07 tình huống tuyên truyền pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 109/2026/NĐ-CP
Lê Thị Minh Hiếu
2026-07-07T20:56:56-04:00
2026-07-07T20:56:56-04:00
https://pbgdplthainguyen.gov.vn/de-cuong-tuyen-truyen/07-tinh-huong-tuyen-truyen-phap-luat-ve-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh-theo-quy-dinh-tai-nghi-dinh-so-109-2026-nd-cp-955.html
https://pbgdplthainguyen.gov.vn/uploads/tai-lieu-tuyen-truyen/2026_07/bia-th-xlvphc.jpg
Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Cổng thông tin điện tử Phổ biến giáo dục pháp luật
https://pbgdplthainguyen.gov.vn/uploads/botuphap.png
Tình huống 1:
Ông Nguyễn Văn A có tranh chấp hợp đồng vay tài sản với một cá nhân khác nên đến ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với Văn phòng luật sư X để được tư vấn và tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Luật sư Trần Văn B thuộc Văn phòng luật sư X trực tiếp tiếp nhận vụ việc. Trong quá trình ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý, luật sư B chỉ trao đổi về mức thù lao, chi phí dịch vụ và thời gian giải quyết vụ việc mà không thông báo cho ông A biết đầy đủ các nội dung về:
- Quyền của khách hàng trong quá trình sử dụng dịch vụ pháp lý; Nghĩa vụ của khách hàng trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ;
- Quyền và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư khi thực hiện dịch vụ pháp lý.
Sau đó, do không hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, ông A cho rằng luật sư B phải tự thu thập toàn bộ chứng cứ và chịu trách nhiệm về kết quả giải quyết vụ án. Khi vụ việc không đạt kết quả như kỳ vọng, ông A khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền. Hành vi của luật sư Trần Văn B có vi phạm quy định tại Nghị định số 109/2026/NĐ-CP? Bị áp dụng mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả như thế nào?
Trả lời: Theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã., hành vi vi phạm trên có thể bị xử lý như sau:
Luật sư Trần Văn B đã thực hiện hành vi không thông báo cho ông A biết quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình sử dụng dịch vụ pháp lý, việc cung cấp tài liệu, chứng cứ; quyền và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư B cho ông A khi thực hiện dịch vụ pháp lý.
Điểm e khoản 3 Điều 8 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: “3. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: … e) Không thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý.”
- Hình thức phạt chính: Trong tình huống này, nếu không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, luật sư B có thể bị phạt 8.500.000 đồng về hành vi không thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
- Hình thức phạt bổ sung: Điều 8 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP không quy định áp dụng hình thức xử phạt bổ sung.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Nghị định số 109/2026/NĐ-CP không quy định biện pháp khắc phục hậu quả riêng đối với hành vi này.
Tình huống 2:
Ông Nguyễn Văn A là bị đơn trong một vụ án tranh chấp hợp đồng dân sự đang được giải quyết tại Tòa án nhân dân khu vực II. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông A ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư Trần Văn B thuộc Văn phòng luật sư M. Trong quá trình tham gia phiên hòa giải và làm việc với Tòa án, do không đồng ý với quan điểm của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, luật sư B đã nhiều lần có lời lẽ xúc phạm, miệt thị Thẩm phán ngay tại buổi làm việc. Luật sư B còn lớn tiếng cho rằng Thẩm phán “thiếu năng lực chuyên môn”, “cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án” mặc dù không có căn cứ chứng minh. Những phát ngôn này được ghi nhận trong biên bản làm việc và có sự chứng kiến của những người tham gia tố tụng khác. Sau khi xem xét vụ việc, cơ quan có thẩm quyền đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với luật sư Trần Văn B về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Hành vi của luật sư Trần Văn B có bị xử phạt theo Nghị định số 109/2026/NĐ-CP không? Mức xử phạt và biện pháp xử lý được áp dụng như thế nào?
Trả lời: Theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi của ông B có thể bị xử lý như sau:
Ông Trần Văn B đã thực hiện hành vi có lời lẽ xúc phạm, miệt thị thẩm phán tại buổi làm việc Luật sư B còn lớn tiếng cho rằng Thẩm phán; “thiếu năng lực chuyên môn”, “cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án” mặc dù không có căn cứ chứng minh.
Khoản 6 Điều 8 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định:
“6. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.”
- Hình thức xử phạt chính: Trong tình huống trên, tường hợp không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng mức phạt trung bình của khung tiền phạt là 22.500.000 đồng (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm hành chính quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
- Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 06 tháng đến 09 tháng đối với hành vi vi phạm của luật sư B quy định tại điểm b khoản 9 Điều 8 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “b) Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 06 tháng đến 09 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5, khoản 6, các điểm c, d và e khoản 7, khoản 8 Điều này;”.
Tình huống 3
Công ty Luật TNHH Minh Tâm có 08 luật sư hành nghề thường xuyên tại công ty. Theo quy định của pháp luật, công ty có trách nhiệm mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho các luật sư thuộc tổ chức mình. Tháng 01/2026, công ty ký hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp chỉ cho 05 luật sư đang làm việc, trong khi 03 luật sư còn lại đã được tuyển dụng và hành nghề tại công ty nhưng chưa được tham gia bảo hiểm. Khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, Công ty Luật Minh Tâm không xuất trình được tài liệu chứng minh việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho 03 luật sư này.
Hành vi của Công ty TNHH Luật Minh Tâm có bị xử phạt theo Nghị định số 109/2026/NĐ-CP không? Mức xử phạt và biện pháp xử lý được áp dụng như thế nào?
Trả lời: Theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi của Công ty TNHH Luật Minh Tâm có thể bị xử lý như sau:
Công ty TNHH Luật Minh Tâm đã thực hiện hành vi mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp không đầy đủ cho luật sư thuộc tổ chức mình 05/08 luật sư được mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
Điểm i khoản 1 Điều 9 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định:
“1. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: … i) Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp không đầy đủ cho luật sư thuộc tổ chức mình;”
Trong tình huống trên, hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 8.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định đối với hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư: mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp không đầy đủ cho luật sư thuộc tổ chức mình của Công ty TNHH Luật Minh Tâm (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm hành chính quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
Tình huống 4:
Công ty Luật TNHH TN có trụ sở tại tỉnh Thái Nguyên. Tháng 3/2026, công ty thực hiện chuyển địa chỉ trụ sở chính từ phường Gia Sàng sang phường Phan Đình Phùng và đã hoàn tất thủ tục thay đổi nội dung đăng ký hoạt động tại cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, sau khi được cấp Giấy đăng ký hoạt động sửa đổi, Công ty Luật TNHH TH không thực hiện việc thông báo bằng văn bản cho Đoàn Luật sư tỉnh và Sở Tư pháp theo quy định. Trong đợt kiểm tra chuyên ngành tháng 6/2026, cơ quan có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm nêu trên và tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính. Hành vi vi phạm của Công ty Luật TNHH TH sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hành vi vi phạm của Công ty Luật TNHH TH sẽ bị xử phạt hành chính như sau:
Công ty Luật TNHH TH không thực hiện việc thông báo bằng văn bản về thay đổi nội dung đăng ký hoạt động cho Đoàn Luật sư tỉnh và Sở Tư pháp theo quy định.
Tại điểm b khoản 2 Điều 9 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định: “2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: …b) Không thông báo, báo cáo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, tạm ngừng hoạt động, tự chấm dứt hoạt động, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề;”
- Hình thức phạt chính: Trong tình huống trên, Công ty Luật TNHH TH bị áp dụng mức phạt tiền 12.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm trên (trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức phạt áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
- Hình thức phạt bổ sung: Nghị định 109/2026/NĐ-CP không áp dụng hình thức phạt bổ sung đối với hành vi vi phạm của Công ty Luật TNHH TH.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Nghị định 109/2026/NĐ-CP không quy định biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm của Công ty Luật TNHH TH.
Tình huống 5:
Công ty Luật TNHH An Phát có trụ sở tại tỉnh Thái Nguyên, hoạt động trong lĩnh vực tư vấn pháp luật và tham gia tố tụng. Do nhu cầu công việc tăng cao, Giám đốc công ty là luật sư Nguyễn Văn A đã thỏa thuận với ông Trần Văn B (có bằng cử nhân luật nhưng chưa được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và chưa gia nhập Đoàn luật sư) thực hiện tư vấn pháp luật cho khách hàng. Để tạo niềm tin cho khách hàng, Công ty Luật An Phát cấp danh thiếp, địa chỉ thư điện tử và giới thiệu ông B là “luật sư của Công ty Luật An Phát”. Ông B trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, tư vấn pháp luật, ký văn bản tư vấn dưới danh nghĩa Công ty Luật An Phát và nhận thù lao từ khách hàng. Trong quá trình kiểm tra, Sở Tư pháp phát hiện ông B không phải là luật sư, không có tên trong danh sách luật sư của công ty nhưng vẫn hành nghề luật sư dưới danh nghĩa của Công ty Luật An Phát. Hành vi vi phạm của Công ty Luật An Phát sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hành vi vi phạm của Công ty Luật TNHH TH sẽ bị xử phạt hành chính như sau:
Công ty Luật An Phát đã thực hiện hành vi đã cho ông B chưa phải là luật sư thực hiện tư vấn pháp luật dưới danh nghĩa của công ty mình và nhận thù lao.
Tại điểm c khoản 3 Điều 9 Nghị định 106/2026/NĐ-CP quy định: “3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: … c) Cho người không phải là luật sư của tổ chức mình hành nghề luật sư dưới danh nghĩa của tổ chức mình;”
- Hình thức phạt chính: Công ty Luật An Phát bị áp dụng mức phạt tiền 17.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm tại điểm c khoản 3 Điều 9 Nghị định 109/2026/NĐ-CP (trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 106/2026/NĐ-CP);
- Hình thức phạt bổ sung: Công ty Luật An Phát bị đình chỉ hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm trên quy định tại khoản 7 Điều 9 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “7. Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm c, d và g khoản 3, điểm đ khoản 4, điểm a và điểm b khoản 5 Điều này.”
- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc Công ty Luật An phát nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm của mình quy định tại điểm b khoản 8 Điều 9 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “8. Biện pháp khắc phục hậu quả: …b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c và điểm d khoản 3, các khoản 4, 5 và 6 Điều này.”
Tình huống 6
Văn phòng luật sư Hoàng Gia do luật sư Nguyễn Văn A làm Trưởng văn phòng hoạt động tại tỉnh Thái Nguyên. Tháng 4/2026, bà Trần Thị B có nhu cầu nhờ luật sư tư vấn và đại diện giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với một doanh nghiệp. Sau khi trao đổi trực tiếp, luật sư Nguyễn Văn A nhận lời thực hiện vụ việc với mức thù lao 30 triệu đồng. Hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói, bà B chuyển khoản 20 triệu đồng tiền tạm ứng vào tài khoản cá nhân của luật sư A. Sau đó, luật sư A tiến hành nghiên cứu hồ sơ, soạn thảo văn bản và làm việc với các bên liên quan. Tuy nhiên, Văn phòng luật sư Hoàng Gia không ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản với bà B theo quy định.
Trong đợt kiểm tra chuyên ngành của Sở Tư pháp, cơ quan kiểm tra phát hiện vụ việc đã được thực hiện, có chứng từ thanh toán thù lao nhưng không có hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản trong hồ sơ lưu trữ của tổ chức hành nghề luật sư. Hành vi này của Văn phòng Luật sư Hoàng Gia sẽ bị xử phạt không? Mức phạt được áp dụng như nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hành vi vi phạm của Văn phòng Luật sư Hoàng Gia sẽ bị xử phạt hành chính như sau:
Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 9 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “5. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Thực hiện dịch vụ pháp lý mà không ký hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản; ”
Đồng thời, căn cứ Điều 26 Luật Luật sư năm 2015, việc cung cấp dịch vụ pháp lý giữa tổ chức hành nghề luật sư và khách hàng phải được thực hiện thông qua hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Văn phòng luật sư Hoàng Gia đã thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng nhận thù lao dịch vụ pháp lý mà không ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản theo quy định.
- Hình thức phạt chính: Đối với hành vi thực hiện dịch vụ pháp lý mà không ký hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản Văn phòng Luật sư Hoàng Gia bị áp dụng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Cụ thể mức phạt áp dụng 35.000.000 đồng (nếu không có tình tiết tăng năng, giảm nhẹ; được áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
- Hình thức phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm của Văn phòng Luật sư Hoàng Gia theo quy định tại khoản 7 Điều 9 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “7. Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm c, d và g khoản 3, điểm đ khoản 4, điểm a và điểm b khoản 5 Điều này.”
- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức phạt tiền, tổ chức hành nghề luật sư còn buộc phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 8 Điều 9 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “8. Biện pháp khắc phục hậu quả: …b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c và điểm d khoản 3, các khoản 4, 5 và 6 Điều này.”
Tình huống 7:
Tháng 5/2026, Đoàn kiểm tra của Sở Tư pháp tỉnh A tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực luật sư trên địa bàn. Qua kiểm tra phát hiện Công ty TNHH Tư vấn Pháp lý Minh Đức (đăng ký doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, ngành nghề tư vấn quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp) treo biển hiệu trước trụ sở với nội dung: “CÔNG TY LUẬT MINH ĐỨC - TƯ VẤN PHÁP LUẬT, TRANH TỤNG, ĐẠI DIỆN NGOÀI TỐ TỤNG”. Trên website và mạng xã hội của công ty đăng tải thông tin nhận:
- Tư vấn pháp luật;
- Soạn thảo đơn khởi kiện;
- Đại diện giải quyết tranh chấp;
- Cử "luật sư" tham gia bảo vệ quyền lợi cho khách hàng.
Qua xác minh Công ty không được cấp Giấy đăng ký hoạt động tổ chức hành nghề luật sư; không có luật sư thành lập hoặc tham gia hoạt động; không phải là văn phòng luật sư hoặc công ty luật theo Luật Luật sư và đã ký kết và thực hiện nhiều hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng. Hành vi của Công ty TNHH Tư vấn pháp lý Minh Đức có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt được áp dụng như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hành vi vi phạm của Công ty TNHH Tư vấn pháp lý Minh Đức sẽ bị xử phạt hành chính như sau:
Công ty TNHH Tư vấn pháp lý Minh Đức đã thực hiện hành vi hoạt động tư vấn pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý, hoạt động với danh nghĩa tổ chức hành nghề luật sư hoặc treo biển hiệu là tổ chức hành nghề luật sư mà không phải là tổ chức hành nghề luật sư (là doanh nghiệp theo đăng ký kinh doanh ngành nghề tư vấn quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp).
Theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 9 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “6. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: … b) Hoạt động tư vấn pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý, hoạt động với danh nghĩa tổ chức hành nghề luật sư hoặc treo biển hiệu là tổ chức hành nghề luật sư mà không phải là tổ chức hành nghề luật sư.”
- Hình thức phạt chính: Phạt tiền 45.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm củ Công ty Tư vấn pháp lý Minh Đức (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ);
- Hình thức phạt bổ sung: Nghị định 109/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung đối với hành vi vi phạm trên;
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc Công ty TNHH Tư vấn pháp lý Minh Đức nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm theo quy định tại điểm b khoản 8 Điều 9 Nghị định 109/2026/NĐ-CP: “8. Biện pháp khắc phục hậu quả: …b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c và điểm d khoản 3, các khoản 4, 5 và 6 Điều này.”