Tình huống 1: Làm giả giấy báo tử để đăng ký khai tử cho người thân
Ông B qua đời tại nhà riêng do tuổi cao, sức yếu. Khi thực hiện thủ tục đăng ký khai tử, anh T (con trai ông B) phát hiện giấy tờ liên quan đến việc xác nhận nguyên nhân và thời điểm chết còn thiếu một số thông tin.
Do muốn nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ, anh T đã tự ý sửa chữa nội dung trên giấy xác nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp trước khi nộp hồ sơ đăng ký khai tử. Trong quá trình giải quyết thủ tục, công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch phát hiện giấy tờ có dấu hiệu bị tẩy xóa, chỉnh sửa nên chuyển cơ quan có thẩm quyền xác minh và phát hiện hành vi nêu trên.
Hỏi: Anh T có vi phạm pháp luật không?
Trả lời: Khoản 1 Điều 41 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai tử."
Trong trường hợp này, việc anh T tự ý sửa chữa nội dung giấy tờ để làm thủ tục đăng ký khai tử là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Ngoài ra: Giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa có thể bị tịch thu; trường hợp chưa bị tịch thu, người vi phạm phải nộp lại bản chính giấy tờ vi phạm cho cơ quan đã cấp; các giấy tờ hộ tịch được cấp trên cơ sở hồ sơ vi phạm có thể bị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định.
Tình huống 2: Khai tử người đang còn sống để chiếm hưởng tài sản
Bà N có chồng là ông P đang lao động ở nước ngoài và nhiều năm không liên lạc với gia đình. Biết ông P đứng tên một số tài sản có giá trị, bà N đã cố ý đi làm thủ tục đăng ký khai tử cho ông P, dự tính sẽ làm các thủ tục liên quan tiếp theo để được hưởng lợi từ tài sản của ông P. Một thời gian sau, ông P trở về địa phương và phát hiện mình đã bị đăng ký khai tử mặc dù vẫn đang còn sống.
Hỏi: Hành vi của bà N bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Đăng ký khai tử là thủ tục hộ tịch có ý nghĩa pháp lý đặc biệt quan trọng. Mọi hành vi đăng ký khai tử cho người còn sống hoặc cung cấp thông tin sai sự thật nhằm trục lợi đều là hành vi vi phạm nghiêm trọng, không chỉ bị xử phạt hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả lớn hoặc có dấu hiệu phạm tội.
Điểm a khoản 3 Điều 41 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi làm thủ tục đăng ký khai tử cho người đang sống."
Trong tình huống trên, bà N đã cố ý đăng ký khai tử cho người đang còn sống nhằm hưởng lợi từ tài sản của ông P. Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng và có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Ngoài ra: Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét hủy bỏ, xử lý các giấy tờ đã cấp trên cơ sở thông tin sai sự thật; người vi phạm bị buộc nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm. Nếu hành vi có dấu hiệu phạm tội, cá nhân vi phạm còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Tình huống 3: Cản trở con nhận cha ruột có bị xử phạt không?
Sau nhiều năm làm ăn xa, anh K trở về địa phương và có nguyện vọng thực hiện thủ tục nhận con ruột là cháu P (7 tuổi). Cháu P và mẹ cháu đều đồng ý thực hiện việc đăng ký nhận cha, con theo quy định.
Tuy nhiên, ông N là ông ngoại của cháu P lo ngại việc nhận cha, con sẽ ảnh hưởng đến các vấn đề tài sản trong gia đình nên đã nhiều lần ngăn cản. Ông N liên tục đe dọa, gây áp lực buộc mẹ cháu P không được phối hợp làm thủ tục nhận cha cho cháu; đồng thời yêu cầu cháu P không được ký các giấy tờ liên quan.
Sự việc kéo dài khiến việc đăng ký nhận cha, con không thể thực hiện đúng thời gian dự kiến.
Hỏi: Hành vi của ông N có vi phạm pháp luật không?
Trả lời: Quyền nhận cha, mẹ, con là quyền nhân thân được pháp luật bảo hộ. Mọi hành vi đe dọa, cưỡng ép hoặc cản trở người khác thực hiện quyền nhận cha, mẹ, con đều là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
Điểm c khoản 2 Điều 43 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi đe dọa, cưỡng ép, cản trở việc nhận cha, mẹ, con."
Trong trường hợp này, ông N đã có hành vi đe dọa, gây áp lực nhằm ngăn cản việc thực hiện quyền nhận cha, con của các bên. Đây là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Pháp luật bảo vệ quyền được nhận cha, mẹ, con của cá nhân khi đáp ứng các điều kiện theo quy định. Không ai được phép dùng sức ép, sự đe dọa hoặc các biện pháp khác để ngăn cản việc thực hiện quyền này. Người dân cần tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và thực hiện các thủ tục hộ tịch trên cơ sở trung thực, tự nguyện, đúng pháp luật.
Tình huống 4: Khai gian dân tộc để hưởng chính sách ưu đãi
Gia đình ông N sinh sống tại khu vực thành phố và đều là người dân tộc Kinh. Khi con chuẩn bị tham gia tuyển sinh đại học, ông N tìm hiểu và biết một số đối tượng thuộc dân tộc thiểu số được hưởng chính sách ưu tiên. Ông N đã làm thủ tục xác định lại dân tộc cho con, đồng thời cung cấp các giấy tờ và thông tin không đúng sự thật nhằm chứng minh con mình thuộc một dân tộc thiểu số.
Sau đó, cơ quan chức năng kiểm tra và phát hiện toàn bộ thông tin trong hồ sơ xác định lại dân tộc là không đúng thực tế nên từ chối thực hiện thủ tục.
Hỏi: Hành vi của ông N bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Khoản 3 Điều 44 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định:
"Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật khi làm thủ tục thay đổi, cải chính hộ tịch, bổ sung thông tin hộ tịch, xác định lại dân tộc để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi hoặc nhằm mục đích trục lợi khác."
Trong trường hợp này, ông N đã cung cấp thông tin sai sự thật nhằm hưởng chính sách ưu tiên trong giáo dục. Hành vi này có thể bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Ngoài ra: Người vi phạm bị buộc nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm.
Tình huống 5: Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi
Gia đình bà L có một con đẻ và một con nuôi được nhận nuôi hợp pháp từ khi còn nhỏ. Trong quá trình sinh sống, bà L luôn tạo điều kiện học tập, chăm sóc đầy đủ cho con đẻ nhưng thường xuyên không cho con nuôi đi học, giao toàn bộ việc nhà và đối xử thiếu công bằng. Nhiều lần giáo viên và chính quyền địa phương nhắc nhở nhưng tình trạng này vẫn tiếp diễn.
Hỏi: Hành vi của bà L có vi phạm pháp luật không?
Trả lời: Theo pháp luật Việt Nam, con nuôi và con đẻ có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình. Cha mẹ nuôi phải yêu thương, chăm sóc, giáo dục và bảo đảm các điều kiện phát triển cho con nuôi như đối với con đẻ, không được có hành vi phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào.
Điểm b khoản 1 Điều 48 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi."
Do đó, hành vi đối xử bất bình đẳng giữa con đẻ và con nuôi của bà L là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Tình huống 6:
Anh Nam là chủ một nhóm du lịch cộng đồng tại xã H. Nhận thấy khu rừng sản xuất gần thác nước có cảnh quan đẹp, không khí trong lành, anh Nam đã tự thiết kế tour “một ngày trải nghiệm trong rừng” cho du khách tham quan, chụp ảnh, nghỉ ngơi và ăn uống. Mỗi khách tham gia phải nộp một khoản tiền dịch vụ.
Tuy nhiên, trước khi tổ chức hoạt động này, anh Nam không liên hệ, xin phép chủ rừng và cũng không có văn bản chấp thuận của chủ rừng. Khi được kiểm tra, anh Nam cho rằng nhóm chỉ đưa khách vào tham quan, không chặt cây, không săn bắt động vật rừng, không gây thiệt hại về rừng và lâm sản nên không vi phạm pháp luật. Hỏi, hành vi của anh Nam có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Hành vi của anh Nam là hành vi sử dụng môi trường rừng trái quy định.
Điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định số 146/2026/NĐ-CP ngày 06/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/6/2026 quy định:
“1. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:
a) Tổ chức tham quan, du lịch trong rừng mà không được phép của chủ rừng;”
Căn cứ quy định trên, việc anh Nam tự ý tổ chức hoạt động tham quan, du lịch trong rừng khi chưa được chủ rừng cho phép là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Do đó, trước khi tổ chức các hoạt động tham quan, du lịch, trải nghiệm, cắm trại hoặc dịch vụ trong rừng, cá nhân, tổ chức phải liên hệ với chủ rừng và thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc này không chỉ giúp tránh bị xử phạt mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên rừng, cảnh quan thiên nhiên và an toàn cho du khách.
Tình huống 7:
Công ty TNHH Du lịch sinh thái Suối Ngàn tổ chức hoạt động tham quan, du lịch trải nghiệm trong khu vực rừng do Hợp tác xã Lâm nghiệp Bình Sơn quản lý. Đây là khu vực rừng có cảnh quan đẹp, thu hút nhiều du khách đến nghỉ dưỡng, chụp ảnh, sử dụng các dịch vụ ăn uống và trải nghiệm không gian rừng. Mỗi du khách tham gia phải trả một khoản tiền dịch vụ cho công ty.
Tuy nhiên, sau hơn 03 tháng kể từ khi bắt đầu sử dụng dịch vụ môi trường rừng để kinh doanh du lịch, Công ty TNHH Du lịch sinh thái Suối Ngàn vẫn không ký hợp đồng chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng với Hợp tác xã Lâm nghiệp Bình Sơn là chủ rừng cung ứng dịch vụ.
Hỏi: Hành vi của Công ty TNHH Du lịch sinh thái Suối Ngàn có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Hành vi của Công ty TNHH Du lịch sinh thái Suối Ngàn là hành vi vi phạm quy định về chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 146/2026/NĐ-CP ngày 06/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/6/2026 quy định:
“1. Hành vi sử dụng dịch vụ môi trường rừng không ký hợp đồng chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng sau 03 tháng, kể từ khi sử dụng dịch vụ môi trường rừng bị xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu không ký hợp đồng đối với chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng trong trường hợp chi trả trực tiếp;”
Tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị định 146/2026/NĐ-CP quy định:
“1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, tổ chức, cá nhân phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này được xác định như sau:
a) Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức áp dụng đối với cá nhân;
b) Đối với tổ chức có hành vi vi phạm hành chính cùng loại và cùng mức độ với cá nhân thì bị phạt tiền gấp hai lần mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 27;”
Căn cứ quy định trên, việc Công ty TNHH Du lịch sinh thái Suối Ngàn sử dụng dịch vụ môi trường rừng để tổ chức hoạt động du lịch nhưng sau 03 tháng vẫn không ký hợp đồng chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng với chủ rừng là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Do đó, khi sử dụng dịch vụ môi trường rừng để kinh doanh du lịch, nghỉ dưỡng hoặc các hoạt động có thu tiền dịch vụ, tổ chức, cá nhân phải ký hợp đồng chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng với chủ rừng theo quy định. Việc thực hiện đúng quy định không chỉ giúp tránh bị xử phạt mà còn góp phần bảo vệ, duy trì và phát triển bền vững tài nguyên rừng.