15 tình huống tuyên truyền pháp luật

Thứ năm - 09/07/2026 03:14 6 0
Tình huống 1:
Hợp tác xã Nông nghiệp An Phú chuyên thu mua rau, củ quả của các hộ dân trên địa bàn xã. Các sản phẩm này là sản phẩm cây trồng do người dân trực tiếp sản xuất, sau khi thu hoạch chỉ được rửa sạch, phân loại, đóng gói đơn giản, chưa chế biến thành sản phẩm khác.
Trước đây, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2024, sản phẩm cây trồng chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh doanh, Hợp tác xã An Phú mua các sản phẩm rau, củ quả nêu trên từ người dân, sau đó bán lại cho Công ty TNHH Thực phẩm Xanh là doanh nghiệp chuyên cung cấp thực phẩm cho siêu thị.
Khi xuất bán hàng, kế toán của Hợp tác xã An Phú băn khoăn không rõ trường hợp hợp tác xã bán sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến cho doanh nghiệp khác có phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng hay không?
Trả lời:
Tại khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2025 quy định:
1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.”
Theo đó, ngoài việc tiếp tục xác định sản phẩm cây trồng chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu là đối tượng không chịu thuế, Luật còn bổ sung quy định: doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua các sản phẩm này để bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Như vậy, trong tình huống trên, kể từ ngày 01/01/2026 (ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2025 có hiệu lực), Hợp tác xã An Phú mua rau, củ quả chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường rồi bán cho Công ty TNHH Thực phẩm Xanh là doanh nghiệp khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bán hàng này.
Tình huống 2:
Anh A, 25 tuổi, đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Trong quá trình cai nghiện, anh A được thông báo sẽ bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử bằng thiết bị giám sát đeo trên cơ thể để xác định vị trí.
Anh A băn khoăn không biết thiết bị giám sát điện tử là gì và mình sẽ phải đeo thiết bị giám sát điện tử trong thời gian bao lâu?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy: Thiết bị giám sát điện tử là thiết bị giám sát định vị viễn thông đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, được đeo trên cơ thể để xác định vị trí của người bị giám sát, do Bộ Công an trang cấp.
Tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy quy định: “Người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.
Như vậy, trong tình huống trên, anh A bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong suốt thời gian thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Tình huống 3:
Anh A đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo quy định của pháp luật. Trong thời gian cai nghiện, anh A bị đau bụng và được đưa đến bệnh viện để chụp CT, chụp X-quang và thực hiện một số kỹ thuật y tế. Bác sĩ cho biết cần tháo thiết bị giám sát điện tử để bảo đảm an toàn và tránh ảnh hưởng đến quá trình chụp chiếu.
Gia đình anh A băn khoăn liệu anh A có được tháo thiết bị giám sát điện tử hay không? và gia đình có thể tự tháo thiết bị giám sát điện tử hay không?
Trả lời:
Theo Điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP: Người bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử được tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử trong những trường hợp cần thiết, trong đó có trường hợp vì mục đích khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Tuy nhiên việc tháo thiết bị giám sát điện tử cần được thực hiện theo theo quy định pháp luật và gia đình không được tự thảo thiết bị giám sát điện tử. Người đang bị đeo thiết bị giám sát phải làm đơn đề nghị tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử gửi Công an cấp xã, Công an cấp xã nơi thực hiện biện pháp giám sát điện tử tiến hành tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử. Trường hợp người phải khám bệnh, chữa bệnh khẩn cấp tại địa điểm ngoài phạm vi cư trú có thể đề nghị Công an cấp xã nơi khám bệnh, chữa bệnh tiến hành tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử. Công an cấp xã sau khi thực hiện tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử phải báo cho Công an cấp xã nơi thực hiện biện pháp giám sát điện tử biết.
Ngoài ra, theo Điều 24 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, hành vi tự ý tháo thiết bị giám sát điện tử là một trong các hành vi vi phạm về giám sát điện tử.
Tình huống số 4:
Anh Nguyễn Văn N đang chấp hành biện pháp giám sát điện tử theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Trong quá trình sử dụng, thiết bị giám sát điện tử liên tục phát tín hiệu cảnh báo, không ghi nhận dữ liệu và dây đeo của thiết bị có dấu hiệu bị lỗi kỹ thuật mặc dù anh N vẫn sử dụng đúng hướng dẫn. Lo ngại việc thiết bị hỏng sẽ ảnh hưởng đến quá trình chấp hành và không biết có được thay thiết bị hay không, anh N đã liên hệ ngay với Công an cấp xã để báo cáo sự việc.
Trong trường hợp thiết bị giám sát điện tử hoặc phụ kiện kèm theo gặp sự cố kỹ thuật, anh N có được thay thiết bị hoặc phụ kiện mới không?
Trả lời:
Tại khoản 4 Điều 19 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định:
4. Khi xác định thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị bị hỏng, gặp sự cố kỹ thuật, cán bộ Công an cấp xã tiến hành thay thế thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị cho người bị giám sát, bảo đảm thiết bị và phụ kiện kèm theo hoạt động bình thường. Việc thay thế thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị cho người bị giám sát phải được lập thành biên bản theo Mẫu số 10 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”.
Khi thiết bị giám sát điện tử hoặc phụ kiện kèm theo gặp sự cố kỹ thuật, không hoạt động hoặc hoạt động không bình thường và qua kiểm tra xác định nguyên nhân không do lỗi của người được giám sát, cơ quan có thẩm quyền sẽ kiểm tra, sửa chữa hoặc thay thế thiết bị, phụ kiện để bảo đảm việc giám sát điện tử được thực hiện liên tục theo quy định.
Tình huống số 5:
Anh A đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và thuộc trường hợp phải đeo thiết bị giám sát điện tử theo quy định. Trong thời gian này, anh A bị Tòa án nhân dân huyện X xét xử về hành vi trộm cắp tài sản mà anh đã thực hiện trước khi tham gia cai nghiện. Bản án có hiệu lực pháp luật tuyên phạt anh A 18 tháng tù giam. Sau khi bản án có hiệu lực, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện ra quyết định thi hành án phạt tù đối với anh A và đưa anh đến cơ sở giam giữ để chấp hành án.
Trong trường hợp này, anh A có tiếp tục phải đeo thiết bị giám sát điện tử hay không?
Trả lời:
Theo điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định: “Việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử chấm dứt khi người bị giám sát điện tử phải chấp hành án phạt tù.
Do đó, sau khi có quyết định thi hành án và anh A được đưa đi chấp hành án phạt tù, cơ quan Công an có thẩm quyền sẽ thực hiện việc tháo thiết bị giám sát điện tử và chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A. Từ thời điểm này, việc quản lý anh A được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong trại giam, không còn áp dụng cơ chế giám sát điện tử tại cộng đồng.
Tình huống số 6:
Anh B đang cai nghiện ma túy tại gia đình và thuộc trường hợp phải áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Trong thời gian chấp hành, gia đình anh B bán nhà tại xã A và chuyển đến sinh sống lâu dài tại xã C.
Anh B băn khoăn: Sau khi chuyển đến xã C, việc quản lý, giám sát điện tử đối với mình sẽ do Công an xã A (nơi cư trú cũ) tiếp tục thực hiện hay sẽ do Công an xã C (nơi cư trú mới) quản lý?
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định:
2. Khi người bị giám sát điện tử thay đổi nơi cư trú, Công an cấp xã nơi chuyển đi bàn giao việc giám sát điện tử cho Công an cấp xã nơi chuyển đến trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm người bị giám sát điện tử hoàn thành thủ tục thay đổi nơi cư trú theo quy định để tiếp tục thực hiện giám sát, quản lý. Trưởng Công an cấp xã nơi người bị giám sát chuyển đến ra quyết định phân công cán bộ tiếp nhận và thực hiện biện pháp giám sát điện tử đối với thời hạn còn lại theo quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử của Trưởng Công an cấp xã nơi đối tượng chuyển đi theo Mẫu số 17 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”.
Trong tình huống trên, sau khi anh B chuyển nơi cư trú và hoàn tất thủ tục theo quy định, Công an xã C (nơi cư trú mới) sẽ là cơ quan trực tiếp quản lý, giám sát điện tử đối với anh B, không phải Công an xã A. Việc chuyển giao hồ sơ và trách nhiệm quản lý được thực hiện theo trình tự quy định tại Nghị định số 163/2026/NĐ-CP.
Tình huống số 7:
Anh D đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và thuộc trường hợp phải áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo quy định của Nghị định số 163/2026/NĐ-CP. Sau khi được Công an xã lắp đặt thiết bị giám sát điện tử, anh D được phổ biến đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử.
Một tháng sau, thiết bị giám sát điện tử của anh D liên tục phát tín hiệu cảnh báo lỗi và không hoạt động ổn định. Anh D đã chủ động thông báo cho Công an xã để kiểm tra, thay thế thiết bị. Tuy nhiên, trong thời gian chờ xử lý, anh D muốn sang tỉnh khác thăm người thân nên đã tự ý tháo thiết bị giám sát điện tử và để lại tại nhà với suy nghĩ chỉ đi trong ngày rồi sẽ đeo lại. Khi kiểm tra dữ liệu từ hệ thống giám sát, cơ quan Công an phát hiện thiết bị bị tháo và xác minh anh D đã rời khỏi nơi cư trú.
Trong tình huống trên, anh D đã thực hiện đúng nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử hay chưa?
Trả lời:
Việc anh D thông báo ngay cho Công an xã khi thiết bị giám sát điện tử bị lỗi là thực hiện đúng nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP: “Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi phát hiện thiết bị giám sát điện tử hư hỏng; phụ kiện kèm theo thiết bị giám sát điện tử bị hư hỏng, mất thì phải báo cho Công an cấp xã để xử lý”.
Theo điểm a,b khoản 2 Điều 23 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định:
2. Nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử:
a) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử của cơ quan có thẩm quyền;
b) Cam kết tuân thủ quy định giám sát điện tử.
Theo quy định nêu trên anh D đã vi phạm nghĩa vụ khi tự ý tháo thiết bị giám sát điện tử và tự ý rời khỏi nơi cư trú mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Tình huống số 8:
Anh E thuộc trường hợp phải áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Trong quá trình thực hiện, anh E được Công an xã hướng dẫn phải luôn đeo thiết bị giám sát, sạc pin đầy đủ và không được tự ý tháo thiết bị. Một ngày, anh E đi làm việc trong khu vực không có điện nên thiết bị giám sát điện tử hết pin. Mặc dù đã về nhà từ chiều nhưng anh E cố tình không sạc pin vì vậy thiết bị giám sát điện tử bị hết pin liên tục trong hơn 24 giờ.
Trong tình huống trên, anh E có vi phạm quy định về giám sát điện tử không?
Trả lời:
Điểm d khoản 1 Điều 24 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định:
1. Các hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử bao gồm:

d) Cố ý để thiết bị giám sát điện tử hết pin trong thời hạn 24 giờ mà không có lý do chính đáng”.
Anh E cố ý để thiết bị giám sát điện tử hết pin quá 24 giờ mà không có lý do chính đáng và không thông báo cho Công an cấp xã đây là hành vi vi phạm về giám sát điện tử.
Tại khoản 4 Điều 25 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP thì hành vi của anh E sẽ bị lập biên bản vi phạm và tổ chức nhắc nhở đối với 02 lần đầu. Nếu không khắc phục trong vòng 24 giờ kể từ khi lập biên bản hoặc vi phạm lần thứ 3 sẽ bị lập biên bản về hành vi không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử và bị xử lý theo khoản 2 Điều 47 của Luật Phòng, chống ma túy.
Tình huống số 9:
Anh D đang cai nghiện ma túy tại gia đình và thuộc trường hợp phải áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo quy định của pháp luật. Sau khi được Công an cấp xã lắp đặt thiết bị giám sát điện tử, anh D thắc mắc không biết quyền của người bị giám sát điện tử gồm những quyền gì?
Trả lời:
Tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP thì người bị giám sát điện tử có các quyền sau:
a) Được phổ biến, quán triệt về quy định, chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm về biện pháp giám sát điện tử;
b) Được tư vấn, hướng dẫn về tính năng, tác dụng và cách sử dụng thiết bị giám sát điện tử;
c) Đề nghị Công an cấp xã tháo tạm thời, thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử trên cơ thể theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 19 của Nghị định này.”.
Anh D không chỉ có nghĩa vụ chấp hành việc đeo thiết bị giám sát điện tử mà còn có quyền được biết, được hướng dẫn, được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, được yêu cầu kiểm tra, thay thế thiết bị khi gặp sự cố. Nếu phát sinh vướng mắc trong quá trình giám sát điện tử, anh D có thể liên hệ với Công an cấp xã hoặc cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định.
Tình huống số 10:
Anh B đang cai nghiện ma túy tại gia đình và thuộc trường hợp phải áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo khoản 1 Điều 15 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP. Anh B đã chấp hành việc đeo thiết bị giám sát điện tử được 01 năm, luôn tuân thủ đầy đủ các quy định: không tự ý tháo thiết bị, không để thiết bị hết pin, không phá hỏng thiết bị và không có bất kỳ hành vi vi phạm nào về giám sát điện tử.
Nhận thấy mình đã chấp hành nghiêm túc trong thời gian dài, anh B băn khoăn anh đã thực hiện tốt việc giám sát điện tử trong hơn 01 năm và không vi phạm liệu có được miễn chấp hành thời gian còn lại của biện pháp giám sát điện tử không?
Trả lời:
Tại điểm a khoản 3 Điều 20 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định:
3. Trưởng Công an cấp xã xem xét ra quyết định miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với thời gian còn lại của quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 13 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này đối với:
a) Người bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định này sau khi thực hiện quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử được 01 năm mà trong quá trình thực hiện quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử không có hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử tại khoản 1 Điều 24 của Nghị định này hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác”.
Như vậy, trong tình huống trên, do anh B đã chấp hành nghiêm túc việc giám sát điện tử trong 01 năm và không có hành vi vi phạm, anh đủ điều kiện để được cơ quan có thẩm quyền xem xét miễn chấp hành thời gian còn lại của biện pháp giám sát điện tử theo quy định của Nghị định số 163/2026/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc miễn chỉ có hiệu lực khi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định theo quy định của pháp luật.
Tình huống 11:
Để nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, Ủy ban nhân dân tỉnh A đã chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương kết nối đồng bộ các hệ thống thông tin của tỉnh với các hạ tầng số công cộng do Nhà nước quản lý. Theo đó, khi người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến, việc đăng nhập và xác thực được thực hiện thông qua hệ thống định danh và xác thực điện tử theo quy định của pháp luật về căn cước; các khoản phí, lệ phí được thanh toán qua hạ tầng thanh toán số do Nhà nước quản lý. Dữ liệu giữa các cơ quan được trao đổi thông qua nền tảng kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp quốc gia, giúp giảm việc kê khai thông tin nhiều lần. Đối với các văn bản, hồ sơ điện tử, tỉnh sử dụng hạ tầng chứng thực điện tử quốc gia để xác thực chữ ký điện tử, bảo đảm giá trị pháp lý và an toàn trong giao dịch.
Ủy ban nhân dân tỉnh A chỉ đạo kết nối đồng bộ các hệ thống thông tin của tỉnh với hạ tầng số quốc gia, sử dụng hệ thống định danh và xác thực điện tử, nền tảng thanh toán số, nền tảng tích hợp - chia sẻ dữ liệu quốc gia và hạ tầng chứng thực điện tử quốc gia trong giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến có phù hợp với quy định của pháp luật về hạ tầng chuyển đổi số và bảo đảm an toàn, liên thông dữ liệu hay không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 22 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về hạ tầng chuyển đổi số quy định:
2. Nhà nước thống nhất quản lý, vận hành theo các quy tắc mở, an toàn, minh bạch và bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng đối với các hạ tầng số công cộng sau đây:
a) Định danh và xác thực điện tử theo pháp luật về căn cước;
b) Hạ tầng thanh toán số do Nhà nước quản lý, vận hành;
c) Nền tảng kết nối, tích hợp, chia sẻ, điều phối dữ liệu cấp quốc gia;
d) Hạ tầng chứng thực điện tử quốc gia.
Việc triển khai của Ủy ban nhân dân tỉnh A phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 22 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về hạ tầng chuyển đổi số, cụ thể:
- Việc sử dụng hệ thống định danh và xác thực điện tử giúp xác minh danh tính người sử dụng dịch vụ số, bảo đảm thuận tiện, an toàn và đúng quy định của pháp luật về căn cước.
- Thực hiện thanh toán phí, lệ phí thông qua hạ tầng thanh toán số do Nhà nước quản lý góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, bảo đảm an toàn, minh bạch trong các giao dịch.
- Kết nối, chia sẻ dữ liệu thông qua nền tảng kết nối, tích hợp, chia sẻ, điều phối dữ liệu cấp quốc gia giúp các cơ quan nhà nước khai thác, sử dụng dữ liệu hiệu quả, giảm giấy tờ và hạn chế việc người dân phải cung cấp lại thông tin đã có.
- Sử dụng hạ tầng chứng thực điện tử quốc gia để xác thực chữ ký điện tử và văn bản điện tử, bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn và giá trị pháp lý của các giao dịch điện tử.
Có thể thấy tỉnh A đã khai thác hiệu quả các hạ tầng số công cộng do Nhà nước thống nhất quản lý, vận hành theo các nguyên tắc mở, an toàn, minh bạch và bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng. Việc kết nối, sử dụng đồng bộ các hạ tầng số này đã góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, tăng cường chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an toàn trong giao dịch điện tử và thúc đẩy phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số theo đúng quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Tình huống 12:
Để đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng số, Ủy ban nhân dân tỉnh A đã ban hành kế hoạch phát triển trung tâm dữ liệu trên địa bàn tỉnh. Trong quá trình lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, tỉnh đã dành quỹ đất tại khu công nghệ cao và khu công nghệ số tập trung để thu hút đầu tư xây dựng trung tâm dữ liệu, bảo đảm phù hợp với Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông, Chiến lược hạ tầng số và quy hoạch của tỉnh. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về điện lực và đơn vị cung cấp điện trên địa bàn để rà soát nhu cầu sử dụng điện của các dự án trung tâm dữ liệu; đề xuất đầu tư nâng cấp lưới điện, bảo đảm nguồn điện ổn định, chất lượng cao và có phương án dự phòng nhằm đáp ứng yêu cầu vận hành liên tục của các trung tâm dữ liệu. Việc Ủy ban nhân dân tỉnh A xây dựng kế hoạch phát triển trung tâm dữ liệu, bố trí quỹ đất trong quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại khu công nghệ cao và khu công nghệ số tập trung, đồng thời phối hợp với cơ quan điện lực để bảo đảm hạ tầng cung cấp điện ổn định, liên tục cho các trung tâm dữ liệu có phù hợp với quy định của pháp luật về phát triển hạ tầng số, đặc biệt là trung tâm dữ liệu và điều kiện bảo đảm vận hành hay không?
Trả lời:
Khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định về phát triển trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây như sau:
1. Cơ quan quản lý nhà nước về điện lực chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển điện lực quốc gia để bảo đảm đáp ứng nguồn điện xanh, sạch, bảo đảm dự phòng cho các trung tâm dữ liệu; chỉ đạo các đơn vị điện lực ưu tiên bố trí nguồn điện ổn định, chất lượng cao tại các khu vực được quy hoạch phát triển trung tâm dữ liệu, phù hợp với Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông, Chiến lược hạ tầng số và quy hoạch tỉnh.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí quỹ đất phù hợp trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương cho các dự án trung tâm dữ liệu, ưu tiên việc bố trí tại các khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung và các khu vực có điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật trên cơ sở phù hợp với Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông, Chiến lược hạ tầng số và quy hoạch tỉnh
Việc triển khai của Ủy ban nhân dân tỉnh A phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về phát triển trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, cụ thể:
- Ủy ban nhân dân tỉnh đã bố trí quỹ đất phù hợp trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để phát triển các dự án trung tâm dữ liệu theo đúng quy định của pháp luật.
- Việc ưu tiên bố trí quỹ đất tại khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung và khu vực có hạ tầng kỹ thuật thuận lợi là phù hợp với định hướng phát triển hạ tầng số và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư.
- Tỉnh đã phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về điện lực và đơn vị cung cấp điện để bảo đảm nguồn điện ổn định, chất lượng cao và có dự phòng cho các trung tâm dữ liệu, đáp ứng yêu cầu vận hành liên tục của hạ tầng số.
- Các hoạt động quy hoạch, bố trí đất và phối hợp bảo đảm hạ tầng điện đều được thực hiện trên cơ sở phù hợp với Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông, Chiến lược hạ tầng số và quy hoạch của tỉnh, góp phần bảo đảm tính đồng bộ trong phát triển hạ tầng chuyển đổi số.
Có thể thấy Ủy ban nhân dân tỉnh A đã thực hiện đúng trách nhiệm trong phát triển trung tâm dữ liệu và hạ tầng điện toán đám mây theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc chủ động quy hoạch quỹ đất, phối hợp bảo đảm nguồn điện ổn định và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển trung tâm dữ liệu không chỉ góp phần xây dựng hạ tầng số hiện đại, an toàn và bền vững mà còn tạo nền tảng quan trọng cho phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số trên địa bàn tỉnh.
Tình huống 13:
Để phục vụ xây dựng đô thị thông minh và thúc đẩy chuyển đổi số trên địa bàn, Ủy ban nhân dân tỉnh A triển khai dự án lắp đặt hệ thống cảm biến thông minh phục vụ giám sát giao thông, quan trắc môi trường, cảnh báo ngập úng và quản lý chiếu sáng công cộng. Dự án được tích hợp với hạ tầng kỹ thuật của tỉnh, bảo đảm dữ liệu từ các thiết bị cảm biến được kết nối và chia sẻ với Trung tâm điều hành thông minh (IOC) để phục vụ công tác quản lý, điều hành. Trong quá trình triển khai, tỉnh yêu cầu các đơn vị thực hiện dự án áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định; bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và dữ liệu phát sinh từ các thiết bị cảm biến; đồng thời xây dựng hệ thống có khả năng mở rộng, kết nối, liên thông với các cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin khác, bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục. Ủy ban nhân dân tỉnh A triển khai dự án lắp đặt hệ thống cảm biến thông minh phục vụ đô thị thông minh, tích hợp dữ liệu với Trung tâm điều hành thông minh (IOC), đồng thời yêu cầu tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và khả năng liên thông hệ thống có phù hợp với quy định của pháp luật về phát triển hạ tầng số phục vụ kết nối máy với máy và xây dựng đô thị thông minh hay không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 24 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định về phát triển hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy như sau:
2. Việc triển khai các dự án tích hợp vào hạ tầng kỹ thuật quy định tại khoản 1 Điều này bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu thiết yếu phát sinh từ các thiết bị cảm biến, tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân;
b) Tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có liên quan; bảo đảm an ninh mạng và khả năng mở rộng, tương thích, liên thông, vận hành liên tục giữa các hệ thống; thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong từng lĩnh vực.”
Việc triển khai dự án của Ủy ban nhân dân tỉnh A phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về phát triển hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy, cụ thể:
- Dự án bảo đảm khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu thiết yếu phát sinh từ các thiết bị cảm biến, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công, đồng thời tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
- Việc triển khai dự án tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có liên quan, góp phần bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hạ tầng số.
- Hệ thống được thiết kế bảo đảm an ninh mạng, có khả năng mở rộng, tương thích, liên thông và vận hành liên tục với các hệ thống thông tin khác của tỉnh.
- Việc tích hợp các thiết bị cảm biến vào hạ tầng kỹ thuật góp phần thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong các lĩnh vực như giao thông, môi trường, hạ tầng đô thị và quản lý nhà nước.
Có thể thấy Ủy ban nhân dân tỉnh A đã thực hiện đúng các yêu cầu đối với việc triển khai dự án tích hợp vào hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu, tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo đảm an ninh mạng và khả năng liên thông của hệ thống đã góp phần xây dựng hạ tầng số hiện đại, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và thúc đẩy chuyển đổi số bền vững trên địa bàn tỉnh.
Tình huống 14:
Nhằm đẩy mạnh xây dựng đô thị thông minh và phát triển hạ tầng số, Ủy ban nhân dân tỉnh A ban hành Kế hoạch phát triển hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy giai đoạn 2026–2030. Theo đó, tỉnh quy định các công trình hạ tầng kỹ thuật mới thuộc lĩnh vực giao thông, cấp nước, chiếu sáng công cộng, thoát nước và quan trắc môi trường khi đầu tư xây dựng phải tích hợp thiết bị cảm biến và các ứng dụng công nghệ số theo lộ trình phù hợp với chiến lược hạ tầng số và quy hoạch của tỉnh. Đồng thời, tỉnh ban hành các yêu cầu kỹ thuật về kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các hệ thống giám sát, điều hành; quy định việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với dữ liệu thu thập từ thiết bị cảm biến, bảo đảm dữ liệu có thể kết nối, chia sẻ và sử dụng chung giữa các cơ quan nhà nước. Tỉnh cũng ban hành các yêu cầu về bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin đối với dữ liệu được tạo ra, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác từ hạ tầng kết nối máy tới máy.
Ủy ban nhân dân tỉnh A ban hành kế hoạch phát triển hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy giai đoạn 2026–2030, quy định các công trình hạ tầng kỹ thuật mới phải tích hợp thiết bị cảm biến và ứng dụng công nghệ số, đồng thời ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về kết nối, chia sẻ dữ liệu và bảo đảm an ninh mạng có phù hợp với quy định của pháp luật về phát triển hạ tầng số và kết nối máy tới máy trong chuyển đổi số hay không?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 24 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định:
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:
a) Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định về công trình hạ tầng kỹ thuật thuộc phạm vi quản lý bắt buộc tích hợp thiết bị cảm biến và các ứng dụng công nghệ số khác, kèm theo lộ trình áp dụng phù hợp với Chiến lược hạ tầng số, các quy hoạch, chiến lược trong từng lĩnh vực;
b) Ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, yêu cầu về kết nối, chia sẻ, khai thác phù hợp với từng lĩnh vực;
c) Ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn để bảo đảm dữ liệu từ hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác thống nhất; ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an ninh mạng đối với dữ liệu được tạo ra, xử lý, truy xuất từ hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy”.
Việc triển khai của Ủy ban nhân dân tỉnh A phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật Chuyển đổi số năm 2025, cụ thể:
“- Ban hành quy định về công trình hạ tầng kỹ thuật thuộc phạm vi quản lý phải tích hợp thiết bị cảm biến và các ứng dụng công nghệ số, đồng thời xây dựng lộ trình thực hiện phù hợp với Chiến lược hạ tầng số, quy hoạch của tỉnh và các chiến lược phát triển theo từng lĩnh vực.
- Ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và yêu cầu về kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu phù hợp với từng lĩnh vực nhằm bảo đảm các hệ thống có thể kết nối, liên thông và khai thác hiệu quả.
- Ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn để bảo đảm dữ liệu từ hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy được kết nối, chia sẻ và khai thác thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức.
- Ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an ninh mạng đối với dữ liệu được tạo ra, xử lý và khai thác từ hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy, góp phần bảo đảm an toàn thông tin và nâng cao độ tin cậy của hệ thống.
thể thấy Ủy ban nhân dân tỉnh A đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong phát triển hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc chủ động ban hành các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và lộ trình triển khai không chỉ tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc phát triển hạ tầng số trên địa bàn mà còn góp phần tăng cường khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an ninh mạng và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong các lĩnh vực của địa phương.
Tình huống 15:
Để nâng cao hiệu quả chuyển đổi số và bảo đảm an toàn cho người sử dụng, Ủy ban nhân dân tỉnh A chỉ đạo các sở, ban, ngành và đơn vị quản lý hệ thống thông tin trên địa bàn rà soát, nâng cấp các biện pháp bảo đảm an ninh mạng đối với Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, Trung tâm điều hành thông minh (IOC) và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Theo đó, các đơn vị quản lý hệ thống xây dựng quy trình bảo vệ dữ liệu, phân quyền truy cập, kiểm soát việc khai thác dữ liệu, đồng thời thực hiện các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật. Chủ quản các hệ thống thông tin còn triển khai các công cụ giám sát, sàng lọc và cảnh báo để kịp thời phát hiện, ngăn chặn các thông tin giả, nội dung xấu, độc hại, các hành vi lừa đảo trên môi trường số; đồng thời thông báo cho cơ quan có thẩm quyền và người sử dụng để phối hợp xử lý. Ủy ban nhân dân tỉnh A chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trên địa bàn rà soát, nâng cấp các biện pháp an ninh mạng đối với các hệ thống thông tin quan trọng như Cổng dịch vụ công, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, Trung tâm điều hành thông minh (IOC) và cơ sở dữ liệu chuyên ngành; đồng thời triển khai các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước, kiểm soát truy cập và sử dụng công cụ giám sát, cảnh báo thông tin xấu độc, tin giả có phù hợp với quy định của pháp luật về bảo đảm an ninh mạng trong chuyển đổi số hay không?
Trả lời:
Điều 27 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định về bảo đảm an ninh mạng như sau:
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động chuyển đổi số phải tuân thủ quy định của pháp luật về an ninh mạng, dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước và pháp luật khác có liên quan. Chủ quản dữ liệu phải chủ động thiết lập quy trình, biện pháp bảo vệ dữ liệu phù hợp với tính chất hoạt động và phương thức đáp ứng yêu cầu của chủ thể dữ liệu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Chủ quản hạ tầng số, hạ tầng số công cộng, hệ thống số, nền tảng số, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu có trách nhiệm xây dựng công cụ để chủ động sàng lọc, phát hiện, thông báo, xử lý nhằm bảo vệ người sử dụng khỏi các nội dung xấu, độc hại, thông tin vi phạm pháp luật, tin giả, nội dung lừa đảo theo quy định của pháp luật về an ninh mạng và pháp luật khác có liên quan.”
Việc triển khai của các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh A phù hợp với quy định tại Điều 27 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về bảo đảm an ninh mạng, cụ thể:
Các cơ quan, tổ chức tham gia hoạt động chuyển đổi số đã tuân thủ các quy định của pháp luật về an ninh mạng, dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ bí mật nhà nước và các quy định pháp luật có liên quan.
Chủ quản các cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin đã chủ động xây dựng quy trình và áp dụng các biện pháp bảo vệ dữ liệu phù hợp với tính chất hoạt động, đồng thời đáp ứng các quyền và yêu cầu hợp pháp của chủ thể dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Chủ quản hạ tầng số, hệ thống số, nền tảng số và cơ sở dữ liệu đã triển khai các công cụ sàng lọc, phát hiện, cảnh báo, thông báo và xử lý nhằm bảo vệ người sử dụng trước các nội dung xấu, độc hại, thông tin vi phạm pháp luật, tin giả và các hành vi lừa đảo trên môi trường số.
Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật và quản lý góp phần nâng cao mức độ an toàn, tin cậy của các hệ thống số, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân khi tham gia môi trường số.
Có thể thấy các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh A đã thực hiện đúng các quy định về bảo đảm an ninh mạng trong hoạt động chuyển đổi số theo Điều 27 Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc tuân thủ quy định của pháp luật, chủ động bảo vệ dữ liệu và triển khai các công cụ phát hiện, ngăn chặn thông tin xấu, độc hại, tin giả và hành vi lừa đảo đã góp phần xây dựng môi trường số an toàn, lành mạnh, nâng cao niềm tin của người dân và doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm quá trình chuyển đổi số được triển khai hiệu quả và bền vững.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn biết tới Cổng thông tin PBGDPL Thái Nguyên qua đâu ?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập585
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm584
  • Hôm nay112,036
  • Tháng hiện tại1,280,572
  • Tổng lượt truy cập36,314,527
Làm bài thi
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây