10 tình huống tuyên truyền pháp luật

Thứ ba - 04/08/2026 07:44 10 0
Tình huống tuyên truyền pháp luật về lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; điện lực; nông nghiệp và môi trường; giao thông đường bộ…
Tình huống 1:
Đội Quản lý thị trường phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh A kiểm tra Công ty M và phát hiện công ty đang buôn bán một lô thuốc bảo vệ thực vật vi phạm. Sau khi lập biên bản, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã đề xuất tịch thu toàn bộ tang vật vi phạm.
Đại diện Công ty M cho rằng Chi cục trưởng chỉ có thẩm quyền xử phạt tiền, không có quyền quyết định tịch thu tang vật nên đề nghị hủy bỏ biện pháp này.
Theo quy định của pháp luật, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật hay không?
Trả lời:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường được quy định tại Điều 43 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Theo điểm d khoản 2 Điều 43 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026:
“d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.”
Như vậy, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường có thẩm quyền quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật khi xử lý các hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền.
Trong tình huống trên, nếu vụ việc thuộc thẩm quyền xử phạt của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thì người này có quyền quyết định tịch thu tang vật vi phạm hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 43 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Tình huống 2:
Trong quá trình kiểm tra hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, Chủ tịch UBND xã A phát hiện ông H có hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ thực vật. Sau khi lập biên bản, Chủ tịch UBND xã ban hành quyết định phạt tiền 22.000.000 đồng đối với ông H.
Ông H cho rằng Chủ tịch UBND cấp xã không có thẩm quyền xử phạt với mức tiền lớn như vậy nên đề nghị hủy quyết định xử phạt.
Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền phạt tiền đến bao nhiêu đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật? Quyết định xử phạt nêu trên có đúng thẩm quyền không?
Trả lời:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND cấp xã được quy định tại Điều 44 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Theo điểm b khoản 1 Điều 44 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026:
“b) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật; phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phân bón.”
Trong tình huống trên, Chủ tịch UBND xã đã quyết định phạt tiền 22.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật. Mức phạt này không vượt quá thẩm quyền xử phạt tối đa là 25.000.000 đồng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 44 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Như vậy, nếu hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật thì quyết định phạt tiền 22.000.000 đồng của Chủ tịch UBND cấp xã là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Tình huống 3:
Qua thanh tra, Chủ tịch UBND tỉnh A xem xét xử lý Công ty N về hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (không thuộc lĩnh vực phân bón). Căn cứ tính chất, mức độ vi phạm, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành quyết định phạt tiền 45.000.000 đồng đối với công ty.
Đại diện Công ty N cho rằng mức phạt trên vượt quá thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh nên có đơn đề nghị xem xét lại quyết định xử phạt.
Theo quy định của pháp luật, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền phạt tiền đến bao nhiêu đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật? Quyết định xử phạt nêu trên có đúng thẩm quyền không?
Trả lời:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND cấp tỉnh được quy định tại Điều 44 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Theo điểm b khoản 2 Điều 44 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026:
“b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật; phạt tiền đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phân bón.”
Trong tình huống trên, Chủ tịch UBND tỉnh đã quyết định phạt tiền 45.000.000 đồng đối với Công ty N về hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón). Mức phạt này không vượt quá thẩm quyền xử phạt tối đa là 50.000.000 đồng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 44 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Như vậy, nếu hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật thì quyết định phạt tiền 45.000.000 đồng của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Tình huống 4:
Trong quá trình tuần tra, kiểm soát trên địa bàn, một Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ phát hiện ông P có hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ thực vật. Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính, chiến sĩ Công an đã ban hành quyết định phạt tiền 4.500.000 đồng đối với ông P.
Ông P cho rằng chiến sĩ Công an không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này nên từ chối chấp hành quyết định xử phạt.
Theo quy định của pháp luật, Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật hay không? Mức phạt tiền tối đa được áp dụng là bao nhiêu?
Trả lời:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ được quy định tại Điều 45 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Theo điểm b khoản 1 Điều 45 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026:
“b) Phạt tiền đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật; phạt tiền đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phân bón.”
Trong tình huống trên, Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ đã quyết định phạt tiền 4.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ thực vật. Mức phạt này không vượt quá thẩm quyền xử phạt tối đa là 5.000.000 đồng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 45 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Như vậy, Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật đến 5.000.000 đồng. Trường hợp trên, quyết định phạt tiền 4.500.000 đồng là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Tình huống 5:
Trong quá trình xử lý một vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, Trưởng đồn Công an xác định tổ chức vi phạm thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật có thời hạn.
Đại diện tổ chức vi phạm cho rằng Trưởng đồn Công an chỉ có quyền xử phạt tiền, không có thẩm quyền tước quyền sử dụng giấy phép hoặc đình chỉ hoạt động nên đề nghị hủy bỏ quyết định xử phạt bổ sung.
Theo quy định của pháp luật, Trưởng đồn Công an có thẩm quyền tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hay không?
Trả lời:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đồn Công an, Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động cấp tiểu đoàn, Thủy đội trưởng, Trưởng trạm, Đội trưởng được quy định tại Điều 45 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Theo điểm c khoản 3 Điều 45 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026:
“c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn.”
Như vậy, Trưởng đồn Công an và các chức danh được quy định tại khoản 3 Điều 45 có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn khi xử lý vi phạm hành chính theo đúng quy định của pháp luật.
Do đó, nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết, Trưởng đồn Công an có quyền quyết định tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 45 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Tình huống 6:
Trong quá trình kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, lực lượng Công an tỉnh A phát hiện Công ty H đang buôn bán một lô thuốc bảo vệ thực vật là tang vật vi phạm hành chính. Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính và hoàn thiện hồ sơ, vụ việc được chuyển đến người có thẩm quyền để xem xét, xử lý theo quy định.
Đại diện Công ty H cho rằng người có thẩm quyền chỉ được xử phạt tiền, không có quyền quyết định tịch thu toàn bộ tang vật vi phạm.
Theo quy định của pháp luật, Giám đốc Công an cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hay không?
Trả lời:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Giám đốc Công an cấp tỉnh được quy định tại Điều 45 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Theo điểm d khoản 6 Điều 45 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026:
“d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.”
Như vậy, Giám đốc Công an cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính khi giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Do đó, nếu hồ sơ vụ việc được chuyển đến Giám đốc Công an cấp tỉnh để xử lý thì người này có quyền quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định tại điểm d khoản 6 Điều 45 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Tình huống 7:
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại khu vực cửa khẩu, Đồn Biên phòng A phát hiện một doanh nghiệp có hành vi vi phạm trong lĩnh vực kiểm dịch thực vật khi vận chuyển lô hàng thực vật qua biên giới. Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính và xác minh vụ việc, hồ sơ được chuyển đến Đồn trưởng Đồn Biên phòng để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
Đại diện doanh nghiệp cho rằng Đồn trưởng Đồn Biên phòng không có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Theo quy định của pháp luật, Đồn trưởng Đồn Biên phòng có thẩm quyền phạt tiền đến bao nhiêu đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật?
Trả lời:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Đồn trưởng Đồn Biên phòng, Hải đội trưởng Hải đội Biên phòng, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Biên phòng Cửa khẩu cảng được quy định tại Điều 46 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Theo điểm b khoản 3 Điều 46 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026:
“b) Phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật; phạt tiền đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phân bón.”
Như vậy, Đồn trưởng Đồn Biên phòng có thẩm quyền phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật; đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phân bón theo quy định của pháp luật.
Do đó, nếu vụ việc thuộc thẩm quyền xử lý của Đồn trưởng Đồn Biên phòng thì người này được quyền ban hành quyết định xử phạt trong phạm vi mức tiền nêu trên theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 46 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Tình huống 8:
Trong quá trình tuần tra, kiểm soát trên vùng biển thuộc phạm vi quản lý, lực lượng Cảnh sát biển phát hiện một doanh nghiệp vận chuyển lô hàng có hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật. Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính và hoàn thiện hồ sơ, vụ việc được chuyển đến Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
Đại diện doanh nghiệp cho rằng Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển không có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Theo quy định của pháp luật, Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển có thẩm quyền phạt tiền đến bao nhiêu đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật?
Trả lời:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển được quy định tại Điều 47 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Theo điểm b khoản 4 Điều 47 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026:
“b) Phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật; phạt tiền đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phân bón.”
Như vậy, Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển có thẩm quyền phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật; đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phân bón theo quy định của pháp luật.
Do đó, nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển thì người này được quyền ban hành quyết định xử phạt trong phạm vi mức tiền nêu trên theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 47 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Tình huống 9:
Trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với một lô hàng nhập khẩu, Chi cục Hải quan khu vực phát hiện doanh nghiệp X có hành vi vi phạm trong lĩnh vực kiểm dịch thực vật. Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính và xác minh vụ việc, hồ sơ được chuyển đến Đội trưởng Hải quan cửa khẩu để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
Đại diện doanh nghiệp cho rằng Đội trưởng Hải quan chỉ có thẩm quyền xử lý các vi phạm về hải quan, không có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Theo quy định của pháp luật, Đội trưởng Hải quan cửa khẩu có thẩm quyền phạt tiền đến bao nhiêu đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật?
Trả lời:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Đội trưởng Hải quan cửa khẩu/ngoài cửa khẩu, Đội trưởng Đội Phúc tập và Kiểm tra sau thông quan, Đội trưởng Đội Thông quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát hải quan thuộc Chi cục Hải quan khu vực, Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu thuộc Chi cục Điều tra chống buôn lậu và Đội trưởng Đội Kiểm tra sau thông quan khu vực thuộc Chi cục Kiểm tra sau thông quan được quy định tại Điều 48 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Theo điểm b khoản 2 Điều 48 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026:
“b) Phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật; phạt tiền đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phân bón.”
Như vậy, Đội trưởng Hải quan cửa khẩu và các chức danh quy định tại khoản 2 Điều 48 có thẩm quyền phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật; đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phân bón theo quy định của pháp luật.
Do đó, nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Đội trưởng Hải quan thì người này được quyền ban hành quyết định xử phạt trong phạm vi mức tiền nêu trên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 48 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Tình huống 10:
Trong quá trình kiểm tra hoạt động kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn, lực lượng Quản lý thị trường phát hiện Công ty P có hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ thực vật. Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính và hoàn thiện hồ sơ, vụ việc được chuyển đến Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
Đại diện Công ty P cho rằng Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường không có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Theo quy định của pháp luật, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường có thẩm quyền phạt tiền đến bao nhiêu đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật?
Trả lời:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường, Trưởng phòng Nghiệp vụ Quản lý thị trường thuộc Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước được quy định tại Điều 49 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.
Theo điểm b khoản 3 Điều 49 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026:
“b) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật; phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phân bón.”
Như vậy, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường và Trưởng phòng Nghiệp vụ Quản lý thị trường thuộc Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước có thẩm quyền phạt tiền đến 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật; đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phân bón theo quy định của pháp luật.
Do đó, nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường thì người này được quyền ban hành quyết định xử phạt trong phạm vi mức tiền nêu trên theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 49 Nghị định số 214/2026/NĐ-CP.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn biết tới Cổng thông tin PBGDPL Thái Nguyên qua đâu ?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập679
  • Thành viên online1
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm675
  • Hôm nay137,142
  • Tháng hiện tại436,545
  • Tổng lượt truy cập39,439,891
Làm bài thi
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây