Quy định về thủ tục cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Năm 2020 tôi được UBND xã T cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với anh P (hộ khẩu thường trú tại xã X, huyện Y) tại Ủy ban nhân dân xã X. Tuy nhiên chúng tôi chưa kịp đăng ký kết hôn thì có biến cố tang gia (bố anh P qua đời). Sau thời gian lo toan công việc của hai bên ổn định, giờ chúng tôi muốn làm thủ tục đăng ký kết hôn nhưng tôi không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp năm 2020 (do tôi làm thất lạc) nên Ủy ban nhân xã T không cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho tôi. Vậy tôi phải làm gì để đăng ký được kết hôn?

Trả lời:
- Khoản 1, 6 Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định:
 “1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
“6. Trường hợp cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác hoặc do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã hết thời hạn sử dụng theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó”.
- Khoản 1 Điều 12 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp hướng dẫn Luật hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch quy định:
“Trường hợp người yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn mà không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đây, thì người yêu cầu phải trình bày rõ lý do không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản trao đổi với nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh. Trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này”.
- Điều 4 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định:
“Trường hợp việc đăng ký hộ tịch cần xác minh theo quy định tại khoản 4 Điều 22, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và khoản 4 Điều 9, khoản 1 Điều 12 Thông tư này, sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời, thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định. Đối với trường hợp xác minh về tình trạng hôn nhân thì cho phép người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình theo quy định tại Điều 5 Thông tư này”.
- Điều 5 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định:
  “Trường hợp cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung yêu cầu đăng ký hộ tịch thì cơ quan đăng ký hộ tịch phải giải thích rõ cho người lập văn bản cam đoan về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật.
 Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan không đúng sự thật”.
Như vậy, trường hợp của bạn để được cấp lại giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi không nộp lại được giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp trước đây, bạn đến Ủy ban nhân dân xã T (nơi cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho bạn) đề nghị cấp lại giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và có văn bản trình bày rõ lý do không còn giữ được giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cũ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, UBND xã T có văn bản trao đổi với UBND xã X nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh. Trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân. Trường hợp cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung yêu cầu đăng ký hộ tịch thì cán bộ Hộ tịch xã H giải thích rõ cho bạn về văn bản cam đoan về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật. UBND xã T sẽ  từ chối giải quyết hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan không đúng sự thật.
 

Xử lý hành vi chung sống như vợ chồng trái quy định của pháp luật

Tôi muốn hỏi trường hợp một cô gái có quan hệ tình cảm, thậm chí công khai hình ảnh sống chung với người đàn ông trong khi người này vẫn đang có vợ, hành vi nêu trên rõ ràng vi phạm chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục thì pháp luật hiện nay quy định xử lý như thế nào?

Trả lời:
Theo khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”.
Như vậy, chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức sống chung, xem nhau như vợ chồng và không đăng ký kết hôn. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Chỉ khi đó, quan hệ hôn nhân giữa họ mới được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Một trong những hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật này là “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.
Căn cứ các quy định nêu trên, cả hai người, bao gồm cô gái và người đàn ông đang có vợ nếu tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng như thông tin của bạn là vi phạm điều cấm của pháp luật. hành vi này, tùy tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi bị xử lý vi phạm hành chính hoặc thậm chí phải chịu trách nhiệm hình sự như sau:
1. Trường hợp bị xử lý vi phạm hành chính:
Theo khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của chính phủ, một trong các hành vi sau bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng:
“a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn”.
Điểm a, b khoản 2 của điều này quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
“a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi”.
2. Trường hợp bị xử lý hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng:
Theo khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015, người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
“a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.
Theo khoản 2 của Điều này, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
“a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó”.
Tóm lại, hành vi đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền tối đa là 20 triệu đồng hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, với mức phạt tù tối đa đến 03 năm.
 

Khi nào thì trẻ em cần được chăm sóc thay thế

Tại nơi tôi sinh sống, có một số cháu bé có hoàn cảnh đặc biệt, không có nơi nương tựa do bố mẹ các cháu đang chấp hành án phạt tù tại trại giam. Tôi xin hỏi, trong những trường hợp nào thì trẻ em cần chăm sóc thay thế và thông qua những hình thức nào?

Trả lời:
- Khoản 10 Điều 4 Luật trẻ em 2016 quy định “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều kiện thực hiện được quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng”.
- Điều 10 Luật trẻ em 2016 quy định trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm các nhóm sau đây:
“a) Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ;
b) Trẻ em bị bỏ rơi;
c) Trẻ em không nơi nương tựa;
d) Trẻ em khuyết tật;
đ) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS;
e) Trẻ em vi phạm pháp luật;
g) Trẻ em nghiện ma túy;
h) Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở;
i) Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực;
k) Trẻ em bị bóc lột;
l) Trẻ em bị xâm hại tình dục;
m) Trẻ em bị mua bán;
n) Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo;
o) Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc”.
- Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em cần chăm sóc thay thế trong những trường hợp sau:
“1. Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em không nơi nương tựa.
2. Trẻ em không thể sống cùng cha, mẹ vì sự an toàn của trẻ em; cha, mẹ không có khả năng bảo vệ, nuôi dưỡng trẻ em hoặc chính là người xâm hại trẻ em.
3. Trẻ em bị ảnh hưởng của thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang cần được ưu tiên bảo vệ.
4. Trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ”.
- Điều 61 Luật Trẻ em năm 2016 quy định các hình thức chăm sóc thay thế
“1. Chăm sóc thay thế bởi người thân thích.
2. Chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình không phải là người thân thích.
3. Chăm sóc thay thế bằng hình thức nhận con nuôi.
Việc nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.
4. Chăm sóc thay thế tại cơ sở trợ giúp xã hội”.
Như vậy, đối chiếu với các quy định của pháp luật thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không nơi nương tựa thuộc đối tượng cần được chăm sóc thay thế. Các hình thức chăm sóc thay thế như: bởi người thân thích; bởi cá nhân, gia đình không phải là người thân thích; bằng hình thức nhận con nuôi; Chăm sóc thay thế tại cơ sở trợ giúp xã hội.
 

Trẻ mồ côi được hưởng mức trợ cấp xã hội hàng tháng như thế nào

Cháu T năm nay 12 tuổi, gia đình cháu thuộc diện hộ nghèo. Vừa qua, bố mẹ cháu khi đi thăm họ hàng đã bị tai nạn giao thông và qua đời. Cháu T có hai người thân là cô ruột và cậu ruột nhưng gia đình họ đều đông con và rất khó khăn. Nếu T được cô hoặc cậu nhận chăm sóc thay thế thì em có được hưởng trợ cấp gì không? Cụ thể là như thế nào?

Trả lời:
- Khoản 3 Điều 4 Luật trẻ em 2016 quy định “Chăm sóc thay thế là việc tổ chức, gia đình, cá nhân nhận trẻ em về chăm sóc, nuôi dưỡng khi trẻ em không còn cha mẹ; trẻ em không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang nhằm bảo đảm sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em”.
- Điều 24 Luật trẻ em 2016 quy định quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi “Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em”.
- Khoản 1 Điều 62 Luật trẻ em 2016 quy định các trường hợp trẻ em cần chăm sóc thay thế “1. Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em không nơi nương tựa”.
- Điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ  quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, quy định trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp sau đây: “Mồ côi cả cha và mẹ”;
- Điểm a Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định Mức trợ cấp xã hội hàng tháng như sau
“1. Đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này được trợ cấp xã hội hàng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại Điều 4 Nghị định này nhân với hệ số tương ứng quy định như sau:
a) Đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định này:
- Hệ số 2,5 đối với trường hợp dưới 4 tuổi;
- Hệ số 1,5 đối với trường hợp từ đủ 4 tuổi trở lên”.
- Điều 4 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định Mức chuẩn trợ giúp xã hội như sau:
“1. Mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức trợ cấp nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội và các mức trợ giúp xã hội khác.
2. Mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2021 là 360.000 đồng/tháng.
Tùy theo khả năng cân đối của ngân sách, tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình đời sống của đối tượng bảo trợ xã hội, cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho phù hợp; bảo đảm tương quan chính sách đối với các đối tượng khác.
3. Tùy thuộc điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định:
a) Mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn bảo đảm không thấp hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định này;
b) Đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại Nghị định này được hưởng chính sách trợ giúp xã hội”.
Như vậy, đối chiếu với những quy định pháp luật nêu trên thì T thuộc trường hợp trẻ em được chăm sóc thay thế. Cô ruột hoặc cậu ruột có thể nhận thay thế chăm sóc cho T. T là trẻ em dưới 16 tuổi, không có nguồn nuôi dưỡng nên em sẽ được hưởng chính sách bảo trợ xã hội, với mức hưởng thấp nhất bằng mức chuẩn trợ cấp xã hội nhân với hệ số 1,5. Cụ thể là 360.000 nghìn đồng nhân với hệ số 1,5 bằng 540.000 nghìn đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được quyết định mức trợ cấp xã hội, mức trợ cấp nuôi dưỡng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các mức trợ giúp xã hội khác cao hơn các mức tương ứng quy định tại Nghị định này. Như vậy, mức trợ cấp mà cháu T được nhận ít nhất là 540.000 đồng/tháng.
 

Trình tự, thủ tục thay đổi người giám hộ

Tôi là bác họ bên đằng mẹ của cháu V (8 tuổi) mồ côi cả cha lẫn mẹ khi cháu được 3 tuổi. Tôi được biết cách đây 5 năm, anh H là bác họ bên đằng bố của cháu V có làm thủ đăng ký giám hộ theo diện đăng ký giám hộ cử (vì cháu V không có anh, chị ruột, không còn ông bà nội, ngoại, cô, dì, cậu, chú, bác ruột) và đón cháu V về gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, hiện nay anh H bị bệnh hiểm nghèo và không có đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục cháu V. Theo nguyện vọng của anh H muốn tôi sẽ là người giám hộ cho cháu V thay cho anh để có thể tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và quản lý tài sản cho cháu được tốt nhất. Xin hỏi, tôi và anh H phải làm thế nào để tôi được là người giám hộ cho cháu V thay anh H?

Trả lời:
Điều 60 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thay đổi người giám hộ như sau:
“1. Người giám hộ được thay đổi trong trường hợp sau đây:
a) Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định tại Điều 49, Điều 50 của Bộ luật này;
b) Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự, mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại;
c) Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;
d) Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.
2. Trường hợp thay đổi người giám hộ đương nhiên thì những người được quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này là người giám hộ đương nhiên; nếu không có người giám hộ đương nhiên thì việc cử, chỉ định người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật này.
3. Thủ tục thay đổi người giám hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”
Như vậy, do anh H bị bệnh hiểm nghèo và không có đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục cháu V và anh H có nguyện vọng được thay đổi người giám hộ cũng như có bạn là người muốn nhận làm giám hộ vì vậy, theo quy định trên thì các bạn được thay đổi người giám hộ.
Tại Điều 23 Luật Hộ tịch quy định về đăng ký thay đổi giám hộ như sau:
“Trường hợp yêu cầu thay đổi người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và có người khác đủ điều kiện nhận làm giám hộ, thì các bên làm thủ tục đăng ký chấm dứt giám hộ trước đó và đăng ký giám hộ mới theo quy định tại mục này.”
Theo đó, đối với bạn muốn là người giám hộ cho cháu V thay anh H thì trước hết bạn cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện của cá nhân làm người giám hộ được quy định tại Điều 49 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể như sau:
“Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
2. Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
3. Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.
4. Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.”
Đối với anh H, anh phải làm thủ tục đăng ký chấm dứt giám hộ theo quy định tại Điều 22 Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:
“1. Người yêu cầu đăng ký chấm dứt giám hộ nộp tờ khai đăng ký chấm dứt giám hộ theo mẫu quy định và giấy tờ làm căn cứ chấm dứt giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc chấm dứt giám hộ đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật dân sự, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc chấm dứt giám hộ vào Sổ hộ tịch, cùng người đi đăng ký chấm dứt giám hộ ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.”
Sau khi anh H hoàn thành thủ tục đăng ký chấm dứt giám hộ, thì bạn đến UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ thực hiện đăng ký giám hộ cử (theo quy định tại Điều 19, Luật Hộ tịch về thẩm quyền đăng ký giám hộ).
Thủ tục đăng ký giám hộ cử được quy định tại Điều 20, Luật Hộ tịch:
“1. Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai đăng ký giám hộ theo mẫu quy định và văn bản cử người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào Sổ hộ tịch, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.”
Bước tiếp theo, bạn và anh H tiến hành chuyển giao giám hộ theo quy định tại Điều 61 Bộ luật dân sự 2015 như sau:
“1. Khi thay đổi người giám hộ thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có người giám hộ mới, người đã thực hiện việc giám hộ phải chuyển giao giám hộ cho người thay thế mình.
2. Việc chuyển giao giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do chuyển giao và tình trạng tài sản, vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ tại thời điểm chuyển giao. Cơ quan cử, chỉ định người giám hộ, người giám sát việc giám hộ chứng kiến việc chuyển giao giám hộ.
3. Trường hợp thay đổi người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều 60 của Bộ luật này thì cơ quan cử, chỉ định người giám hộ lập biên bản, ghi rõ tình trạng tài sản, vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ, quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình thực hiện việc giám hộ để chuyển giao cho người giám hộ mới với sự chứng kiến của người giám sát việc giám hộ.”
 

Điều kiện nhận nuôi con nuôi trong nước.

Tôi năm nay 40 tuổi, chưa lập gia đình. Hiện tại, tôi có nhà riêng và công việc ổn định. Vừa qua, khi đi làm từ thiện tại một tỉnh miền núi, tôi đã gặp một bé gái 4 tuổi có hoàn cảnh rất đáng thương (bố mẹ đều mất sớm), cháu hiện đang sống cùng với người họ hàng xa nhưng gia cảnh của người này cũng rất khó khăn về kinh tế do đông con, công việc và thu nhập không ổn định. Tôi có ý định muốn nhận cháu bé này làm con nuôi. Vậy, tôi có thể nhận cháu bé này làm con nuôi được không? Nếu được thì tôi cần phải chuẩn bị những giấy tờ gì?

Trả lời:
- Khoản 1, 2, 3, 5 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định:
“1. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi.
2. Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.
3. Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.
4. Nuôi con nuôi trong nước là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau thường trú ở Việt Nam.
6. Trẻ em mồ côi là trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được”.
Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định Điều kiện đối với người nhận con nuôi như sau:
“1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;
d) Có tư cách đạo đức tốt.
2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:
a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;
c) Đang chấp hành hình phạt tù;
d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này”.
- Khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi 2010 có quy định về sự đồng ý cho làm con nuôi như sau: “Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó”.
Điều 17 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định Hồ sơ của người nhận con nuôi như sau:
“1. Đơn xin nhận con nuôi;
2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;
3. Phiếu lý lịch tư pháp;
4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;
5. Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này”.
Như vậy, trong trường hợp của anh/chị với những thông tin đưa ra thì anh/chị có thể được nhận cháu bé 4 tuổi là con nuôi. Do cháu bé có cha, mẹ đều đã chết thì ngoài các điều kiện được quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 thì cần phải có sự đồng ý của người giám hộ của cháu. Để nhận con nuôi, người đi nhận cần chuẩn bị có loại giấy tờ được quy định tại Điều 17 Luật Nuôi con nuôi 2010.
 

Công bố công khai quy hoạch sử dụng đất cấp huyện ở đâu?

Nội dung: Em nghe nói quy hoạch sử dụng đất cấp huyện được công bố công khai, không biết là được công bố tại đâu mà em đang tìm 1 quy hoạch của huyện hiện nay đang được thực hiện mà mãi không thấy, tư vấn cho em với ạ.

Trả lời:

Nội dung: Khoản 1 Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch 2018 (sửa đổi Điều 48 Luật Đất đai 2013) quy định về công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau: [...] Toàn bộ nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp huyện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải được công bố công khai theo quy định sau đây: - Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch sử dụng đất cấp huyện tại trụ sở cơ quan, trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp huyện; công bố công khai nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp huyện có liên quan đến xã, phường, thị trấn tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã; - Việc công bố công khai được thực hiện chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; - Việc công khai được thực hiện trong suốt thời kỳ quy hoạch sử dụng đất. Căn cứ quy định nêu trên thì quy hoạch sử dụng đất cấp huyện được công bố công khai tại trụ sở UBND huyện và cổng thông tin điện tử của UBND huyện. Do đó bạn có thể tìm thông tin về quy hoạch sử dụng đất cấp huyện tại trụ sở UBND huyện hoặc cổng thông tin điện tử của UBND huyện. Trân trọng!

Cho thuê lại nhà ở không cần sự đồng ý của chủ sở hữu?

Nội dung: Tôi là chủ sở hữu của căn nhà 04 tầng, có ký kết hợp đồng cho thuê nhà ở với anh A. Nội dung là cho anh A thuê lại toàn bộ nhà với mục đích là để ở. Đến nay, tôi được biết là anh A đã ký kết hợp đồng cho nhiều người khác thuê lại số phòng mà anh A không sử dụng đến. Trong khi đó, hợp đồng giữa tôi và anh A không nhắc gì đến việc anh A được phép cho thuê lại căn nhà. Vậy, trong trường hợp này, tôi có quyền huỷ hợp đồng và yêu cầu phạt hợp đồng với anh A không? Xin cảm ơn!

Trả lời:

Nội dung: Bên thuê có quyền cho thuê lại tài sản thuê không? Chủ sở hữu cho bên A thuê mặt bằng là hợp đồng thuê tài sản theo quy định tại Điều 472 Bộ luật Dân sự 2015: “Điều 472. Hợp đồng thuê tài sản Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê. Hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan.” Bên A tự động cho những bên khác thuê lại mà không có thỏa thuận trong hợp đồng hoặc sự đồng ý của chủ sở hữu là vi phạm quy định của về cho thuê lại tài sản tại Điều 475 Bộ luật dân sự 2015. Theo thông tin cung cấp, không có sự thỏa thuận nhưng bên A tự ý cho những bên khác thuê lại, vì vậy bên A là bên vi phạm hợp đồng. Do đó, bên A có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà theo điểm khoản 2 Điều 132 Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở. Theo đó, điểm c quy định bên cho thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà và thu hồi nhà ở đang cho thuê khi thuộc một trong trường hợp bên thuê sử dụng nhà ở không đúng mục đích như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Được hủy hợp đồng khi bên thuê cho thuê lại lại sản mà không hỏi ý kiến bên cho thuê? Bên chủ sở hữu có quyền phạt bên A vi phạm hợp đồng theo Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể như sau: “1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. 2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. 3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại”.

Nhiều hộ sống cùng một địa chỉ, tách hộ khẩu thế nào?

Gia đình bà Lâm Tú Anh (Hà Nội) có 3 hộ sống chung. Bà hỏi, gia đình bà có thể tách riêng mỗi hộ 1 sổ hộ khẩu được không? Nếu được thì có quy định về số lượng sổ hộ khẩu trong cùng một chỗ ở hợp pháp không?

Trả lời:

Về vấn đề này, Bộ Công an  trả lời như sau:

Điều 27 Luật Cư trú quy định về trường hợp có cùng một chỗ ở hợp pháp được tách sổ hộ khẩu bao gồm: Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu; người ở chung một chỗ ở hợp pháp nhưng không có quan hệ gia đình là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 19, Điều 20 Luật Cư trú và được chủ hộ đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu gia đình, sổ hộ khẩu cá nhân, khi người này muốn tách sổ hộ khẩu phải được chủ hộ đồng ý bằng văn bản.

Thủ tục tách sổ hộ khẩu bao gồm:

- Sổ hộ khẩu.

- Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu.

- Ý kiến đồng ý của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại Điểm b, Khoản 1 Điều 27 Luật Cư trú là: Người ở chung một chỗ ở hợp pháp nhưng không có quan hệ gia đình là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 19, Điều 20 Luật Cư trú và được chủ hộ đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu gia đình, sổ hộ khẩu cá nhân, khi người này muốn tách sổ hộ khẩu phải được chủ hộ đồng ý bằng văn bản.

Công dân được tách sổ hộ khẩu khi có đầy đủ điều kiện, thủ tục theo quy định của Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nếu còn vấn đề gì vướng mắc đề nghị bà Lâm Tú Anh đến cơ quan Công an nơi đăng ký cư trú để được hướng dẫn cụ thể.

Không cấp lại bản chính văn bằng, chứng chỉ

Ông Nguyễn Ngọc Khương (Hải Dương) là học sinh trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm niên học 2001-2004. Ông Khương bị mất bằng tốt nghiệp THPT và muốn xin cấp lại. Vậy, thủ tục cấp lại bằng tốt nghiệp như thế nào? Ông Khương hiện đi làm xa thì có thể nhờ chị gái làm thủ tục không, nếu được thì cần những giấy tờ gì?

Trả lời:

Về vấn đề này, Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời như sau:

Khoản 3 Điều 2 Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân ban hành kèm theo Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT ngày 20/6/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định bản chính văn bằng, chứng chỉ chỉ cấp một lần, không cấp lại.

Người bị mất bản chính văn bằng, chứng chỉ chỉ được cấp lại bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc.

Người yêu cầu cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc có thể trực tiếp yêu cầu hoặc gửi yêu cầu của mình đến cơ quan có thẩm quyền cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc qua bưu điện. Không hạn chế số lượng bản sao yêu cầu được cấp.

Top
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây