24 tình huống tuyên truyền pháp luật

Thứ năm - 09/07/2026 03:16 7 0
Tình huống 1: Thu nhập từ kinh doanh trên nền tảng số
Chị A là cá nhân bán hàng qua mạng xã hội và sàn thương mại điện tử. Hằng ngày, chị A đăng bán mỹ phẩm, quần áo, đồ gia dụng và nhận đơn hàng trực tuyến. Ngoài ra, chị A còn nhận quảng bá sản phẩm cho một số cửa hàng khác và được trả hoa hồng theo doanh số bán được.
Chị A cho rằng việc bán hàng qua mạng chỉ là hoạt động cá nhân nhỏ lẻ, không mở cửa hàng cố định nên không phải là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Hỏi: Thu nhập của chị A từ hoạt động bán hàng trực tuyến và nhận hoa hồng có thuộc thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân không?
Trả lời:
Thu nhập của chị A thuộc thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Căn cứ khoản 1 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ kinh doanh, cụ thể là:
“Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật;
c) Thu nhập từ hoạt động đại lý, môi giới, hợp tác kinh doanh với tổ chức;
d) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số.”
Trong tình huống này, chị A có hoạt động bán hàng hóa qua mạng xã hội, sàn thương mại điện tử và có khoản hoa hồng từ việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm cho cửa hàng khác. Đây là các khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động kinh doanh, kinh doanh thương mại điện tử và hoạt động môi giới, đại lý.
Như vậy, thu nhập của chị A từ bán hàng trực tuyến và nhận hoa hồng thuộc thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân, trừ trường hợp thuộc diện được miễn thuế theo quy định của Luật.
Tình huống 2: Thu nhập từ tiền lương, tiền công và các khoản lợi ích khác
Ông B làm việc theo hợp đồng lao động tại Công ty cổ phần Minh Phát. Hằng tháng, ông B được nhận tiền lương là 25 triệu đồng. Ngoài tiền lương, công ty còn trả cho ông B tiền thưởng hiệu quả công việc, hỗ trợ tiền nhà ở và tặng một gói nghỉ dưỡng cho gia đình ông B do đạt thành tích cao trong năm.
Ông B cho rằng chỉ tiền lương hằng tháng mới là thu nhập chịu thuế, còn tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhà ở và gói nghỉ dưỡng không phải tính vào thu nhập chịu thuế.
Hỏi: Các khoản thu nhập và lợi ích ông B nhận được có thuộc thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân không?
Trả lời:
Các khoản tiền lương, tiền thưởng và lợi ích mà ông B nhận được có thể thuộc thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Căn cứ khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ tiền lương, tiền công, cụ thể là:
“Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức;
c) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở noi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác không mang tính chất tiền lương, tiền công do Chính phủ quy định.
Trong tình huống này, tiền lương 25 triệu đồng/tháng, tiền thưởng hiệu quả công việc, khoản hỗ trợ tiền nhà ở và gói nghỉ dưỡng do công ty chi trả là các khoản có tính chất tiền lương, tiền công hoặc lợi ích mà người lao động được hưởng từ quan hệ lao động.
Như vậy, các khoản tiền lương, tiền thưởng và lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền mà ông B nhận được từ công ty thuộc thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân, trừ khoản nào được pháp luật quy định là không tính vào thu nhập chịu thuế hoặc được miễn thuế.
Tình huống 3: Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, trúng thưởng và quà tặng
Bà C trong năm 2026 phát sinh nhiều khoản thu nhập khác nhau. Bà C bán một thửa đất cho người khác; chuyển nhượng một số cổ phiếu đang nắm giữ; trúng thưởng một xe máy trong chương trình khuyến mại; đồng thời được một người bạn tặng một chiếc ô tô phải đăng ký quyền sở hữu.
Bà C cho rằng các khoản này không phải tiền lương, tiền công nên không thuộc thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Hỏi: Các khoản thu nhập nêu trên của bà C có thuộc thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân không?
Trả lời:
Các khoản thu nhập nêu trên của bà C đều thuộc các nhóm thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định.
- Căn cứ khoản 5 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định thu nhập chịu thuế bao gồm:
“Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;
b) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở;
c) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, quyền thuê mặt nước;
d) Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản dưới mọi hình thức.”
- Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn trong đó có “Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán”
 - Căn cứ khoản 6 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định thu nhập chịu thuế bao gồm:
“Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:
a) Trúng thưởng xổ số;
b) Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại;
c) Trúng thưởng trong các hình thức đặt cược;
d) Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác, trừ trúng thưởng trong ca-si-no.”
-  Căn cứ khoản 9 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định thu nhập chịu thuế bao gồm: “Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng”.
Trong tình huống này, khoản thu từ bán thửa đất là thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; khoản thu từ chuyển nhượng cổ phiếu là thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; giải thưởng xe máy là thu nhập từ trúng thưởng; chiếc ô tô được tặng là quà tặng là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu.
Như vậy, các khoản thu nhập của bà C từ chuyển nhượng đất, chuyển nhượng cổ phiếu, trúng thưởng xe máy và nhận tặng cho ô tô đều thuộc thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân, trừ trường hợp được miễn thuế theo Điều 4 của Luật.
Tình huống 4: Miễn thuế đối với thu nhập từ nhận tặng cho bất động sản giữa cha mẹ và con
Ông A và bà B có một thửa đất ở tại phường X. Do con gái là chị H chuẩn bị lập gia đình, ông A và bà B lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất này cho chị H. Khi làm thủ tục sang tên, chị H băn khoăn không biết việc nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ cha mẹ có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không.
Hỏi: Chị H có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thửa đất được cha mẹ tặng cho không?
Trả lời:
Chị H không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ nhận tặng cho bất động sản nêu trên.
Căn cứ khoản 1 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định thu nhập được miễn thuế gồm: “Thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với 4 cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau”.
Trong tình huống này, ông A và bà B là cha mẹ đẻ của chị H. Việc ông A, bà B tặng cho quyền sử dụng đất cho chị H là quan hệ tặng cho bất động sản giữa cha mẹ đẻ với con đẻ. Do đó, khoản thu nhập từ việc nhận tặng cho thửa đất này thuộc diện được miễn thuế thu nhập cá nhân. Chị H được miễn thuế thu nhập cá nhân khi nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ cha mẹ đẻ.
Tình huống 5: Miễn thuế khi chuyển nhượng nhà ở, đất ở duy nhất
Bà M là cá nhân cư trú tại Việt Nam, có một căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại xã Y. Đây là nhà ở, đất ở duy nhất của bà M tại Việt Nam. Do chuyển nơi sinh sống, bà M ký hợp đồng chuyển nhượng căn nhà và thửa đất này cho ông K với giá 1,8 tỷ đồng.
Khi làm thủ tục chuyển nhượng, bà M cho rằng mình chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Hỏi: Bà M có được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng nhà, đất nêu trên không?
Trả lời:
Bà M được miễn thuế thu nhập cá nhân nếu đáp ứng đúng điều kiện chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất tại Việt Nam.
Căn cứ khoản 2 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định thu nhập được miễn thuế gồm: “Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất tại Việt Nam”.
Trong tình huống này, nếu bà M chứng minh được căn nhà và thửa đất chuyển nhượng là nhà ở, đất ở duy nhất của mình tại Việt Nam thì khoản thu nhập từ việc chuyển nhượng được miễn thuế thu nhập cá nhân. Bà M không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với việc chuyển nhượng nhà ở, đất ở duy nhất tại Việt Nam nếu có đủ căn cứ chứng minh theo quy định.
Tình huống 6: Miễn thuế đối với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp chưa qua chế biến
Gia đình ông T được Nhà nước giao đất để sản xuất nông nghiệp. Hằng năm, gia đình ông trực tiếp trồng rau, nuôi cá và bán sản phẩm sau khi thu hoạch cho thương lái. Các sản phẩm này chỉ được rửa sạch, phân loại, đóng gói thông thường, chưa chế biến thành sản phẩm khác.
Ông T băn khoăn không biết khoản thu nhập từ việc bán rau và cá do gia đình trực tiếp sản xuất, nuôi trồng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không.
Hỏi: Thu nhập của gia đình ông T có thuộc diện được miễn thuế thu nhập cá nhân không?
Trả lời:
Thu nhập của gia đình ông T thuộc diện được miễn thuế thu nhập cá nhân.
Căn cứ khoản 4 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định thu nhập được miễn thuế gồm: “Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường…”.
Trong tình huống này, gia đình ông T trực tiếp trồng rau, nuôi cá và bán sản phẩm chưa qua chế biến thành sản phẩm khác, chỉ qua sơ chế thông thường như rửa sạch, phân loại, đóng gói. Vì vậy, khoản thu nhập từ hoạt động này được miễn thuế thu nhập cá nhân. Gia đình ông T không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ bán rau và cá do gia đình trực tiếp sản xuất, nuôi trồng, chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường.
Tình huống 7: Miễn thuế đối với thu nhập từ học bổng
Chị N là sinh viên một trường đại học tại Việt Nam. Do có kết quả học tập xuất sắc, chị N được nhận học bổng 30 triệu đồng từ một tổ chức nước ngoài theo chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức này. Khi nhận học bổng, chị N lo lắng không biết khoản tiền này có phải kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân hay không.
Hỏi: Khoản học bổng chị N nhận được có phải nộp thuế thu nhập cá nhân không?
Trả lời:
Chị N không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản học bổng nêu trên.
Căn cứ khoản 10 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định thu nhập được miễn thuế gồm:
“Thu nhập từ học bổng, bao gồm:
a) Học bổng nhận được từ ngân sách nhà nước;
b) Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước theo chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó.”
Trong tình huống này, chị N nhận học bổng từ tổ chức nước ngoài theo chương trình hỗ trợ khuyến học. Do đó, khoản học bổng này thuộc diện thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân. Chị N không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản học bổng 30 triệu đồng nhận được từ chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức nước ngoài.
Tình huống 8: Cá nhân không cư trú chuyển nhượng phần vốn góp xác định được giá mua và chi phí
Ông A là cá nhân không cư trú tại Việt Nam, có phần vốn góp tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Phát, trụ sở tại Việt Nam. Trước đây, ông A mua phần vốn góp này với giá 500 triệu đồng. Tháng 9/2026, ông A chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp cho bà B với giá 900 triệu đồng.
Để thực hiện việc chuyển nhượng, ông A có các khoản chi phí hợp lý liên quan là 50 triệu đồng. Việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng được thực hiện tại nước ngoài. Ông A cho rằng giao dịch thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
Hỏi: Ông A có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng vốn không?
Trả lời:
Ông A phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn.
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn như sau:
“Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân không cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân (x) với thuế suất 20% theo từng lần phát sinh, không phân biệt việc chuyển nhượng được thực hiện tại Việt Nam hay tại nước ngoài. Trong đó, thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ (-) đi giá mua và các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn tại tổ chức, cá nhân Việt Nam…”
Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ đi giá mua và các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn tại tổ chức, cá nhân Việt Nam.
Trong tình huống này:
Giá chuyển nhượng là 900 triệu đồng; Giá mua phần vốn góp là 500 triệu đồng; Chi phí hợp lý liên quan là 50 triệu đồng.
Thu nhập tính thuế là:
900 triệu đồng - 500 triệu đồng - 50 triệu đồng = 350 triệu đồng.
Số thuế thu nhập cá nhân ông A phải nộp là:
350 triệu đồng x 20% = 70 triệu đồng.
Như vậy, ông A phải nộp 70 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp tại công ty ở Việt Nam, dù hợp đồng chuyển nhượng được ký tại nước ngoài.
Tình huống 9: Cá nhân không cư trú chuyển nhượng vốn nhưng không xác định được giá mua và chi phí
Bà C là cá nhân không cư trú tại Việt Nam, có phần vốn góp tại Công ty cổ phần An Bình, trụ sở tại Việt Nam. Tháng 10/2026, bà C chuyển nhượng phần vốn này cho một cá nhân khác với giá 600 triệu đồng.
Tuy nhiên, bà C không cung cấp được tài liệu chứng minh giá mua ban đầu của phần vốn góp và cũng không chứng minh được các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc chuyển nhượng vốn. Bà C cho rằng do không xác định được lãi thực tế nên không thể tính thuế thu nhập cá nhân.
Hỏi: Trường hợp của bà C được tính thuế thu nhập cá nhân như thế nào?
Trả lời:
Bà C vẫn phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với việc chuyển nhượng vốn.
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn như sau: “…Trường hợp không xác định được giá mua và các chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng vốn thì thuế thu nhập cá nhân được xác định bằng giá chuyển nhượng phần vốn tại tổ chức, cá nhân Việt Nam nhân (x) với thuế suất 2%”.
Trong tình huống này, bà C chuyển nhượng phần vốn góp tại Công ty cổ phần An Bình với giá 600 triệu đồng, nhưng không xác định được giá mua và chi phí liên quan. Vì vậy, số thuế thu nhập cá nhân phải nộp được xác định như sau:
600 triệu đồng x 2% = 12 triệu đồng.
Vậy, theo tình huống trên, bà C phải nộp 12 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp do không xác định được giá mua và chi phí liên quan.
Tình huống 10: Cá nhân không cư trú chuyển nhượng chứng khoán
Ông D là cá nhân không cư trú tại Việt Nam, có tài khoản giao dịch chứng khoán tại một công ty chứng khoán ở Việt Nam. Tháng 11/2026, ông D bán một số cổ phiếu đang nắm giữ với tổng giá chuyển nhượng là 1 tỷ đồng.
Ông D cho rằng việc bán cổ phiếu không mang lại nhiều lợi nhuận nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Hỏi: Ông D có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với giao dịch chuyển nhượng chứng khoán không?
Trả lời:
Ông D phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán.
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định: “Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân không cư trú được xác định bằng giá chuyển nhượng nhân (x) với thuế suất 0,1%”.
Trong tình huống này, ông D chuyển nhượng chứng khoán với tổng giá trị là 1 tỷ đồng. Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp được xác định như sau:
1 tỷ đồng x 0,1% = 1 triệu đồng.
Việc ông D lãi nhiều hay ít không làm thay đổi cách tính thuế, vì thuế đối với chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân không cư trú được tính trên giá chuyển nhượng. Ông D phải nộp 1 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với giao dịch chuyển nhượng chứng khoán có giá trị 1 tỷ đồng.
Tình huống 11: Cá nhân không cư trú chuyển nhượng căn hộ tại Việt Nam
Ông A là cá nhân không cư trú tại Việt Nam, có sở hữu một căn hộ chung cư tại thành phố X. Tháng 8/2026, ông A ký hợp đồng chuyển nhượng căn hộ này cho bà B với giá chuyển nhượng là 3 tỷ đồng.
Ông A cho rằng mình không cư trú tại Việt Nam nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với việc chuyển nhượng căn hộ.
Hỏi: Ông A có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với việc chuyển nhượng căn hộ không?
Trả lời:
Ông A phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 24 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định: “Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản của cá nhân không cư trú được xác định bằng giá chuyển nhượng nhân (x) với thuế suất 2%”.
 Trong tình huống này, ông A là cá nhân không cư trú nhưng có phát sinh thu nhập từ việc chuyển nhượng căn hộ tại Việt Nam. Giá chuyển nhượng căn hộ là 3 tỷ đồng.
Số thuế thu nhập cá nhân ông A phải nộp là:
3 tỷ đồng x 2% = 60 triệu đồng.
Vậy, ông A phải nộp 60 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với việc chuyển nhượng căn hộ có giá 3 tỷ đồng.
Tình huống 12: Thu nhập từ nhận quà tặng có giá trị vượt mức miễn thuế
Bà B là cá nhân cư trú tại Việt Nam. Trong năm 2026, bà được một người bạn tặng một chiếc ô tô có giá trị 800 triệu đồng. Việc tặng cho được thực hiện hợp pháp theo quy định của pháp luật và hoàn tất thủ tục sang tên.
Bà B cho rằng đây là tài sản được bạn bè tặng cho, không phải do lao động hay kinh doanh mà có nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Hỏi: Ý kiến của bà B có đúng không?
Trả lời:
Ý kiến của bà B là không đúng.
Theo Điều 18 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định:
"Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân (×) với thuế suất 10%.
Thu nhập tính thuế từ nhận thừa kế, quà tặng là phần giá trị tài sản thừa kế, quà tặng vượt trên 20 triệu đồng mà người nộp thuế nhận được theo từng lần phát sinh."
Trong tình huống này, bà B nhận một chiếc ô tô trị giá 800 triệu đồng là quà tặng. Do giá trị tài sản nhận được vượt 20 triệu đồng theo từng lần phát sinh, nên phần thu nhập tính thuế là:
800 triệu đồng − 20 triệu đồng = 780 triệu đồng.
Số thuế thu nhập cá nhân bà B phải nộp là:
780 triệu đồng × 10% = 78 triệu đồng.
Như vậy, bà B phải nộp 78 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ nhận quà tặng. Việc tài sản được tặng cho mà không phải là tiền lương hay thu nhập từ hoạt động kinh doanh không làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế khi thuộc diện chịu thuế theo quy định của pháp luật.
Tình huống 13: Thuế thu nhập cá nhân đối với tiền bản quyền của cá nhân không cư trú
Ông A là cá nhân không cư trú tại Việt Nam, là chủ sở hữu một phần mềm quản lý bán hàng. Tháng 9/2026, ông A ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng phần mềm này cho Công ty Minh Phát tại Việt Nam trong thời hạn 03 năm. Theo hợp đồng, Công ty Minh Phát trả cho ông A khoản tiền bản quyền là 120 triệu đồng.
Ông A cho rằng mình là cá nhân không cư trú tại Việt Nam nên khoản tiền bản quyền nhận được từ hợp đồng này không phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
Hỏi: Ông A có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản tiền bản quyền nêu trên không?
Trả lời:
Ông A phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền bản quyền.
Căn cứ khoản 1 Điều 25 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định: “Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền bản quyền của cá nhân không cư trú được xác định bằng phần thu nhập vượt trên 20 triệu đồng theo từng hợp đồng chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ tại Việt Nam nhân (x) với thuế suất 5%”.
Trong tình huống này, ông A nhận tiền bản quyền là 120 triệu đồng từ hợp đồng chuyển quyền sử dụng phần mềm tại Việt Nam. Phần thu nhập tính thuế được xác định như sau:
120 triệu đồng - 20 triệu đồng = 100 triệu đồng.
Số thuế thu nhập cá nhân ông A phải nộp là:
100 triệu đồng x 5% = 5 triệu đồng.
Như vậy, ông A phải nộp 5 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với khoản tiền bản quyền 120 triệu đồng từ hợp đồng chuyển quyền sử dụng phần mềm tại Việt Nam.
Tình huống 14: Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại của cá nhân không cư trú
Bà B là cá nhân không cư trú tại Việt Nam, sở hữu một mô hình kinh doanh đồ uống mang thương hiệu riêng. Tháng 10/2026, bà B ký hợp đồng nhượng quyền thương mại cho Công ty An Bình tại Việt Nam được sử dụng thương hiệu, công thức pha chế, quy trình vận hành và bộ nhận diện cửa hàng.
Theo hợp đồng, Công ty An Bình trả cho bà B khoản phí nhượng quyền thương mại là 300 triệu đồng. Bà B cho rằng hợp đồng nhượng quyền do bà ký từ nước ngoài nên không thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
Hỏi: Bà B có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản phí nhượng quyền thương mại không?
Trả lời:
Bà B phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại tại Việt Nam.
Căn cứ khoản 2 Điều 25 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định: “Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại của cá nhân không cư trú được xác định bằng phần thu nhập vượt trên 20 triệu đồng theo từng hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam nhân (x) với thuế suất 5%”.
Trong tình huống này, bà B nhận khoản phí nhượng quyền thương mại là 300 triệu đồng từ hợp đồng nhượng quyền tại Việt Nam. Phần thu nhập tính thuế là:
300 triệu đồng - 20 triệu đồng = 280 triệu đồng.
Số thuế thu nhập cá nhân bà B phải nộp là:
280 triệu đồng x 5% = 14 triệu đồng.
Như vậy, bà B phải nộp 14 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với khoản phí nhượng quyền thương mại 300 triệu đồng phát sinh từ hợp đồng nhượng quyền tại Việt Nam.
Tình huống 15: Cá nhân không cư trú trúng thưởng tại Việt Nam
Ông A là cá nhân không cư trú tại Việt Nam. Trong thời gian du lịch tại Việt Nam, ông A tham gia chương trình quay số trúng thưởng do một trung tâm thương mại tổ chức và trúng một chiếc xe máy trị giá 60 triệu đồng.
Khi nhận giải thưởng, ông A cho rằng mình là người nước ngoài, không cư trú tại Việt Nam nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với giải thưởng này.
Hỏi: Ông A có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với giải thưởng nêu trên không?
Trả lời:
Ông A phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ trúng thưởng tại Việt Nam.
Căn cứ Điều 26 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định: “Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ trúng thưởng, nhận thừa kế, quà tặng của cá nhân không cư trú được xác định bằng phần giá trị vượt trên 20 triệu đồng theo từng lần trúng thưởng, nhận thừa kế, quả tặng tại Việt Nam nhân (x) với thuế suất 10%”.
Trong tình huống này, ông A trúng thưởng chiếc xe máy trị giá 60 triệu đồng. Phần giá trị tính thuế là:
60 triệu đồng - 20 triệu đồng = 40 triệu đồng.
Số thuế thu nhập cá nhân ông A phải nộp là:
40 triệu đồng x 10% = 4 triệu đồng.
Như vậy, ông A phải nộp 4 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với giải thưởng xe máy trị giá 60 triệu đồng nhận được tại Việt Nam.
Tình huống 16: Thu nhập từ nhượng quyền thương mại vượt ngưỡng chịu thuế
Ông A là cá nhân cư trú tại Việt Nam. Ông là chủ sở hữu thương hiệu cà phê "ABC Coffee". Tháng 9/2026, ông A ký hợp đồng nhượng quyền thương mại với Công ty X và nhận khoản phí nhượng quyền là 120 triệu đồng. Khoản tiền này được Công ty X thanh toán một lần ngay sau khi ký hợp đồng.
Ông A cho rằng khoản tiền nhượng quyền chỉ phát sinh một lần theo hợp đồng, không phải là thu nhập thường xuyên nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Hỏi: Ý kiến của ông A có đúng không?
Trả lời:
Ý kiến của ông A là không đúng.
Theo Điều 17 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định:
“Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại của cá nhân cư trú được tính bằng thu nhập tính thuế nhân (×) với thuế suất 5%.
Thu nhập tính thuế từ nhượng quyền thương mại là phần thu nhập vượt trên 20 triệu đồng mà người nộp thuế nhận được theo từng hợp đồng nhượng quyền thương mại”.
Trong tình huống này, ông A là cá nhân cư trú và nhận 120 triệu đồng theo một hợp đồng nhượng quyền thương mại. Do khoản thu nhập này vượt 20 triệu đồng theo hợp đồng, nên phần thu nhập tính thuế là:
120 triệu đồng − 20 triệu đồng = 100 triệu đồng.
Số thuế thu nhập cá nhân ông A phải nộp là:
100 triệu đồng × 5% = 5 triệu đồng.
Như vậy, ông A phải nộp 5 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ nhượng quyền thương mại theo hợp đồng nêu trên. Việc khoản thu nhập được thanh toán một lần hay không phải là thu nhập thường xuyên không làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật.
Tình huống 17: Cá nhân không cư trú chuyển nhượng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”
Ông A là cá nhân không cư trú tại Việt Nam, có sở hữu một tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”. Tháng 9/2026, ông A chuyển nhượng tên miền này cho Công ty Minh Phát tại Việt Nam với giá 100 triệu đồng.
Khi nhận tiền, ông A cho rằng mình là cá nhân không cư trú và việc chuyển nhượng tên miền không phải là tiền lương, tiền công hay hoạt động kinh doanh nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
Hỏi: Ông A có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu từ chuyển nhượng tên miền không?
Trả lời:
Ông A phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập khác.
Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định: “Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập khác của cá nhân không cư trú quy định tại các điểm a, b và c khoản 10 Điều 3 của Luật này được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân (x) với thuế suất 5%. Thu nhập tính thuế là phần thu nhập vượt trên 20 triệu đồng mà người nộp thuế nhận được theo từng lần phát sinh”
Theo điểm a khoản 10 Điều 3, thu nhập từ chuyển nhượng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” là một khoản thu nhập khác.
Như vậy, trong tình huống này, ông A chuyển nhượng tên miền với giá 100 triệu đồng. Phần thu nhập tính thuế là:
100 triệu đồng - 20 triệu đồng = 80 triệu đồng.
Số thuế thu nhập cá nhân ông A phải nộp là:
80 triệu đồng x 5% = 4 triệu đồng.
Theo tình huống trên, ông A phải nộp 4 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu từ chuyển nhượng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”.
Tình huống 18: Cá nhân không cư trú chuyển nhượng vàng miếng tại Việt Nam
Bà B là cá nhân không cư trú tại Việt Nam. Trong thời gian ở Việt Nam, bà B chuyển nhượng một số vàng miếng cho một doanh nghiệp kinh doanh vàng với tổng giá chuyển nhượng là 500 triệu đồng.
Bà B cho rằng đây là tài sản cá nhân đã có từ trước, khi bán lại không phải là hoạt động kinh doanh thường xuyên nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Hỏi: Bà B có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với việc chuyển nhượng vàng miếng không?
Trả lời:
Bà B phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập khác từ chuyển nhượng vàng miếng.
Căn cứ khoản 2 Điều 27 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định: “Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập khác của cá nhân không cư trú quy định tại điểm d và điểm đ khoản 10 Điều 3 của Luật này được xác định bằng giá chuyển nhượng nhân (x) với thuế suất 0,1%”.
Theo điểm đ khoản 10 Điều 3, thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng là một khoản thu nhập khác.
Như vậy, trong tình huống này, bà B chuyển nhượng vàng miếng với tổng giá chuyển nhượng là 500 triệu đồng. Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp được xác định như sau:
500 triệu đồng x 0,1% = 500.000 đồng.
Bà B phải nộp 500.000 đồng thuế thu nhập cá nhân đối với việc chuyển nhượng vàng miếng có giá trị 500 triệu đồng.
Tình huống 19: Xác định thời điểm tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân không cư trú
Ông A là cá nhân không cư trú tại Việt Nam. Tháng 8/2026, ông A ký hợp đồng cung cấp một lô thiết bị cho Công ty Minh Phát tại Việt Nam với giá trị 400 triệu đồng. Ngày 15/8/2026, ông A xuất hóa đơn bán hàng cho Công ty Minh Phát, nhưng theo thỏa thuận, đến ngày 15/9/2026 Công ty Minh Phát mới thanh toán tiền cho ông A.
Ông A cho rằng do chưa nhận được tiền trong tháng 8/2026 nên chưa phát sinh thời điểm xác định thu nhập tính thuế.
Hỏi: Thời điểm xác định thu nhập tính thuế của ông A là thời điểm nào?
Trả lời:
Ý kiến của ông A là chưa đúng.
Căn cứ khoản 1 Điều 28 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định:  “Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập quy định tại Điều 20 của Luật này là thời điểm cá nhân không cư trú nhận được thu nhập hoặc thời điểm xuất hoá đơn bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ”.
Trong tình huống này, mặc dù ông A chưa nhận được tiền vào ngày 15/8/2026, nhưng ông A đã xuất hóa đơn bán hàng cho Công ty Minh Phát vào ngày này. Vì vậy, thời điểm xác định thu nhập tính thuế là ngày 15/8/2026.
Thu nhập tính thuế của ông A được xác định tại thời điểm xuất hóa đơn bán hàng, tức ngày 15/8/2026, không phải chờ đến khi ông A thực nhận tiền vào ngày 15/9/2026.
Tình huống 20: Xác định thời điểm tính thuế đối với chuyển nhượng bất động sản của cá nhân không cư trú
Bà B là cá nhân không cư trú tại Việt Nam, có sở hữu một căn hộ tại thành phố X. Ngày 10/10/2026, bà B ký hợp đồng chuyển nhượng căn hộ cho ông C với giá 2,5 tỷ đồng. Hợp đồng được công chứng và có hiệu lực từ ngày ký. Đến ngày 25/10/2026, ông C mới hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu căn hộ tại cơ quan có thẩm quyền.
Bà B cho rằng thời điểm xác định thu nhập tính thuế phải là ngày 25/10/2026, khi bên mua hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu căn hộ.
Hỏi: Thời điểm xác định thu nhập tính thuế trong trường hợp này là thời điểm nào?
Trả lời:
Ý kiến của bà B chưa đầy đủ.
Căn cứ khoản 4 Điều 28 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định:  “Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập quy định tại Điều 24 của Luật này là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật hoặc thời điểm đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu bất động sản”.
Trong tình huống này, hợp đồng chuyển nhượng căn hộ giữa bà B và ông C được công chứng, có hiệu lực từ ngày 10/10/2026. Do đó, thời điểm xác định thu nhập tính thuế có thể được xác định là ngày hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực, tức ngày 10/10/2026. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế của bà B là ngày 10/10/2026, khi hợp đồng chuyển nhượng căn hộ có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
Tình huống 21: Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ trúng thưởng
Chị P là cá nhân cư trú tại Việt Nam. Tháng 8/2026, chị P tham gia chương trình quay số trúng thưởng do một siêu thị tổ chức và trúng giải thưởng là một xe máy trị giá 70 triệu đồng.
Khi nhận giải, chị P cho rằng đây là phần thưởng may mắn, không phải thu nhập từ lao động hay kinh doanh nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Hỏi: Chị P có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với giải thưởng này không?
Trả lời:
Chị P phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ trúng thưởng.
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 28 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định: 
“1. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ trúng thưởng của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân (x) với thuế suất 10%.
2. Thu nhập tính thuế từ trúng thưởng là phần giá trị giải thưởng vượt trên 20 triệu đồng mà người nộp thuế nhận được theo từng lần trúng thưởng”.
Trong tình huống này, chị P trúng thưởng xe máy trị giá 70 triệu đồng. Phần giá trị giải thưởng vượt trên 20 triệu đồng là:
70 triệu đồng - 20 triệu đồng = 50 triệu đồng.
Số thuế thu nhập cá nhân chị P phải nộp là:
50 triệu đồng x 10% = 5 triệu đồng.
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm siêu thị trả giải thưởng cho chị P.
Chị P phải nộp 5 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với giải thưởng xe máy trị giá 70 triệu đồng.
Tình huống 22: Thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng phần vốn góp
Bà N là cá nhân cư trú tại Việt Nam, có góp vốn vào Công ty trách nhiệm hữu hạn Hòa Phát với giá trị vốn góp ban đầu là 300 triệu đồng. Sau một thời gian kinh doanh, bà N chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp này cho ông K với giá 500 triệu đồng.
Để thực hiện việc chuyển nhượng, bà N phải chi 20 triệu đồng cho các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc làm thủ tục chuyển nhượng vốn. Bà N cho rằng mình chỉ chuyển lại phần vốn đã góp trong công ty nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Hỏi: Bà N có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng vốn không?
Trả lời:
Bà N phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn.
Căn cứ khoản 1 Điều 13 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định: 
“Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân (x) với thuế suất 20% theo từng lần chuyển nhượng. Trong đó, thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ (-) đi giá mua và các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn”.
Trong tình huống này:
Giá chuyển nhượng là 500 triệu đồng; Giá mua phần vốn góp là 300 triệu đồng; Chi phí hợp lý liên quan đến việc chuyển nhượng là 20 triệu đồng.
Thu nhập tính thuế của bà N là:
500 triệu đồng - 300 triệu đồng - 20 triệu đồng = 180 triệu đồng.
Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp là:
180 triệu đồng x 20% = 36 triệu đồng.
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm giao dịch chuyển nhượng vốn hoàn thành theo quy định của pháp luật.
Bà N phải nộp 36 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp.
Tình huống 23: Xác định thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công
Chị M là cá nhân cư trú tại Việt Nam, làm việc theo hợp đồng lao động tại Công ty cổ phần Hoàng Gia. Hằng tháng, chị M được trả tiền lương, phụ cấp và tiền thưởng theo kết quả công việc. Ngoài ra, chị M còn nhận thêm một khoản tiền công tư vấn chuyên môn từ một doanh nghiệp khác.
Trong kỳ tính thuế, chị M có tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc theo quy định. Chị M cũng đăng ký giảm trừ gia cảnh cho bản thân và một người phụ thuộc. Khi nhận thông báo khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, chị M cho rằng khoản tiền công tư vấn do doanh nghiệp khác trả không phải cộng chung vào thu nhập từ tiền lương, tiền công tại Công ty cổ phần Hoàng Gia.
Hỏi: Việc xác định thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của chị M được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
- Căn cứ khoản 1 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định:
“Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế quy định tại khoản 2 Điều này, không phân biệt nơi trả thu nhập, nhân (x) với thuế suất tại Biểu thuế lũy tiến từng phần…”
- Căn cứ khoản 2 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định:
“Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, trừ (-) đi các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ không vượt quá mức do Chính phủ quy định và các khoản giảm trừ quy định của Luật này”.
Như vậy, thu nhập từ tiền lương tại Công ty cổ phần Hoàng Gia và khoản tiền công tư vấn do doanh nghiệp khác trả cho chị M đều là thu nhập từ tiền lương, tiền công. Các khoản này phải được tổng hợp để xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế. Sau đó, chị M được trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc và các khoản giảm trừ hợp pháp trước khi tính thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.
Về thời điểm xác định thu nhập tính thuế, khoản 3 Điều 8 quy định là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Như vậy trong tình huống trên, chị M phải tổng hợp các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công nhận được trong kỳ tính thuế, kể cả khoản tiền công tư vấn do doanh nghiệp khác chi trả, sau đó trừ các khoản bảo hiểm và giảm trừ theo quy định để xác định thu nhập tính thuế. Số thuế phải nộp được tính theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.
Tình huống 24: Cá nhân cho thuê bất động sản có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm
Ông K là cá nhân cư trú tại Việt Nam, có một căn nhà mặt đường cho Công ty Minh An thuê làm văn phòng. Theo hợp đồng, tiền thuê nhà là 60 triệu đồng/tháng, tương đương 720 triệu đồng/năm. Ông K cho rằng đây chỉ là tài sản cá nhân cho thuê, không phải hoạt động kinh doanh thường xuyên nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Hỏi: Ông K có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu từ cho thuê nhà không?
Trả lời:
Ông K phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cho thuê bất động sản.
- Căn cứ khoản 1 Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định:
“Cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ”.
- Căn cứ khoản 4 Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định:
“Cá nhân cho thuê bất động sản, trừ hoạt động kinh doanh lưu trú, nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định bằng phần doanh thu vượt trên mức quy định tại khoản 1 Điều này nhân (x) với thuế suất 5%”.
Trong tình huống này, ông K có doanh thu cho thuê nhà là 720 triệu đồng/năm, vượt 220 triệu đồng so với mức 500 triệu đồng.
Số thuế thu nhập cá nhân ông K phải nộp được xác định như sau:
220 triệu đồng x 5% = 11 triệu đồng.
Như vậy, ông K phải nộp 11 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với phần doanh thu cho thuê bất động sản vượt trên 500 triệu đồng/năm.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn biết tới Cổng thông tin PBGDPL Thái Nguyên qua đâu ?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập542
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm541
  • Hôm nay103,837
  • Tháng hiện tại1,272,373
  • Tổng lượt truy cập36,306,328
Làm bài thi
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây