09 tình huống tuyên truyền pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 109/2026/NĐ-CP
Lê Thị Minh Hiếu
2026-07-03T00:19:21-04:00
2026-07-03T00:19:21-04:00
https://pbgdplthainguyen.gov.vn/de-cuong-tuyen-truyen/09-tinh-huong-tuyen-truyen-phap-luat-ve-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh-theo-quy-dinh-tai-nghi-dinh-so-109-2026-nd-cp-946.html
https://pbgdplthainguyen.gov.vn/uploads/tai-lieu-tuyen-truyen/2026_07/bia-th-xlvphc.jpg
Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Cổng thông tin điện tử Phổ biến giáo dục pháp luật
https://pbgdplthainguyen.gov.vn/uploads/botuphap.png
Tình huống 01: Tự ý sửa ngày sinh trên giấy chứng sinh để đăng ký khai sinh cho con có bị xử phạt?
Chị H sinh con tại bệnh viện vào đúng ngày 29/02. Sau khi xuất viện, chị được cấp Giấy chứng sinh ghi đầy đủ thông tin về thời gian sinh của cháu bé là ngày 29/02.
Khi chuẩn bị làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con, chị H băn khoăn vì ngày sinh 29/02 chỉ xuất hiện 4 năm một lần. Chị cho rằng sau này việc tổ chức sinh nhật, làm hồ sơ học tập hay các giao dịch khác có thể bất tiện. Vì vậy, chị đã dùng bút sửa lại ngày sinh trên Giấy chứng sinh thành ngày 01/03 để làm thủ tục đăng ký khai sinh.
Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ, công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch phát hiện Giấy chứng sinh có dấu hiệu bị tẩy xóa, sửa chữa nên từ chối tiếp nhận hồ sơ và lập biên bản vụ việc.
Hỏi: Chị H tự ý sửa ngày sinh của con trên Giấy chứng sinh để đăng ký khai sinh có vi phạm pháp luật không? Bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Ngày, tháng, năm sinh của cá nhân là thông tin hộ tịch cơ bản, phải được xác định đúng theo giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp. Đối với trẻ em mới sinh, Giấy chứng sinh là căn cứ quan trọng để cơ quan đăng ký hộ tịch xác định chính xác ngày sinh của trẻ khi đăng ký khai sinh. Pháp luật không cho phép cá nhân tự ý sửa chữa, tẩy xóa nội dung trên giấy tờ do cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền cấp, kể cả trong trường hợp việc sửa chữa xuất phát từ mong muốn cá nhân và không nhằm mục đích trục lợi.
Khoản 1 Điều 37 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã: “Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai sinh.”
Khoản 3 Điều 37 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: “Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật là giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.”
Như vậy, việc chị H tự ý sửa ngày sinh của con từ ngày 29/02 thành ngày 01/03 trên Giấy chứng sinh để làm thủ tục đăng ký khai sinh là hành vi vi phạm pháp luật. Chị H có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng và bị tịch thu giấy tờ bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung theo quy định nêu trên. Cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ căn cứ vào giấy tờ hợp pháp để xác định ngày sinh thực tế của trẻ là 29/02, không chấp nhận thông tin đã bị sửa chữa trái quy định.
Ngày sinh của trẻ phải được đăng ký đúng theo thực tế và giấy tờ chứng minh hợp pháp. Cha mẹ không nên vì lý do tâm lý, phong thủy, thuận tiện trong sinh hoạt hoặc các lý do cá nhân khác mà tự ý sửa chữa, tẩy xóa giấy tờ để thay đổi thông tin hộ tịch của con. Khi phát hiện giấy tờ có sai sót, cần liên hệ cơ quan hoặc cơ sở đã cấp giấy để được điều chỉnh theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Tình huống 02: Tẩy xóa Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn có bị xử phạt?
Anh T và chị H dự định đăng ký kết hôn. Khi hoàn thiện hồ sơ, anh T phát hiện Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của mình chỉ còn hiệu lực trong thời gian ngắn và sắp hết hạn. Lo ngại việc xin cấp lại sẽ mất thời gian, anh T đã tự ý sửa chữa thời hạn ghi trên Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân rồi nộp cùng hồ sơ đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã.
Do phát hiện dấu hiệu bất thường, cơ quan đăng ký hộ tịch đã từ chối cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho anh T và chị H với lý do: giấy tờ mà anh T sử dụng đã bị tẩy xóa, sửa chữa.
Hỏi: Anh T có vi phạm pháp luật không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 38 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: “Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký kết hôn.”
Khoản 3 Điều 38 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: “Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật là giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.”
Trong trường hợp này, anh T đã tự ý sửa chữa nội dung trên Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Đây là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Đồng thời, bị tịch thu bản chính giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa cho cơ quan có thẩm quyền đã cấp.
Người dân tuyệt đối không tự ý sửa chữa, tẩy xóa các giấy tờ hộ tịch hoặc giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Khi giấy tờ hết hạn hoặc có sai sót, cần liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại hoặc điều chỉnh theo đúng quy định.
Tình huống 03: Che giấu tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với người khác bị xử lý như thế nào?
Anh K đang trong quá trình giải quyết ly hôn với vợ. Trong thời gian này, anh K quen chị M và muốn nhanh chóng đăng ký kết hôn. Để hoàn thiện hồ sơ, anh K đã làm bản cam đoan khẳng định mình đang độc thân và nhờ một người quen ở cùng xã xác nhận, làm chứng rằng anh chưa từng kết hôn.
Tin tưởng các giấy tờ, tài liệu do anh K cung cấp, UBND xã đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho anh K và chị M.
Sau đó, vợ của anh K gửi đơn phản ánh đến cơ quan chức năng và cung cấp tài liệu chứng minh anh K vẫn đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp tại thời điểm đăng ký kết hôn với chị M.
Hỏi: Hành vi của anh K bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Điểm b khoản 2 Điều 38 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin, tài liệu hoặc cam đoan, làm chứng sai sự thật về tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn.”
Trong tình huống trên, anh K đã cố ý cung cấp thông tin và cam đoan không đúng sự thật về tình trạng hôn nhân của mình để được đăng ký kết hôn. Đây là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Ngoài việc bị xử phạt bằng tiền theo quy định nêu trên, trong trường hợp này còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với Giấy chứng nhận kết hôn đã được cấp do được thực hiện trên cơ sở thông tin sai sự thật theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 38 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP.
Đăng ký kết hôn phải dựa trên thông tin trung thực, chính xác về nhân thân và tình trạng hôn nhân của các bên. Mọi hành vi sử dụng giấy tờ không hợp pháp, cho người khác mượn giấy tờ, sử dụng giấy tờ của người khác hoặc cung cấp thông tin sai sự thật để đăng ký kết hôn đều có thể bị xử phạt và làm ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của việc kết hôn đã được đăng ký.
Tình huống 04: Cho người khác sử dụng giấy tờ của mình để đăng ký kết hôn bị xử lý như thế nào?
Anh N và chị H yêu nhau nhiều năm và dự định đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, do chị H đang định cư ở nước ngoài, công việc bận nên chưa thể về Việt Nam để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo kế hoạch. Anh N muốn sang nước ngoài cùng chị H theo diện thăm thân, dự kiến hai người sau đó sẽ xin định cư.
Em gái của chị H là chị T có ngoại hình khá giống chị H. Nghĩ rằng việc đăng ký kết hôn chỉ là thủ tục hành chính đơn giản, anh N và gia đình đã thống nhất để chị T mang giấy tờ nhân thân của chị H đến UBND cấp xã cùng anh N làm thủ tục đăng ký kết hôn.
Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ, công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch nghi ngờ người có mặt không đúng với ảnh và thông tin trên giấy tờ tùy thân nên tiến hành xác minh. Qua làm việc, cơ quan chức năng xác định chị T đã sử dụng giấy tờ của chị H để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn; đồng thời chị H biết việc này và tự nguyện gửi giấy tờ về cho em gái sử dụng giấy tờ của mình.
Hỏi: Hành vi của chị H và chị T có vi phạm pháp luật không? Bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Mọi hành vi cho người khác mượn giấy tờ hoặc sử dụng giấy tờ của người khác để đăng ký kết hôn đều là hành vi vi phạm pháp luật, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
Điểm a khoản 2 Điều 38 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi cho người khác sử dụng giấy tờ của mình để làm thủ tục đăng ký kết hôn hoặc sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký kết hôn.”
Trong tình huống trên: Chị H đã cho người khác sử dụng giấy tờ của mình để làm thủ tục đăng ký kết hôn; Chị T đã sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký kết hôn. Cả hai hành vi đều thuộc trường hợp vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 38 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP và có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với mỗi cá nhân vi phạm.
Trường hợp cơ quan đăng ký hộ tịch chưa cấp Giấy chứng nhận kết hôn thì hồ sơ sẽ bị từ chối giải quyết theo quy định. Nếu việc đăng ký kết hôn đã được thực hiện và Giấy chứng nhận kết hôn đã được cấp trên cơ sở việc sử dụng giấy tờ của người khác thì theo điểm b khoản 4 Điều 38, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét, xử lý đối với Giấy chứng nhận kết hôn đã cấp theo quy định của pháp luật: “Kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy chứng nhận kết hôn đã cấp do có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”.
Tình huống 05: Làm giả hồ sơ về địa điểm hoạt động để được cấp đăng ký
Trung tâm ABC là trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng chưa thuê được địa điểm phù hợp nên ông K - giám đốc Trung tâm đã mượn hợp đồng thuê nhà của người quen và kê khai đó là trụ sở của trung tâm để hoàn thiện hồ sơ đăng ký hoạt động. Sau khi được cấp giấy đăng ký hoạt động, cơ quan chức năng xác minh và phát hiện địa chỉ kê khai không phải là nơi trung tâm hoạt động thực tế.
Hỏi: Hành vi của Trung tâm ABC bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm b khoản 3 Điều 39 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp giấy tờ chứng minh về trụ sở không đúng sự thật."
Trong trường hợp này, Trung tâm ABC đã sử dụng giấy tờ chứng minh về trụ sở không đúng thực tế để hoàn thiện hồ sơ đăng ký hoạt động. Hành vi này có thể bị phạt từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Ngoài ra, trung tâm còn có thể bị áp dụng hình thức đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng theo quy định tại khoản 6 Điều 39 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP: “Hình thức xử phạt bổ sung: a) Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này;”.
Mọi thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký hoạt động phải trung thực, chính xác. Việc sử dụng giấy tờ hoặc thông tin không đúng sự thật có thể dẫn đến xử phạt và ảnh hưởng đến tính hợp pháp của hoạt động của trung tâm.
Tình huống 06: Thu thêm tiền ngoài mức thù lao đã công bố
Chị M đến Trung tâm Ánh Dương để được tư vấn về thủ tục kết hôn với người nước ngoài. Sau khi hoàn tất việc tư vấn, ngoài khoản thù lao đã niêm yết công khai, nhân viên trung tâm yêu cầu chị M nộp thêm 5 triệu đồng với lý do "chi phí hỗ trợ hồ sơ nhanh". Nếu không nộp, hồ sơ sẽ không được ưu tiên giải quyết.
Hỏi: Việc thu thêm tiền như trên có đúng quy định không?
Trả lời: Điểm c khoản 4 Điều 39 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định:
"Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác ngoài thù lao theo quy định khi thực hiện tư vấn, hỗ trợ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài."
Như vậy, việc yêu cầu khách hàng nộp thêm tiền ngoài mức thù lao hợp pháp là hành vi vi phạm pháp luật. Ngoài việc bị phạt tiền, Trung tâm còn bị đình chỉ hoạt động từ 01 đến 03 tháng (theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 39 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP: “Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.”) và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm (theo quy định tại điểm c khoản 7 Điều 39 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP: “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, b và c khoản 4, khoản 5 Điều này”).
Người dân có quyền yêu cầu trung tâm công khai mức thù lao và từ chối các khoản thu không đúng quy định. Khi phát hiện dấu hiệu thu phí trái phép, cần phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền để được bảo vệ quyền lợi.
Tình huống 07: Tiết lộ thông tin riêng tư của khách hàng
Trong quá trình tư vấn cho chị L về việc kết hôn với người nước ngoài, Trung tâm H đã thu thập nhiều thông tin cá nhân, thông tin về hoàn cảnh gia đình và đời sống riêng tư của chị. Sau đó, một nhân viên trung tâm đã tự ý chia sẻ những thông tin này cho người khác và đăng tải một phần nội dung lên mạng xã hội nhằm quảng bá hoạt động của trung tâm.
Hỏi: Trung tâm có vi phạm pháp luật không?
Trả lời: Thông tin cá nhân, đời sống riêng tư và bí mật gia đình của người được tư vấn phải được bảo mật tuyệt đối. Đây không chỉ là yêu cầu nghề nghiệp mà còn là trách nhiệm pháp lý của các trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Điểm d khoản 4 Điều 39 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về tổ chức, hoạt động của trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: "Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không giữ bí mật các thông tin, tư liệu về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của các bên theo quy định của pháp luật."
Do đó, việc tiết lộ thông tin cá nhân của khách hàng khi chưa được phép là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị phạt từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Ngoài ra, trung tâm còn có thể bị đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 39 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP: “Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này”.
Tình huống 08: Hoạt động tư vấn hôn nhân có yếu tố nước ngoài khi chưa được cấp giấy đăng ký hoạt động
Nhận thấy nhu cầu kết hôn với người nước ngoài ngày càng tăng, bà P mở văn phòng tư vấn hôn nhân quốc tế, quảng cáo rộng rãi trên mạng xã hội và nhận hồ sơ của nhiều khách hàng.
Mặc dù chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy đăng ký hoạt động nhưng văn phòng của bà P vẫn tổ chức tư vấn, thu tiền dịch vụ và giới thiệu khách hàng cho các đối tác ở nước ngoài.
Hỏi: Hành vi này bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Người dân có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cần lựa chọn các trung tâm đã được cấp giấy đăng ký hoạt động hợp pháp. Đồng thời, các tổ chức, cá nhân chỉ được phép hoạt động trong lĩnh vực này khi đáp ứng đầy đủ điều kiện và được cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật.
Điểm a khoản 5 Điều 39 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện các hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài khi chưa có giấy đăng ký hoạt động."
Như vậy, việc tổ chức hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài khi chưa được cấp giấy đăng ký hoạt động là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Nếu thu được lợi nhuận từ hoạt động trái phép này thì còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 39 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP: “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, b và c khoản 4, khoản 5 Điều này”.
Tình huống 09: Che giấu việc đã kết hôn để được cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
Chị M đã kết hôn hợp pháp từ năm 2022 nhưng hiện đang sống ly thân với chồng. Năm 2026, chị M quen một người nước ngoài và có ý định đăng ký kết hôn. Để chuẩn bị hồ sơ, chị M làm thủ tục xin cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và cam đoan với cơ quan có thẩm quyền rằng mình đang độc thân, chưa có chồng. Sau đó, cơ quan chức năng nhận được phản ánh và xác minh được rằng tại thời điểm xin cấp giấy, chị M vẫn đang trong quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Hỏi: Hành vi của chị M bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Tình trạng hôn nhân là thông tin pháp lý quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều giao dịch dân sự và thủ tục hộ tịch. Mọi hành vi khai báo gian dối, cam đoan không đúng sự thật hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật để được cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đều có thể bị xử phạt và làm phát sinh những hậu quả pháp lý bất lợi cho người vi phạm.
Điểm b và điểm c khoản 2 Điều 40 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định:
"b) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi cam đoan không đúng về tình trạng hôn nhân để làm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân."
Trong tình huống trên, chị M đã cố ý khai báo không đúng sự thật về tình trạng hôn nhân của mình để được cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Đây là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan có thẩm quyền còn có thể xem xét, xử lý đối với Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trên cơ sở thông tin không đúng sự thật.