh trong cộng đồng.
Tình huống 5:
Ông H được bác sĩ chẩn đoán mắc rối loạn tâm thần và hiện đang sinh sống cùng gia đình tại xã X. Sau khi điều trị ổn định, Trạm Y tế xã đưa ông H vào danh sách quản lý tại cộng đồng, định kỳ theo dõi sức khỏe, tư vấn cho gia đình cách chăm sóc, nhắc lịch tái khám và hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa tái phát bệnh. Tuy nhiên, người nhà ông H cho rằng khi đã xuất viện thì cơ quan y tế không còn trách nhiệm quản lý, theo dõi sức khỏe của ông H.
Hỏi: Người mắc rối loạn tâm thần tại cộng đồng có được quản lý, tư vấn và dự phòng tái phát theo quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 hay không?
Trả lời:
Người mắc rối loạn tâm thần tại cộng đồng được quản lý, tư vấn và dự phòng tái phát theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 32 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
"Điều 32. Quản lý, chăm sóc y tế, xã hội cho người mắc rối loạn tâm thần tại cộng đồng
1. Người mắc rối loạn tâm thần tại cộng đồng được tư vấn, quản lý, kiểm soát các yếu tố tăng nặng bệnh, dự phòng các biến chứng nguy hiểm và tái phát."
Trong tình huống trên, ông H là người mắc rối loạn tâm thần đang sinh sống tại cộng đồng nên được cơ sở y tế thực hiện việc tư vấn, quản lý, theo dõi sức khỏe và hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa tái phát theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, việc Trạm Y tế xã quản lý, theo dõi và tư vấn cho ông H là phù hợp với quy định của Luật Phòng bệnh.
Tình huống 6:
Chị M mắc rối loạn tâm thần và đang sinh sống tại địa phương. Sau khi điều trị ổn định, chị M có nhu cầu được tư vấn tâm lý, hướng dẫn phục hồi chức năng và hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ trợ giúp xã hội. Tuy nhiên, gia đình cho rằng người mắc rối loạn tâm thần chỉ được khám, chữa bệnh tại bệnh viện, không được hỗ trợ các dịch vụ chăm sóc xã hội.
Hỏi: Người mắc rối loạn tâm thần có được cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, xã hội theo quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 hay không?
Trả lời:
Có. Người mắc rối loạn tâm thần được cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, xã hội phù hợp theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 2 Điều 32 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
"Điều 32. Quản lý, chăm sóc y tế, xã hội cho người mắc rối loạn tâm thần tại cộng đồng
2. Người mắc rối loạn tâm thần được cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, xã hội phù hợp."
Trong tình huống trên, chị M là người mắc rối loạn tâm thần nên ngoài việc được khám, chữa bệnh còn được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế và chăm sóc xã hội phù hợp với tình trạng bệnh và nhu cầu thực tế theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, gia đình chị M cần phối hợp với cơ sở y tế và các cơ quan có liên quan để chị M được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ chăm sóc y tế, xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng.
Tình huống 7:
Trên địa bàn phường B xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm, cơ quan y tế phải triển khai nhiều hoạt động như giám sát dịch bệnh, mua sắm vật tư y tế, hóa chất khử khuẩn và tổ chức tiêm chủng phòng bệnh. Một số người dân cho rằng toàn bộ kinh phí cho công tác phòng bệnh chỉ được bảo đảm từ ngân sách nhà nước, không được huy động từ nguồn kinh phí khác.
Hỏi: Kinh phí cho công tác phòng bệnh có chỉ được bảo đảm từ ngân sách nhà nước hay không?
Trả lời:
Không. Kinh phí cho công tác phòng bệnh được bảo đảm từ nhiều nguồn theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 41 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
"Điều 41. Nguồn kinh phí cho công tác phòng bệnh
1. Các nguồn kinh phí cho công tác phòng bệnh bao gồm:
a) Ngân sách nhà nước;
b) Quỹ phòng bệnh."
Trong tình huống trên, việc cho rằng kinh phí cho công tác phòng bệnh chỉ được bảo đảm từ ngân sách nhà nước là chưa đúng với quy định của pháp luật. Ngoài nguồn ngân sách nhà nước, công tác phòng bệnh còn được bảo đảm từ Quỹ phòng bệnh theo quy định của Luật.
Vì vậy, việc sử dụng các nguồn kinh phí nêu trên để phục vụ công tác phòng bệnh là phù hợp với quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025.
Tình huống 8:
Trên địa bàn tỉnh Y bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm, số lượng người mắc bệnh tăng nhanh khiến nhu cầu sử dụng thuốc, hóa chất khử khuẩn và thiết bị y tế tăng cao. Một số người dân cho rằng khi xảy ra dịch bệnh, Nhà nước sẽ phải mua sắm các loại thuốc, hóa chất và thiết bị y tế theo từng thời điểm, không có nguồn dự trữ sẵn để ứng phó.
Hỏi: Nhà nước có thực hiện dự trữ quốc gia về thuốc, hóa chất và thiết bị y tế để phòng, chống dịch bệnh theo quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 hay không?
Trả lời:
Nhà nước thực hiện việc dự trữ quốc gia về thuốc, hóa chất và thiết bị y tế để phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 42 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
"Điều 42. Dự trữ quốc gia cho phòng, chống dịch bệnh
1. Nhà nước thực hiện việc dự trữ quốc gia về thuốc, hóa chất, thiết bị y tế để phòng, chống dịch bệnh."
Trong tình huống trên, việc cho rằng Nhà nước không có nguồn dự trữ mà chỉ mua sắm thuốc, hóa chất và thiết bị y tế khi dịch bệnh xảy ra là không đúng với quy định của pháp luật. Để chủ động ứng phó với dịch bệnh, Nhà nước thực hiện dự trữ quốc gia về thuốc, hóa chất và thiết bị y tế nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu phòng, chống dịch, bảo vệ sức khỏe Nhân dân.
Vì vậy, khi xảy ra dịch bệnh, Nhà nước có trách nhiệm sử dụng nguồn dự trữ quốc gia theo quy định để phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh.