60 CÂU HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT LUẬT THỦ ĐÔ NĂM 2026

Thứ ba - 25/08/2026 21:50 5 0

Câu 1: Theo Luật Thủ đô năm 2026, đô thị trung tâm, khu vực nội đô lịch sử và Vùng Thủ đô được hiểu như thế nào? Các khu vực này có mối quan hệ và ý nghĩa như thế nào trong tổ chức không gian, bảo tồn và phát triển Thủ đô?
Trả lời:
Theo Điều 3 Luật Thủ đô năm 2026, các khái niệm đô thị trung tâm, khu vực nội đô lịch sử và Vùng Thủ đô được xác định cụ thể như sau:
Khoản 1 Điều 3 Luật Thủ đô năm 2026 quy định: “Đô thị trung tâm là khu vực đô thị đảm nhiệm các chức năng chính của Thủ đô, gồm khu vực nội đô lịch sử và các khu vực liền kề được xác định trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô.”
Như vậy, đô thị trung tâm là không gian đô thị giữ vai trò nòng cốt, nơi tập trung và thực hiện các chức năng quan trọng của Thủ đô. Đô thị trung tâm không chỉ bao gồm khu vực nội đô lịch sử mà còn bao gồm các khu vực liền kề được xác định trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô.
Khoản 2 Điều 3 Luật Thủ đô năm 2026 quy định: “Khu vực nội đô lịch sử là khu vực bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội và các giá trị truyền thống của người Hà Nội được xác định trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô.”
Khu vực nội đô lịch sử có ý nghĩa đặc biệt bởi đây là không gian lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa và truyền thống đặc trưng của Thăng Long - Hà Nội. Do đó, trọng tâm của khu vực này không đơn thuần là phát triển đô thị mà còn là bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa, cảnh quan, kiến trúc và những giá trị truyền thống gắn với lịch sử hình thành, phát triển của Thủ đô.
Khoản 3 Điều 3 Luật Thủ đô năm 2026 quy định: “Vùng Thủ đô là khu vực liên kết phát triển kinh tế - xã hội gồm thành phố Hà Nội (sau đây gọi là Thành phố) và các đơn vị hành chính cấp tỉnh có địa giới hành chính liền kề với Thành phố.”
Việc phân định các không gian này có ý nghĩa quan trọng trong quản lý và phát triển Thủ đô. Trong đó, khu vực nội đô lịch sử cần ưu tiên bảo tồn và phát huy giá trị di sản; đô thị trung tâm cần được tổ chức, phát triển đồng bộ, hiện đại nhưng phải bảo đảm sự hài hòa với các giá trị lịch sử, văn hóa; còn Vùng Thủ đô cần được phát triển trên cơ sở tăng cường liên kết vùng và phân bổ hợp lý các nguồn lực, chức năng đô thị.
Câu 2: Khi Luật Thủ đô và luật, nghị quyết khác của Quốc hội có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản nào? Quy định này có ý nghĩa như thế nào?
Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 5 Luật Thủ đô năm 2026:
1. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Thủ đô và luật, nghị quyết khác của Quốc hội về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật Thủ đô, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.”
Như vậy, Luật Thủ đô năm 2026 xác lập nguyên tắc ưu tiên áp dụng Luật Thủ đô trong trường hợp giữa Luật Thủ đô và luật, nghị quyết khác của Quốc hội có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Đây là quy định có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù đối với Thủ đô.
Có thể hiểu, khi giải quyết một vấn đề cụ thể phát sinh trên địa bàn Thủ đô mà cả Luật Thủ đô và một luật hoặc nghị quyết khác của Quốc hội cùng điều chỉnh nhưng quy định không giống nhau, thì về nguyên tắc, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng quy định của Luật Thủ đô. Quy định này góp phần bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật, đồng thời tạo điều kiện để các cơ chế đặc thù được quy định riêng cho Thủ đô phát huy hiệu quả trên thực tế.
Quy định này giúp hạn chế tình trạng lúng túng, thiếu thống nhất khi cùng một vấn đề có nhiều quy định pháp luật khác nhau cùng điều chỉnh; đồng thời khẳng định vai trò của Luật Thủ đô là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù đối với Hà Nội. Đây cũng là cơ chế bảo đảm để những chính sách được thiết kế riêng cho Thủ đô có thể được triển khai thực chất, phù hợp với yêu cầu quản trị một đô thị đặc biệt.
Câu 3: Theo Luật Thủ đô năm 2026, đơn vị hành chính thuộc Thành phố gồm những loại nào? Việc quy định các loại đơn vị hành chính này có ý nghĩa như thế nào đối với tổ chức và quản lý Thủ đô?
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 6 Luật Thủ đô năm 2026:
1. Đơn vị hành chính thuộc Thành phố bao gồm xã, phường và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.”
Như vậy, theo Luật Thủ đô năm 2026, đơn vị hành chính thuộc Thành phố được tổ chức theo 03 loại: xã, phường và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
Việc xác định rõ ba loại đơn vị hành chính thuộc Thành phố tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức bộ máy chính quyền, phân định thẩm quyền, bố trí nguồn lực và thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước phù hợp với từng loại địa bàn.
Quy định này cũng có ý nghĩa đối với quá trình đô thị hóa và phát triển Thủ đô theo hướng hiện đại, bền vững. Trong quá trình phát triển, một số khu vực có thể chuyển đổi về tính chất, quy mô dân cư và mức độ đô thị hóa; việc pháp luật xác định các loại đơn vị hành chính phù hợp sẽ tạo cơ sở để tổ chức không gian quản lý, cung cấp dịch vụ công và phân bổ nguồn lực theo thực tế phát triển.
Câu 4: Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền gì trong việc quy định chính sách về thu nhập đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương từ ngân sách Thành phố? Chính sách này có ý nghĩa như thế nào?
Trả lời:
Theo điểm e khoản 1 Điều 7 Luật Thủ đô năm 2026, Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền:
e) Quy định chính sách về thu nhập đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương từ ngân sách các cấp của Thành phố (sau đây gọi là ngân sách Thành phố); việc sử dụng ngân sách Thành phố và các nguồn tài chính hợp pháp khác để thực hiện chính sách này.”
Như vậy, Luật Thủ đô năm 2026 trao cho Hội đồng nhân dân Thành phố thẩm quyền quy định chính sách về thu nhập đối với các nhóm đối tượng gồm cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương từ ngân sách Thành phố. Đây là một trong những thẩm quyền đặc thù của HĐND Thành phố nhằm tạo cơ chế phù hợp để thu hút, sử dụng và giữ chân đội ngũ nhân lực làm việc trong khu vực công của Thành phố.
Quy định này tạo thêm cơ chế để Thành phố chủ động trong việc xây dựng chính sách nhân lực khu vực công. Trong điều kiện Hà Nội là đô thị đặc biệt, có quy mô dân số lớn, yêu cầu quản lý nhà nước cao và khối lượng công việc lớn, việc có cơ chế thu nhập phù hợp có thể góp phần khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức và người lao động nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc; thu hút nhân lực có năng lực và tăng tính ổn định của đội ngũ.
Đồng thời, quy định này cũng thể hiện sự gắn kết giữa chính sách cán bộ, chính sách thu nhập và khả năng tự chủ về nguồn lực của Thành phố. Khi xây dựng chính sách, Thành phố cần cân đối giữa yêu cầu nâng cao thu nhập, chất lượng đội ngũ với khả năng ngân sách và các nguồn tài chính hợp pháp, bảo đảm tính công khai, minh bạch, đúng đối tượng và khả thi trong tổ chức thực hiện.
Câu 5: Khi điều chỉnh thủ tục hành chính, Thành phố phải bảo đảm những yêu cầu nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 2 Điều 8 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“a) Điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đang được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức thuộc Thành phố, bảo đảm yêu cầu về cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục hành chính, không quy định thêm thành phần hồ sơ, không tăng thêm yêu cầu, điều kiện, thời gian giải quyết thủ tục đang áp dụng;”
Theo đó, khi điều chỉnh thủ tục hành chính, Thành phố phải bảo đảm cải cách, đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Đặc biệt, việc điều chỉnh không được làm phát sinh thêm thành phần hồ sơ, yêu cầu, điều kiện hoặc thời gian giải quyết so với thủ tục đang áp dụng.
Quy định này vừa tạo cơ chế để Thành phố chủ động đổi mới thủ tục hành chính phù hợp với đặc thù của Thủ đô, vừa đặt ra giới hạn nhằm bảo đảm việc cải cách thực sự mang lại thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, không làm gia tăng chi phí và gánh nặng tuân thủ.
Câu 6: Thời gian thí điểm cơ chế, chính sách của Thành phố tối đa là bao lâu và có được gia hạn không?
Trả lời: Theo điểm đ khoản 2 Điều 9 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“đ) Thời gian thí điểm không quá 05 năm và có thể được gia hạn không quá 05 năm.”
Theo đó, thời gian thí điểm ban đầu tối đa là 05 năm. Khi hết thời gian thí điểm, cơ chế, chính sách có thể được gia hạn nhưng thời gian gia hạn không quá 05 năm.
Quy định này cho phép Thành phố có đủ thời gian để triển khai, theo dõi và đánh giá hiệu quả thực tế của cơ chế, chính sách trước khi quyết định tiếp tục thực hiện hoặc có điều chỉnh phù hợp. Đồng thời, việc giới hạn thời gian thí điểm và thời gian gia hạn giúp bảo đảm tính kiểm soát, đánh giá và tránh kéo dài một cơ chế thử nghiệm khi chưa chứng minh được hiệu quả.
Câu 7: Trên địa bàn Thành phố lập loại quy hoạch tổng thể nào và Quy hoạch này có giá trị pháp lý ra sao?

Trả lời: Theo khoản 1 Điều 10 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“1. Trên địa bàn Thành phố chỉ lập một Quy hoạch tổng thể Thủ đô trên cơ sở cụ thể hóa các nội dung quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, tích hợp, lồng ghép và thay thế Quy hoạch Thủ đô, Quy hoạch chung Thủ đô. Quy hoạch tổng thể Thủ đô có giá trị pháp lý như quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung thành phố theo quy định của pháp luật.”
Theo quy định này, Thành phố chỉ lập một Quy hoạch tổng thể Thủ đô, được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa các quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và tích hợp, lồng ghép, thay thế Quy hoạch Thủ đô và Quy hoạch chung Thủ đô. Như vậy, thay vì tồn tại nhiều quy hoạch có phạm vi và nội dung có thể giao thoa, Luật Thủ đô hướng tới một quy hoạch thống nhất, làm cơ sở định hướng phát triển tổng thể của Thành phố.
Về giá trị pháp lý, Quy hoạch tổng thể Thủ đô có giá trị pháp lý như quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung thành phố. Đây là điểm đặc thù, giúp quy hoạch có vai trò vừa định hướng phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn Thành phố, vừa định hướng tổ chức không gian, phát triển đô thị và sử dụng các nguồn lực.
Quy định này góp phần thống nhất công tác quy hoạch, hạn chế chồng chéo, tăng tính đồng bộ giữa phát triển kinh tế - xã hội và phát triển không gian đô thị, đồng thời tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho việc quản lý, đầu tư và phát triển Thủ đô theo một định hướng tổng thể, dài hạn.
Câu 8: Việc quản lý, khai thác, sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao phải phù hợp với quy hoạch nào?
Trả lời: Theo điểm b khoản 1 Điều 11 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“b) Phù hợp với Quy hoạch tổng thể Thủ đô;”
Theo đó, mọi hoạt động quản lý, khai thác và sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp và không gian tầm cao trên địa bàn Thành phố phải được thực hiện phù hợp với Quy hoạch tổng thể Thủ đô.
Quy định này nhằm bảo đảm việc khai thác các không gian theo chiều sâu và chiều cao được quản lý thống nhất, có định hướng. Đặc biệt, trong bối cảnh Thủ đô phát triển đô thị theo hướng hiện đại, việc khai thác không gian ngầm cho giao thông, hạ tầng kỹ thuật, công trình; không gian tầm thấp và không gian tầm cao cho các hoạt động xây dựng, phát triển đô thị cần được đặt trong một quy hoạch tổng thể để bảo đảm sử dụng hiệu quả quỹ không gian và phát triển bền vững.
Câu 9: Việc đầu tư xây dựng, cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị và phát triển nhà ở phải bảo vệ những giá trị, không gian nào?
Trả lời: Theo điểm c khoản 1 Điều 12 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“c) Bảo vệ các di sản văn hóa, lịch sử, thiên nhiên, kiến trúc, cảnh quan; bảo vệ, phát triển không gian xanh, không gian mặt nước;”
Theo đó, quá trình đầu tư xây dựng, cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị và phát triển nhà ở trên địa bàn Thành phố phải đồng thời bảo vệ các giá trị văn hóa, lịch sử, thiên nhiên, kiến trúc, cảnh quan, cũng như bảo vệ và phát triển không gian xanh, không gian mặt nước.
Quy định này thể hiện yêu cầu phát triển đô thị theo hướng hài hòa giữa hiện đại hóa với bảo tồn các giá trị đặc trưng của Thủ đô. Việc xây dựng các công trình, khu đô thị hoặc phát triển nhà ở không chỉ quan tâm đến nhu cầu sử dụng đất và hạ tầng mà còn phải tính đến việc giữ gìn di sản, cảnh quan, hệ sinh thái và các không gian có giá trị đối với cộng đồng.
Đặc biệt, việc nhấn mạnh không gian xanh và không gian mặt nước cho thấy định hướng phát triển đô thị bền vững, góp phần cải thiện môi trường, điều hòa khí hậu, nâng cao chất lượng sống và tạo lập cảnh quan đô thị.
Câu 10: Hội đồng nhân dân Thành phố được quy định những chính sách gì để phát triển giao thông, hạn chế phương tiện cá nhân và giảm ùn tắc giao thông?
Trả lời: Theo điểm b khoản 1 Điều 13 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“b) Chính sách phát triển vận tải; khuyến khích, ưu tiên phát triển hệ thống vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn, đầu tư xây dựng, khai thác đường sắt đô thị, xe buýt, nhà ga, bến xe, bãi đỗ xe ô tô đa chức năng, khai thác không gian ngầm, vận tải trong không gian tầm thấp; hạn chế phương tiện giao thông cá nhân vào khu vực trung tâm để giảm ùn tắc giao thông, giảm phát thải; áp dụng phí giảm ùn tắc giao thông;”
Theo đó, HĐND Thành phố được quy định các chính sách theo hướng phát triển mạnh giao thông công cộng, đồng thời từng bước hạn chế phương tiện cá nhân. Điểm đáng chú ý là chính sách được thiết kế theo hướng không chỉ hạn chế phương tiện cá nhân mà phải đồng thời phát triển phương tiện công cộng và hạ tầng giao thông thay thế. Đây là cách tiếp cận nhằm tạo điều kiện để người dân chuyển sang sử dụng giao thông công cộng, qua đó giảm áp lực lên hệ thống đường bộ. Về lâu dài, các chính sách này góp phần giảm ùn tắc, ô nhiễm môi trường, phát thải khí nhà kính và nâng cao chất lượng giao thông đô thị, hướng tới xây dựng hệ thống giao thông Thủ đô hiện đại và đồng bộ.
Câu 11: Mức tiền phạt vi phạm hành chính trên địa bàn Thành phố có thể cao hơn mức tiền phạt chung tối đa bao nhiêu lần và áp dụng trong những lĩnh vực nào?
Trả lời: Theo điểm b khoản 1 Điều 14 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“b) Hội đồng nhân dân Thành phố quy định mức tiền phạt vi phạm hành chính trên địa bàn Thành phố cao hơn nhưng không quá 02 lần mức tiền phạt chung và thẩm quyền phạt tiền tương ứng do Chính phủ quy định đối với hành vi vi phạm hành chính tương ứng trong các lĩnh vực văn hóa, quảng cáo, đất đai, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy, an toàn thực phẩm, giao thông đường bộ, bảo vệ môi trường, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Thành phố.”
Theo đó, HĐND Thành phố được quy định mức tiền phạt cao hơn mức phạt chung nhưng tối đa không quá 02 lần, đồng thời quy định thẩm quyền phạt tiền tương ứng theo quy định của Chính phủ đối với hành vi vi phạm.
Cơ chế này được áp dụng đối với các lĩnh vực được Luật Thủ đô xác định, gồm: văn hóa, quảng cáo, đất đai, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy, an toàn thực phẩm, giao thông đường bộ, bảo vệ môi trường, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Thành phố.
Quy định mức phạt cao hơn xuất phát từ yêu cầu quản lý đặc thù của Thủ đô, nơi có mật độ dân cư cao, tốc độ đô thị hóa lớn và nhiều vấn đề phức tạp về trật tự đô thị, môi trường, giao thông, xây dựng. Mức phạt tăng nhằm nâng cao tính răn đe, góp phần phòng ngừa và xử lý hiệu quả các hành vi vi phạm.
Tuy nhiên, “không quá 02 lần” là giới hạn tối đa, không có nghĩa mọi hành vi vi phạm trong các lĩnh vực nêu trên đều được áp dụng mức phạt gấp đôi. Mức phạt cụ thể do HĐND Thành phố quy định phải nằm trong giới hạn Luật Thủ đô cho phép và gắn với từng hành vi, từng lĩnh vực cụ thể.
Câu 12: Luật Thủ đô năm 2026 quy định như thế nào về danh hiệu Công dân danh dự Thủ đô và Công dân Thủ đô ưu tú?
Trả lời: Theo điểm b khoản 1 Điều 15 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“b) Điều kiện, thủ tục tặng, thu hồi danh hiệu Công dân danh dự Thủ đô, Công dân Thủ đô ưu tú để tôn vinh cá nhân có công trạng tiêu biểu, thành tích đặc biệt xuất sắc đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô;”
Theo đó, HĐND Thành phố được quy định điều kiện, thủ tục tặng và thu hồi hai danh hiệu Công dân danh dự Thủ đô và Công dân Thủ đô ưu tú. Các danh hiệu này nhằm tôn vinh những cá nhân có công trạng tiêu biểu, thành tích đặc biệt xuất sắc và có đóng góp nổi bật cho sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ Thủ đô.
Điểm đáng chú ý là quy định không chỉ đề cập đến việc tặng danh hiệu mà còn quy định cả việc thu hồi, qua đó bảo đảm danh hiệu được trao phải gắn với uy tín, thành tích và những đóng góp thực tế của cá nhân; đồng thời có cơ chế xử lý khi không còn đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Việc ghi nhận các danh hiệu này có ý nghĩa tôn vinh, tri ân và lan tỏa những đóng góp có giá trị cho Thủ đô, đồng thời góp phần khuyến khích các cá nhân trong và ngoài nước tiếp tục có những đóng góp tích cực cho Hà Nội.
Câu 13: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền gì đối với danh mục di sản và công trình kiến trúc có giá trị?
Trả lời: Theo điểm a khoản 3 Điều 15 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“a) Phê duyệt danh mục di sản, khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc có giá trị trên địa bàn Thành phố cần tập trung nguồn lực để bảo vệ, phát huy giá trị;”
Theo đó, Chủ tịch UBND Thành phố có thẩm quyền phê duyệt danh mục gồm các di sản, khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử và công trình kiến trúc có giá trị trên địa bàn Thành phố cần được ưu tiên tập trung nguồn lực để bảo vệ, phát huy giá trị.
Quy định này cho phép Thành phố xác định rõ những đối tượng, khu vực có giá trị đặc biệt cần được ưu tiên bảo vệ, từ đó có cơ sở tập trung nguồn lực phù hợp cho công tác bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị. Đây cũng là cơ chế quan trọng để gắn bảo tồn di sản với phát triển đô thị, bảo đảm quá trình xây dựng, cải tạo và phát triển Thành phố không làm mai một những giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc đặc trưng của Thủ đô.
Như vậy, Chủ tịch UBND Thành phố có thẩm quyền xác định và phê duyệt danh mục các di sản, khu vực và công trình có giá trị cần ưu tiên nguồn lực bảo vệ, qua đó tạo cơ sở cho việc triển khai các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị trên thực tế.
Câu 14: Ủy ban nhân dân Thành phố có được bổ sung chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông không và phải bảo đảm những yêu cầu gì?
Trả lời: Theo điểm b khoản 2 Điều 16 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“b) Bổ sung chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông nhưng phải bảo đảm yêu cầu về mục tiêu giáo dục, phẩm chất, năng lực của học sinh cần đạt được và nội dung giáo dục bắt buộc của chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục phổ thông quốc gia;”
Theo đó, UBND Thành phố được bổ sung chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông để phù hợp với đặc điểm, yêu cầu phát triển của Thủ đô. Tuy nhiên, việc bổ sung phải bảo đảm không làm thay đổi hoặc ảnh hưởng đến các yêu cầu cốt lõi của chương trình giáo dục quốc gia.
Cụ thể, chương trình bổ sung phải bảo đảm mục tiêu giáo dục, các phẩm chất và năng lực học sinh cần đạt được, cũng như nội dung giáo dục bắt buộc theo chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông quốc gia. Quy định này tạo điều kiện để Thành phố chủ động bổ sung những nội dung giáo dục phù hợp với đặc thù của Hà Nội, đồng thời vẫn bảo đảm tính thống nhất của hệ thống giáo dục quốc gia.
Câu 15: Luật Thủ đô năm 2026 quy định như thế nào về khám sức khỏe, khám sàng lọc miễn phí định kỳ cho người dân Thủ đô?
Trả lời: Theo điểm đ khoản 1 Điều 17 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“đ) Việc khám sức khỏe, khám sàng lọc miễn phí định kỳ cho người dân Thủ đô. Kinh phí thực hiện việc khám sức khỏe, khám sàng lọc được bảo đảm thực hiện từ ngân sách Thành phố theo lộ trình phù hợp, nguồn xã hội hóa và các nguồn khác theo quy định của pháp luật;”
Theo đó, Luật Thủ đô năm 2026 xác lập chính sách khám sức khỏe, khám sàng lọc miễn phí định kỳ cho người dân Thủ đô. Đây là chính sách có ý nghĩa trong việc chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu là điều trị bệnh sang chủ động phòng bệnh, phát hiện sớm và quản lý sức khỏe người dân.
Về nguồn lực, kinh phí thực hiện được bảo đảm từ ngân sách Thành phố theo lộ trình phù hợp, đồng thời có thể huy động nguồn xã hội hóa và các nguồn khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, chính sách được triển khai theo lộ trình, gắn với khả năng cân đối nguồn lực và điều kiện thực tế của Thành phố. Điểm đáng chú ý là quy định này thể hiện sự quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe chủ động, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận các hoạt động khám, sàng lọc sớm, qua đó góp phần phát hiện nguy cơ bệnh tật, nâng cao chất lượng dân số và giảm gánh nặng chi phí điều trị về lâu dài.
Như vậy, Thành phố có trách nhiệm từng bước tổ chức khám sức khỏe, sàng lọc miễn phí định kỳ cho người dân, với kinh phí chủ yếu từ ngân sách Thành phố và được huy động thêm từ các nguồn hợp pháp khác.
Câu 16: Chính sách an sinh xã hội của Thủ đô theo Luật Thủ đô năm 2026 được định hướng như thế nào và ưu tiên những đối tượng nào?
Trả lời: Theo điểm e khoản 1 Điều 17 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“e) Chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của Thủ đô theo hướng mở rộng đối tượng, nâng mức thụ hưởng bảo đảm hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, hiện đại, bền vững, bao phủ toàn dân, ưu tiên cho các đối tượng yếu thế, người dễ bị tổn thương, người sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, người cần hỗ trợ khẩn cấp.”
Theo đó, chính sách an sinh xã hội của Thủ đô được định hướng theo hướng mở rộng đối tượng, nâng mức thụ hưởng, xây dựng hệ thống an sinh đa dạng, toàn diện, hiện đại, bền vững và bao phủ toàn dân.
Trong đó, Luật xác định ưu tiên hỗ trợ 04 nhóm đối tượng: đối tượng yếu thế; người dễ bị tổn thương; người sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; người cần hỗ trợ khẩn cấp. Quy định này thể hiện quan điểm bảo đảm an sinh xã hội theo hướng bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau, đồng thời tập trung nguồn lực nhiều hơn cho những nhóm có khả năng tự bảo đảm cuộc sống hạn chế hoặc đang gặp khó khăn, rủi ro. Chính sách an sinh của Thủ đô vừa hướng tới bao phủ toàn dân, vừa thực hiện ưu tiên có trọng tâm đối với những người yếu thế, dễ bị tổn thương và cần được hỗ trợ đặc biệt.
Câu 17: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải được tích hợp vào những hoạt động nào của Thủ đô?
Trả lời: Theo điểm a khoản 1 Điều 18 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“a) Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải được tích hợp trong hoạch định chính sách, quản lý nhà nước và phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội của Thủ đô. Ưu tiên giải quyết các vấn đề lớn của Thành phố; thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số bằng các chính sách vượt trội;”
Theo đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải được tích hợp trong 03 nhóm hoạt động chính: hoạch định chính sách; quản lý nhà nước; phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội của Thủ đô.
Bên cạnh đó, Thành phố phải ưu tiên ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để giải quyết các vấn đề lớn, đồng thời có chính sách vượt trội nhằm thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực trong các lĩnh vực này. Quy định cho thấy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không được xem chỉ là một lĩnh vực riêng biệt mà phải trở thành nền tảng xuyên suốt trong quản lý và phát triển Thủ đô, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, thúc đẩy tăng trưởng và giải quyết những vấn đề đô thị phức tạp. Thủ đô phải đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào từ khâu hoạch định chính sách đến quản lý, điều hành và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời lấy việc giải quyết các vấn đề lớn của Thành phố làm trọng tâm.
Câu 18: Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền gì về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước?
Trả lời: Theo điểm d khoản 3 Điều 18 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“d) Quy định về bảo đảm an toàn, quản lý rủi ro, biện pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước trên địa bàn;”
Theo đó, UBND Thành phố có thẩm quyền quy định các nội dung liên quan đến việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý nhà nước trên địa bàn, tập trung vào 03 nhóm vấn đề: bảo đảm an toàn; quản lý rủi ro; và các biện pháp ứng dụng AI.
Quy định này tạo cơ sở pháp lý để Thành phố chủ động triển khai AI trong hoạt động quản lý, điều hành, đồng thời kiểm soát những rủi ro có thể phát sinh như sai lệch thông tin, bảo mật dữ liệu, an toàn hệ thống hoặc việc sử dụng AI không phù hợp.
Điểm đáng chú ý là Luật không chỉ khuyến khích ứng dụng AI mà đồng thời đặt ra yêu cầu quản lý rủi ro và bảo đảm an toàn, qua đó hướng tới việc sử dụng AI có kiểm soát, có trách nhiệm và phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước. UBND Thành phố vừa có trách nhiệm thúc đẩy ứng dụng AI, vừa phải xây dựng cơ chế an toàn và quản trị rủi ro, nhằm khai thác hiệu quả công nghệ nhưng vẫn bảo đảm an toàn, minh bạch và đúng quy định pháp luật.
Câu 19: Khoản chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế với mức bao nhiêu?
Trả lời: Theo khoản 5 Điều 18 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“5. Khoản chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Thành phố theo quy định của pháp luật được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế với mức là 200% chi phí thực tế nhưng phải bảo đảm sau khi áp dụng mức chi bổ sung, doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp không bị lỗ.”
Theo đó, khoản chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Thành phố được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế với mức 200% chi phí thực tế, tức là được tính thêm 100% chi phí thực tế ngoài khoản chi thực tế.
Tuy nhiên, chính sách này có điều kiện: sau khi áp dụng mức chi bổ sung, doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp không được bị lỗ. Do đó, không phải mọi khoản chi R&D đều mặc nhiên được tính 200%; việc áp dụng phải đồng thời đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Quy định này là cơ chế ưu đãi nhằm khuyến khích doanh nghiệp và các tổ chức tăng đầu tư cho nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, qua đó thúc đẩy hoạt động R&D, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển hệ sinh thái khoa học, công nghệ của Thủ đô.
Câu 20: Việc thử nghiệm có kiểm soát phải đáp ứng những yêu cầu nào?
Trả lời: Theo khoản 3 Điều 19 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“3. Việc thực hiện thử nghiệm có kiểm soát phải bảo đảm đáp ứng các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng, bảo vệ quyền lợi của người tham gia thử nghiệm.”
Theo đó, hoạt động thử nghiệm có kiểm soát phải đồng thời bảo đảm các yêu cầu về: Quốc phòng, an ninh; trật tự, an toàn xã hội; lợi ích công cộng và bảo vệ quyền lợi của người tham gia thử nghiệm.
Quy định này cho thấy việc thử nghiệm các mô hình, sản phẩm, công nghệ hoặc giải pháp mới không chỉ đặt mục tiêu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, mà phải được thực hiện trong một khuôn khổ có kiểm soát, hạn chế và quản lý các rủi ro có thể phát sinh. Đặc biệt, việc bảo vệ quyền lợi của người tham gia thử nghiệm là yêu cầu quan trọng, nhằm bảo đảm quá trình thử nghiệm không vì mục tiêu đổi mới mà làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Thử nghiệm có kiểm soát phải bảo đảm nguyên tắc hài hòa giữa yêu cầu thúc đẩy công nghệ mới với bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội.
Câu 21: Khu công nghệ cao Hòa Lạc có vị trí, vai trò như thế nào?
Trả lời: Theo khoản 3 Điều 20 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“3. Khu công nghệ cao Hòa Lạc là khu vực nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ứng dụng công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất sản phẩm công nghệ cao và đổi mới sáng tạo trọng điểm của đất nước và Thủ đô; là nơi thử nghiệm, thí điểm về cơ chế, chính sách cho việc quản lý, phát triển công nghệ cao và các khu công nghệ cao trong cả nước.”
Theo đó, Khu công nghệ cao Hòa Lạc được xác định là khu vực trọng điểm của cả nước và Thủ đô về nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ứng dụng công nghệ cao; đào tạo nhân lực; sản xuất sản phẩm công nghệ cao và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, Hòa Lạc còn là nơi thử nghiệm, thí điểm các cơ chế, chính sách về quản lý và phát triển công nghệ cao và các khu công nghệ cao trong cả nước. Điều này cho thấy Hòa Lạc không chỉ có vai trò là một khu công nghệ cao của Hà Nội mà còn được định hướng trở thành không gian thử nghiệm các mô hình, cơ chế mới, từ đó có thể đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng những chính sách phù hợp.
Câu 22: Khoản bổ sung có mục tiêu của ngân sách trung ương cho ngân sách Thành phố bị giới hạn như thế nào?
Trả lời: Theo khoản 3 Điều 21 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“3. Khoản bổ sung có mục tiêu của ngân sách trung ương cho ngân sách Thành phố quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không vượt quá tổng số tăng thu ngân sách trung ương trên địa bàn so với thực hiện thu năm trước và bảo đảm ngân sách trung ương không hụt thu. Việc xác định số bổ sung có mục tiêu trên cơ sở tổng các khoản thu, không tính riêng từng khoản thu. Trong trường hợp cần thiết, Chính phủ quyết định mức bổ sung có mục tiêu phù hợp với yêu cầu thực tế điều hành ngân sách nhà nước, bảo đảm tính chủ đạo của ngân sách trung ương.”
Theo đó, khoản bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách Thành phố không được vượt quá tổng số tăng thu ngân sách trung ương trên địa bàn so với năm trước, đồng thời phải bảo đảm ngân sách trung ương không bị hụt thu. Việc xác định mức bổ sung được thực hiện trên cơ sở tổng các khoản thu, không tính riêng từng khoản thu. Trường hợp cần thiết, Chính phủ có thể quyết định mức bổ sung phù hợp với yêu cầu điều hành ngân sách, nhưng vẫn phải bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương.
Quy định này vừa tạo cơ chế tăng nguồn lực tài chính cho Thành phố gắn với kết quả tăng thu, vừa bảo đảm cân đối và kỷ luật ngân sách quốc gia.
Câu 23: Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án nào sử dụng vốn ngân sách địa phương?
Trả lời: Theo điểm a khoản 1 Điều 22 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“a) Quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư công, dự án PPP thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội sử dụng vốn ngân sách địa phương, nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương, trừ dự án đầu tư nhà máy điện hạt nhân;”
Theo đó, HĐND Thành phố được quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư công, dự án PPP vốn thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, nếu sử dụng vốn ngân sách địa phương hoặc nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương. Tuy nhiên, dự án đầu tư nhà máy điện hạt nhân bị loại trừ khỏi thẩm quyền này.
Quy định trên thể hiện sự phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho Thành phố, giúp Hà Nội chủ động quyết định các dự án quan trọng sử dụng nguồn lực của địa phương, qua đó rút ngắn quy trình và nâng cao tính chủ động trong đầu tư phát triển.
Câu 24: Việc quản lý, sử dụng, vận hành, khai thác tài sản công phải tuân thủ nguyên tắc gì về hiệu quả và phòng, chống tiêu cực?
Trả lời: Theo điểm a khoản 2 Điều 23 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“a) Quản lý, sử dụng, vận hành, khai thác tài sản hiệu quả, đúng mục đích, công năng của tài sản, tiêu chuẩn, định mức, chế độ; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ;”
Theo đó, tài sản công phải được quản lý, sử dụng, vận hành và khai thác hiệu quả, đúng mục đích, công năng, đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn, định mức và chế độ theo quy định. Bên cạnh yêu cầu về hiệu quả, việc quản lý tài sản phải gắn với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm và cục bộ.
Quy định này nhằm bảo đảm tài sản công được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, minh bạch và phát huy tối đa giá trị, tránh thất thoát, lãng phí hoặc việc sử dụng tài sản công phục vụ lợi ích không chính đáng.
Câu 25: Thành phố được thu hồi đất vùng phụ cận đường bộ, nhà ga, đề-pô đường sắt đô thị trong trường hợp nào?
Trả lời: Theo điểm c khoản 1 Điều 24 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“c) Thu hồi đất vùng phụ cận đường bộ, nhà ga, đề-pô đường sắt đô thị đồng thời với việc thu hồi đất để đầu tư xây dựng mới trục đường bộ, đường sắt đô thị hoặc mở rộng trục đường bộ hiện có theo quy hoạch.”
Theo đó, Thành phố được thu hồi đất vùng phụ cận đường bộ, nhà ga, đề-pô đường sắt đô thị đồng thời với việc thu hồi đất để xây dựng mới hoặc mở rộng các tuyến giao thông theo quy hoạch.
Cơ chế này tạo điều kiện để Thành phố chủ động tổ chức, khai thác quỹ đất khu vực phụ cận các công trình giao thông, gắn phát triển hạ tầng giao thông với chỉnh trang, phát triển đô thị và sử dụng hiệu quả quỹ đất. Điểm đáng chú ý là việc thu hồi phải gắn đồng thời với dự án giao thông và phù hợp với quy hoạch.
Câu 26: Chính sách thu hút, trọng dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm những chính sách gì về thu nhập và đãi ngộ?
Trả lời: Theo điểm a khoản 1 Điều 25 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“a) Chính sách về thu nhập, tiền lương, tiền thưởng và các chế độ đãi ngộ khác;”
Theo đó, chính sách thu hút, trọng dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố bao gồm chính sách về thu nhập, tiền lương, tiền thưởng và các chế độ đãi ngộ khác. Quy định này cho phép Thành phố xây dựng cơ chế đãi ngộ phù hợp nhằm thu hút người có trình độ, năng lực và giữ chân nhân lực chất lượng cao, nhất là trong những lĩnh vực Thành phố có nhu cầu và cần nguồn nhân lực đặc biệt.
Có thể thấy, chính sách không chỉ tập trung vào mức lương mà còn mở rộng sang tiền thưởng và các chế độ đãi ngộ khác, tạo cơ chế linh hoạt hơn để khuyến khích người tài đóng góp cho sự phát triển của Thủ đô.
Câu 27: Hoạt động liên kết, phát triển vùng phải tuân thủ nguyên tắc nào về đồng thuận, công khai và hài hòa lợi ích?
Trả lời: Theo điểm a khoản 3 Điều 28 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“a) Đồng thuận, công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa thành phố Hà Nội với các địa phương;”
Theo đó, hoạt động liên kết, phát triển vùng phải bảo đảm 04 nguyên tắc cơ bản: đồng thuận, công khai, minh bạch và hài hòa lợi ích giữa Hà Nội với các địa phương. Quy định này có ý nghĩa quan trọng bởi các vấn đề liên kết vùng thường liên quan đến nhiều địa phương, có thể phát sinh tình trạng địa phương này được hưởng lợi nhưng địa phương khác phải chia sẻ chi phí hoặc chịu tác động. Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án liên kết phải dựa trên sự thống nhất, công khai thông tin và phân chia hợp lý lợi ích, trách nhiệm giữa các bên.
Đây là cơ sở để tăng cường niềm tin, trách nhiệm và sự phối hợp thực chất giữa các địa phương, bảo đảm liên kết vùng không mang tính hình thức mà hướng tới lợi ích chung và phát triển bền vững của toàn vùng.
Câu 28: Hà Nội có vai trò gì trong liên kết, phát triển vùng?
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 28 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“1. Hà Nội là hạt nhân, trung tâm kết nối, động lực thúc đẩy liên kết, phát triển, là cực tăng trưởng của vùng Thủ đô, vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc và của cả nước.”
Theo đó, Hà Nội được xác định với vai trò trung tâm và đầu tàu trong liên kết, phát triển vùng, vừa là hạt nhân, trung tâm kết nối, động lực thúc đẩy liên kết, vừa là cực tăng trưởng không chỉ của Vùng Thủ đô mà còn của vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc và cả nước. Vai trò này không chỉ thể hiện ở quy mô kinh tế mà còn đặt ra yêu cầu Hà Nội phải tăng cường kết nối và tạo sức lan tỏa thông qua hạ tầng giao thông, logistics, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế, nguồn nhân lực, thị trường và các chuỗi liên kết kinh tế. Hà Nội không phát triển tách biệt mà phải phát huy lợi thế của mình để dẫn dắt, kết nối và tạo động lực cho các địa phương cùng phát triển, đồng thời khai thác hiệu quả lợi thế, tiềm năng của toàn vùng.
Câu 29: Các địa phương tham gia liên kết, phát triển vùng Thủ đô có trách nhiệm gì về chi phí môi trường?
Trả lời: Theo điểm c khoản 5 Điều 29 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“c) Chia sẻ chi phí môi trường, bao gồm chi phí kiểm soát, giảm thiểu và khắc phục ô nhiễm môi trường có liên quan đến địa phương;”
Theo đó, các địa phương tham gia liên kết, phát triển vùng Thủ đô có trách nhiệm chia sẻ chi phí môi trường, bao gồm chi phí kiểm soát, giảm thiểu và khắc phục ô nhiễm có liên quan đến địa phương.
Điểm quan trọng của quy định này là môi trường được nhìn nhận dưới góc độ liên kết vùng, không chỉ trong phạm vi địa giới của từng tỉnh, thành phố. Một nguồn thải phát sinh tại địa phương này có thể gây tác động đến địa phương khác thông qua không khí, sông ngòi hoặc hệ thống thoát nước.
Do đó, trách nhiệm bảo vệ môi trường cần đi cùng với trách nhiệm chia sẻ chi phí, góp phần bảo đảm công bằng giữa các địa phương, tránh việc một địa phương phải tự gánh toàn bộ chi phí xử lý vấn đề ô nhiễm có nguyên nhân hoặc tác động từ nhiều địa phương.
Câu 30: Việc phối hợp bảo vệ môi trường vùng Thủ đô tập trung vào những vấn đề liên tỉnh nào?
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 30 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“1. Việc phối hợp bảo vệ môi trường vùng Thủ đô đối với các vấn đề có tác động liên tỉnh, bao gồm quản lý và cải thiện chất lượng không khí theo vùng không khí chịu tác động; quản lý nước thải theo lưu vực sông và hệ thống thoát nước; quản lý chất thải rắn theo chuỗi phát sinh - thu gom - vận chuyển - xử lý.”
Theo đó, cơ chế phối hợp bảo vệ môi trường vùng Thủ đô tập trung vào 03 nhóm vấn đề có tác động liên tỉnh là chất lượng không khí: quản lý, cải thiện theo vùng không khí chịu tác động, thay vì chỉ kiểm soát trong phạm vi một địa phương; nước thải: quản lý theo lưu vực sông và hệ thống thoát nước, phù hợp với đặc điểm nước thải có thể lan truyền qua nhiều địa bàn; chất thải rắn: quản lý theo toàn bộ chuỗi phát sinh - thu gom - vận chuyển - xử lý, bảo đảm kiểm soát chất thải từ đầu đến cuối.
Quy định này thể hiện cách tiếp cận quản lý môi trường theo không gian và dòng tác động, thay vì chỉ quản lý theo địa giới hành chính. Đây là yêu cầu cần thiết bởi các vấn đề về không khí, nguồn nước và chất thải thường có phạm vi ảnh hưởng vượt ra ngoài một tỉnh, thành phố.
Câu 31: Cơ chế phối hợp vùng Thủ đô trong bảo vệ môi trường bao gồm nội dung gì về dữ liệu môi trường?
Trả lời: Theo điểm a khoản 2 Điều 30 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“a) Chia sẻ, kết nối và sử dụng chung dữ liệu môi trường, nguồn thải và nguồn phát thải;”
Theo đó, các địa phương trong vùng Thủ đô phải tăng cường chia sẻ, kết nối và sử dụng chung dữ liệu về môi trường, nguồn thải và nguồn phát thải. Việc kết nối dữ liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nguồn gây ô nhiễm, theo dõi diễn biến môi trường, đánh giá mức độ tác động và phối hợp xử lý các vấn đề liên tỉnh. Khi dữ liệu được chia sẻ thống nhất, các địa phương có thể hạn chế tình trạng thông tin phân tán, thiếu đồng bộ hoặc chỉ nắm được nguồn thải trong phạm vi địa bàn mình quản lý.
Đồng thời, đây là cơ sở để ứng dụng chuyển đổi số, hệ thống quan trắc và các công cụ phân tích dữ liệu trong quản lý môi trường vùng, góp phần nâng cao khả năng giám sát, cảnh báo sớm và xử lý ô nhiễm.
Như vậy, muốn giải quyết hiệu quả các vấn đề môi trường liên tỉnh thì trước hết các địa phương phải chia sẻ thông tin, dùng chung dữ liệu và phối hợp trên cùng một cơ sở dữ liệu thống nhất.
Câu 32: Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm gì trong giám sát việc thi hành Luật Thủ đô?
Trả lời: Theo điểm a khoản 2 Điều 31 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“a) Giám sát việc thi hành Luật Thủ đô;”
Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm giám sát việc thi hành Luật Thủ đô, qua đó theo dõi, đánh giá việc triển khai các quy định của Luật trên thực tế. Hoạt động giám sát nhằm bảo đảm Luật Thủ đô được thực hiện đúng, đầy đủ và thống nhất, đồng thời kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện để có giải pháp xử lý phù hợp.
Quy định này cũng thể hiện cơ chế kiểm soát, giám sát ở cấp Trung ương đối với việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù được trao cho Thành phố, góp phần bảo đảm việc phân cấp, phân quyền đi đôi với trách nhiệm và kiểm soát quyền lực.
Câu 33: Chính quyền Thành phố phải công khai, minh bạch và giải trình những nội dung nào để Nhân dân giám sát?
Trả lời: Theo điểm c khoản 1 Điều 33 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“c) Công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình về sử dụng quỹ đất, thực hiện dự án đầu tư, thủ tục hành chính và các nội dung khác theo quy định của pháp luật để Nhân dân được biết, tham gia ý kiến, giám sát việc thực hiện các quy định của Luật này;”
Theo đó, chính quyền Thành phố phải chú trọng công khai, minh bạch và giải trình về các nội dung quan trọng, gồm: sử dụng quỹ đất; thực hiện dự án đầu tư; thủ tục hành chính và các nội dung khác theo quy định của pháp luật. Mục tiêu không chỉ là cung cấp thông tin mà còn tạo điều kiện để Nhân dân được biết, tham gia ý kiến và giám sát việc thực hiện Luật Thủ đô.
Đặc biệt, đối với các vấn đề như đất đai, đầu tư và thủ tục hành chính, việc công khai, minh bạch giúp hạn chế nguy cơ lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước và củng cố sự đồng thuận của người dân. Quy định này đặt người dân vào vị trí chủ thể được biết, được tham gia và được giám sát, qua đó tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước.
Câu 34: Trường hợp nào người tham gia xây dựng, ban hành, thi hành Luật Thủ đô được loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý?
Trả lời: Theo khoản 2 Điều 34 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức, người tham gia xây dựng, ban hành, thi hành Luật Thủ đô và văn bản được ban hành theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật này được loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý trong trường hợp không vụ lợi, đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.”
Theo đó, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; cán bộ, công chức, viên chức và người tham gia xây dựng, ban hành, thi hành Luật Thủ đô có thể được loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý khi đồng thời đáp ứng các điều kiện: Không vụ lợi; thực hiện đúng thẩm quyền; tuân thủ đúng trình tự, thủ tục trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; mặc dù đã thực hiện đúng nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.

Quy định này có ý nghĩa khuyến khích tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhất là trong quá trình thực hiện các cơ chế, chính sách mới, đặc thù của Thủ đô. Tuy nhiên, đây không phải là cơ chế miễn trách nhiệm chung cho mọi trường hợp gây thiệt hại. Việc loại trừ, miễn trách nhiệm chỉ được đặt ra khi người thực hiện không vụ lợi và tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định.
Câu 35: Thủ đô có vị trí, vai trò như thế nào?
Trả lời: Theo khoản 2 Điều 2 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“2. Thủ đô là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở của các cơ quan trung ương của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, đào tạo, y tế và hội nhập quốc tế.”
Theo đó, Thủ đô có vị trí đặc biệt về chính trị - hành chính, là nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao và tổ chức quốc tế.
Bên cạnh đó, Thủ đô còn được xác định là trung tâm lớn trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, đào tạo, y tế và hội nhập quốc tế.
Quy định này thể hiện vai trò của Thủ đô không chỉ giới hạn ở chức năng trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, mà còn là đầu tàu về kinh tế, tri thức, khoa học - công nghệ, văn hóa và hội nhập quốc tế. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển Thủ đô có ý nghĩa đối với cả nước, đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ, hiện đại và bền vững.
Câu 36: Dự án lớn, quan trọng được hiểu như thế nào?
Trả lời: Theo khoản 4 Điều 3 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“4. Dự án lớn, quan trọng là một trong các dự án sau đây:
a) Dự án đầu tư công theo quy định của pháp luật về đầu tư công, dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư (sau đây gọi là dự án PPP) sử dụng vốn ngân sách địa phương, nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương, dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư cần triển khai ngay theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ, Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố;
b) Dự án đầu tư công, dự án PPP sử dụng vốn ngân sách địa phương, nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương trên địa bàn Thành phố, vùng Thủ đô đáp ứng tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia theo quy định của pháp luật về đầu tư công;
c) Dự án do nhà đầu tư chiến lược đầu tư.”
Theo đó, Luật xác định 03 nhóm dự án được coi là dự án lớn, quan trọng, gồm: Dự án đầu tư công, dự án PPP hoặc dự án đầu tư cần triển khai ngay theo chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền nêu trong Luật; Dự án đầu tư công, PPP sử dụng nguồn vốn của địa phương trên địa bàn Thành phố, vùng Thủ đô đáp ứng tiêu chí dự án quan trọng quốc gia; Dự án do nhà đầu tư chiến lược đầu tư.
Việc xác định rõ khái niệm này có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng các cơ chế, chính sách và thẩm quyền đặc thù đối với những dự án có quy mô, tầm quan trọng hoặc tác động lớn đến sự phát triển của Thủ đô và vùng Thủ đô.
Đặc biệt, quy định không chỉ căn cứ vào quy mô vốn mà còn xem xét tính cấp thiết, tính chất quan trọng, phạm vi tác động và chủ thể đầu tư, qua đó tạo cơ sở để Thành phố tập trung nguồn lực và đẩy nhanh tiến độ đối với những dự án có ý nghĩa chiến lược.
Câu 37: Khu vực TOD được hiểu như thế nào?
Trả lời: Theo khoản 6 Điều 3 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“6. Khu vực TOD là khu vực bao gồm nhà ga, đề-pô đường sắt và vùng phụ cận được xác định theo quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết có liên quan để xây dựng đường sắt kết hợp cải tạo, chỉnh trang đô thị, đầu tư phát triển đô thị.”
Theo đó, khu vực TOD là khu vực bao gồm nhà ga, đề-pô đường sắt và vùng phụ cận, được xác định theo quy hoạch để thực hiện đồng thời việc xây dựng đường sắt, cải tạo - chỉnh trang đô thị và đầu tư phát triển đô thị. TOD (phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng) thể hiện cách tiếp cận gắn phát triển giao thông với phát triển đô thị. Thay vì xây dựng đường sắt đơn thuần, khu vực xung quanh nhà ga được tổ chức lại để thuận tiện cho người dân tiếp cận và sử dụng giao thông công cộng.
Cơ chế này có ý nghĩa đặc biệt đối với Hà Nội trong việc phát triển đường sắt đô thị, sử dụng hiệu quả quỹ đất quanh nhà ga, hạn chế phụ thuộc vào phương tiện cá nhân và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Câu 38: Việc phân quyền và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền phải bảo đảm những yêu cầu nào về quyền con người, công bằng xã hội và bản sắc văn hóa?
Trả lời: Theo khoản 3 Điều 4 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“3. Bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân, công bằng xã hội, phát triển bền vững và giữ gìn bản sắc, giá trị văn hóa của Thủ đô, vùng Thủ đô; không làm ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia; tôn trọng các quy luật thị trường.”
Theo đó, việc phân quyền và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền phải bảo đảm nhiều yêu cầu đồng thời, gồm: bảo đảm quyền con người và quyền cơ bản của công dân; bảo đảm công bằng xã hội; phát triển bền vững; giữ gìn bản sắc, giá trị văn hóa của Thủ đô và vùng Thủ đô; đồng thời không làm ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia và phải tôn trọng các quy luật thị trường. Quy định này cho thấy phân quyền không đồng nghĩa với việc trao quyền một cách tuyệt đối. Việc tăng quyền chủ động cho Thành phố phải đi đôi với trách nhiệm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, bảo vệ các giá trị văn hóa và bảo đảm an toàn chung của nền kinh tế.
Luật đặt các yêu cầu về quyền con người, công bằng xã hội và phát triển bền vững song song với yêu cầu về ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia và quy luật thị trường. Điều này tạo sự cân bằng giữa tính chủ động, linh hoạt của Thủ đô với lợi ích chung của quốc gia và người dân.
Câu 39: Nếu văn bản của cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành sau có cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn thì việc áp dụng do cơ quan nào quyết định?
Trả lời: Theo khoản 3 Điều 5 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“3. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương, bao gồm cả văn bản quy định cơ chế, chính sách áp dụng cho các đối tượng, địa phương khác, ban hành sau ngày Luật Thủ đô, văn bản thi hành Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn quy định của Luật Thủ đô, văn bản thi hành Luật Thủ đô thì việc áp dụng do Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định.”
Theo đó, nếu văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở Trung ương được ban hành sau và có quy định về cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn so với Luật Thủ đô và các văn bản thi hành Luật Thủ đô thì HĐND Thành phố là cơ quan quyết định việc áp dụng.
Quy định này tạo cơ chế linh hoạt để Thành phố không bị giới hạn bởi những chính sách ưu đãi đã được quy định trước đây, mà có thể xem xét áp dụng chính sách mới, thuận lợi hơn khi pháp luật Trung ương có sự thay đổi. Đồng thời, việc giao HĐND Thành phố quyết định bảo đảm vấn đề áp dụng chính sách được xem xét công khai, theo thẩm quyền và phù hợp với điều kiện thực tế của Thành phố, thay vì tự động áp dụng mọi chính sách mới.
Câu 40: Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thuộc Thành phố được thành lập và tổ chức như thế nào?
Trả lời: Theo khoản 2 Điều 6 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“2. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thuộc Thành phố do Quốc hội quyết định thành lập để thực hiện vai trò đô thị chức năng theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô; được tổ chức theo mô hình đặc thù, được áp dụng các cơ chế, chính sách vượt trội, thực hiện các chính sách mới về quản trị địa phương, thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của Thủ đô.”
Quy định này cho thấy đây không đơn thuần là một đơn vị hành chính thông thường mà là mô hình có tính chất đặc biệt, được thiết kế để tạo không gian thử nghiệm những phương thức quản trị và chính sách phát triển mới.
Việc gắn đơn vị này với Quy hoạch tổng thể Thủ đô nhằm bảo đảm quá trình hình thành và phát triển phải phù hợp với định hướng không gian chung của Hà Nội. Đồng thời, các cơ chế vượt trội về quản trị và thu hút đầu tư có thể tạo điều kiện hình thành những động lực tăng trưởng mới, nâng cao sức cạnh tranh của Thủ đô.
Câu 41: Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 8 có được áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn không?
Trả lời: Theo điểm đ khoản 3 Điều 8 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“đ) Tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Không áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn, trừ trường hợp tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần hoặc bãi bỏ văn bản.”
Theo đó, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 8 vẫn phải tuân thủ trình tự, thủ tục theo pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nguyên tắc chung là không áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn. Tuy nhiên, Luật quy định ngoại lệ đối với trường hợp cần tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần hoặc bãi bỏ văn bản.
Quy định này cho thấy mặc dù Luật Thủ đô trao cho Thành phố thẩm quyền chủ động điều chỉnh một số nội dung để đáp ứng yêu cầu quản lý đặc thù, nhưng việc thực hiện vẫn phải bảo đảm quy trình xây dựng và ban hành văn bản chặt chẽ, minh bạch, tránh việc lợi dụng cơ chế đặc thù để đơn giản hóa quá mức quy trình pháp lý. Thành phố được trao thêm thẩm quyền nhưng không đồng nghĩa với việc được bỏ qua quy trình xây dựng văn bản; nguyên tắc là phải tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục, chỉ được áp dụng thủ tục rút gọn trong trường hợp ngoại lệ mà Luật quy định.
Câu 42: Thành phố được quyết định thí điểm cơ chế, chính sách trong phạm vi nào và không được thí điểm trong những lĩnh vực nào?
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 9 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“1. Thành phố được quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định để áp dụng tại thành phố Hà Nội.
Không thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia, tôn giáo và lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia theo quy định của pháp luật.”
Theo đó, Thành phố được quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội, hoặc thí điểm đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định, để áp dụng trên địa bàn Hà Nội. Đây là cơ chế có ý nghĩa đặc biệt, tạo điều kiện để Hà Nội chủ động thử nghiệm những chính sách mới, nhất là đối với các vấn đề phát sinh từ quá trình phát triển đô thị, chuyển đổi số, khoa học - công nghệ, quản trị đô thị và các lĩnh vực cần cơ chế mới.
Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là không có giới hạn. Luật loại trừ các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia, tôn giáo và các lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia theo quy định của pháp luật. Điều này thể hiện nguyên tắc phân quyền gắn với giới hạn bảo đảm lợi ích quốc gia, cho phép Thành phố chủ động đổi mới trong phạm vi được giao nhưng không làm ảnh hưởng đến những vấn đề thuộc chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia.
Câu 43: Quy hoạch tổng thể Thủ đô chỉ được điều chỉnh trong những trường hợp nào?
Trả lời: Theo khoản 2 Điều 10 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“2. Quy hoạch tổng thể Thủ đô chỉ được điều chỉnh trong trường hợp phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng đặc biệt quan trọng, yêu cầu về quốc phòng, an ninh; khi có biến động lớn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội hoặc để thực hiện yêu cầu của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố.”
Theo đó, Quy hoạch tổng thể Thủ đô không được điều chỉnh tùy tiện mà chỉ được thực hiện trong những trường hợp Luật quy định, gồm: Phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng đặc biệt quan trọng; đáp ứng yêu cầu về quốc phòng, an ninh; có biến động lớn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và để thực hiện yêu cầu của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố.
Quy định này nhằm bảo đảm tính ổn định, lâu dài và nhất quán của Quy hoạch tổng thể Thủ đô, tránh tình trạng điều chỉnh quy hoạch thường xuyên theo những yêu cầu ngắn hạn, gây lãng phí nguồn lực và ảnh hưởng đến định hướng phát triển chung. Đồng thời, việc cho phép điều chỉnh khi xuất hiện những biến động lớn hoặc yêu cầu đặc biệt cũng tạo độ linh hoạt cần thiết, giúp quy hoạch có khả năng thích ứng với thực tiễn phát triển của Hà Nội.
Câu 44: Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền gì đối với mức giới hạn độ sâu trong lòng đất mà người sử dụng đất không phải trả tiền sử dụng không gian ngầm?
Trả lời: Theo điểm b khoản 3 Điều 11 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“b) Mức giới hạn độ sâu trong lòng đất mà người sử dụng đất thuộc địa bàn Thành phố được sử dụng phù hợp với quy hoạch và không phải trả tiền sử dụng không gian ngầm;”
Theo đó, HĐND Thành phố có thẩm quyền quy định mức giới hạn độ sâu trong lòng đất mà người sử dụng đất trên địa bàn Thành phố được sử dụng phù hợp với quy hoạch mà không phải trả tiền sử dụng không gian ngầm. Quy định này tạo cơ sở để xác định rõ phạm vi quyền sử dụng không gian ngầm gắn với quyền sử dụng đất, đồng thời phân định phần không gian ngầm mà người sử dụng đất được khai thác mà không phải trả tiền.
Điểm đáng chú ý là quyền sử dụng này phải phù hợp với quy hoạch. Điều đó có nghĩa việc sử dụng không gian ngầm không thể thực hiện tùy ý mà phải bảo đảm an toàn công trình, hạ tầng kỹ thuật và phù hợp với định hướng tổ chức không gian đô thị. Quy định cũng tạo điều kiện để Thành phố quản lý và khai thác hiệu quả tài nguyên không gian ngầm, một nguồn lực ngày càng quan trọng trong bối cảnh Hà Nội có mật độ xây dựng và nhu cầu hạ tầng ngày càng cao.
Câu 45: Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền gì về chuyển đổi giữa các loại hình nhà ở?
Trả lời: Theo điểm c khoản 3 Điều 12 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“c) Quyết định việc chuyển đổi giữa các loại hình nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư trên địa bàn Thành phố để sử dụng linh hoạt, đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân;”
Theo đó, UBND Thành phố có thẩm quyền quyết định việc chuyển đổi giữa ba loại hình nhà ở gồm: nhà ở thương mại, nhà ở xã hội và nhà ở phục vụ tái định cư trên địa bàn Thành phố. Mục tiêu của cơ chế này là giúp Thành phố sử dụng linh hoạt quỹ nhà, chủ động điều chỉnh cơ cấu nhà ở theo nhu cầu thực tế của người dân và tình hình phát triển đô thị.
Ví dụ, trong trường hợp nhu cầu về một loại hình nhà ở thay đổi hoặc việc bố trí quỹ nhà cần điều chỉnh để phù hợp với thực tế, Thành phố có thể chủ động xem xét chuyển đổi thay vì để quỹ nhà không được sử dụng hiệu quả.
Quy định này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà ở, đồng thời tạo điều kiện để Thành phố chủ động hơn trong giải quyết nhu cầu nhà ở, tái định cư và nhà ở xã hội, nhất là trong quá trình chỉnh trang, tái thiết và phát triển đô thị.
Câu 46: Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền gì đối với vùng phát thải thấp?
Trả lời: Theo điểm e khoản 1 Điều 13 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“e) Phạm vi vùng phát thải thấp để hạn chế các phương tiện giao thông nhằm cải thiện chất lượng không khí; các biện pháp được áp dụng trong vùng phát thải thấp theo lộ trình phù hợp;”
Theo đó, HĐND Thành phố có thẩm quyền quyết định phạm vi vùng phát thải thấp và các biện pháp hạn chế phương tiện giao thông được áp dụng trong khu vực này theo lộ trình phù hợp.
Vùng phát thải thấp là một trong những công cụ quản lý nhằm giảm lượng khí thải từ phương tiện giao thông, qua đó cải thiện chất lượng không khí tại những khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao. Việc Luật giao HĐND Thành phố quyết định phạm vi và biện pháp áp dụng cho phép Hà Nội chủ động lựa chọn khu vực, mức độ và lộ trình thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế, thay vì áp dụng một cách đồng loạt.
Tuy nhiên, việc hạn chế phương tiện cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp, đồng thời gắn với phát triển giao thông công cộng và các phương án đi lại thay thế, nhằm bảo đảm mục tiêu bảo vệ môi trường nhưng vẫn hạn chế ảnh hưởng đến sinh hoạt, đi lại và hoạt động kinh tế của người dân.
Câu 47: Ai có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước và biện pháp hành chính cấp bách khác?
Trả lời: Theo khoản 5 Điều 14 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“5. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định áp dụng biện pháp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều này.”
Theo đó, Chủ tịch UBND Thành phố và Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp được quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 14, trong đó có các biện pháp hành chính cấp bách theo quy định của Luật, bao gồm trường hợp ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước theo điều kiện, trình tự mà Luật quy định.
Quy định này thể hiện sự phân cấp thẩm quyền xử lý cho chính quyền địa phương, giúp việc áp dụng các biện pháp quản lý có tính chất cấp bách được thực hiện nhanh chóng, kịp thời tại nơi phát sinh vụ việc.
Tuy nhiên, đây là biện pháp có tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động của cá nhân, tổ chức nên việc áp dụng phải đúng đối tượng, đúng căn cứ, thẩm quyền và điều kiện theo Điều 14, không được hiểu là Chủ tịch UBND có thể tùy ý quyết định ngừng cung cấp điện, nước. Thẩm quyền quyết định được giao cho hai cấp Chủ tịch UBND, nhưng việc thực hiện vẫn phải đặt trong khuôn khổ các điều kiện, trình tự và biện pháp cụ thể được Luật Thủ đô quy định.
Câu 48: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền gì đối với giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế?
Trả lời: Theo điểm b khoản 3 Điều 15 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“b) Cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế đối với doanh nghiệp đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố;”
Theo đó, Chủ tịch UBND Thành phố có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế đối với doanh nghiệp đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố. Quy định này thể hiện sự phân quyền trực tiếp cho Thành phố trong lĩnh vực du lịch, tạo điều kiện để Hà Nội chủ động quản lý hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế trên địa bàn.
Việc giao thẩm quyền này cũng góp phần rút ngắn quy trình giải quyết thủ tục hành chính, tăng tính chủ động của Thành phố trong quản lý doanh nghiệp, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển du lịch quốc tế, phù hợp với vị trí của Hà Nội là trung tâm lớn về văn hóa và hội nhập quốc tế.
Câu 49: Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền quy định chính sách gì để hỗ trợ học sinh, sinh viên, giáo viên, giảng viên học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng ở nước ngoài?
Trả lời: Theo điểm b khoản 1 Điều 16 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“b) Chính sách cấp học bổng, cơ chế khuyến khích, hỗ trợ học sinh, sinh viên, giáo viên, giảng viên đi học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng ở các cơ sở giáo dục của nước ngoài trong các lĩnh vực, ngành trọng điểm.”
Theo đó, HĐND Thành phố có thẩm quyền quy định chính sách cấp học bổng, cơ chế khuyến khích và hỗ trợ cho học sinh, sinh viên, giáo viên, giảng viên được đi học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng tại các cơ sở giáo dục nước ngoài, tập trung vào những lĩnh vực, ngành trọng điểm. Chính sách này hướng tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tiếp cận tri thức, công nghệ và phương pháp đào tạo tiên tiến của quốc tế.
Đặc biệt, việc ưu tiên các ngành, lĩnh vực trọng điểm giúp Thành phố tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực có nhu cầu cao và có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ và năng lực cạnh tranh của Thủ đô.
Câu 50: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền gì đối với giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do nước ngoài cấp?
Trả lời: Theo điểm b khoản 2 Điều 17 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“b) Thừa nhận giấy phép hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp để cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam.”
Theo đó, Chủ tịch UBND Thành phố có thẩm quyền thừa nhận giấy phép hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp để làm cơ sở cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam. Quy định này tạo cơ chế thuận lợi để thu hút bác sĩ, chuyên gia y tế có trình độ chuyên môn từ nước ngoài, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực y tế.
Việc thừa nhận giấy phép nước ngoài không chỉ có ý nghĩa về thủ tục hành chính mà còn góp phần bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành y tế Thủ đô, nhất là trong những chuyên ngành cần chuyên gia có trình độ và kinh nghiệm quốc tế.
Câu 51: Tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có sử dụng ngân sách Thành phố được áp dụng cơ chế lựa chọn nhà cung cấp nào?
Trả lời: Theo khoản 4 Điều 18 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“4. Tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có sử dụng ngân sách Thành phố được áp dụng quy trình chỉ định thầu rút gọn để lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ, hàng hóa khi thực hiện nhiệm vụ, trừ trường hợp mua sắm trực tiếp theo quy định của pháp luật.”
Theo đó, tổ chức, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có sử dụng ngân sách Thành phố được áp dụng quy trình chỉ định thầu rút gọn để lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ, hàng hóa. Cơ chế này giúp rút ngắn thời gian lựa chọn nhà cung cấp, tạo điều kiện triển khai nhanh các nhiệm vụ có tính chất đặc thù, thường xuyên thay đổi và đòi hỏi ứng dụng công nghệ mới.
Tuy nhiên, Luật vẫn đặt ra giới hạn khi quy định trừ trường hợp mua sắm trực tiếp theo pháp luật, qua đó bảo đảm việc áp dụng cơ chế đặc thù vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật về đấu thầu và quản lý, sử dụng ngân sách.
Câu 52: Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền quyết định những nội dung nào đối với từng dự án thử nghiệm có kiểm soát?
Trả lời: Theo điểm a khoản 2 Điều 19 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“a) Quyết định cho phép thử nghiệm và ban hành quy chế thử nghiệm đối với từng dự án thử nghiệm; quyết định việc tạm thời không áp dụng một số quy định pháp luật trong phạm vi giới hạn thử nghiệm đối với từng dự án thử nghiệm cụ thể đã có quy định của pháp luật nhưng không đủ cụ thể hoặc không còn phù hợp; điều chỉnh phạm vi thử nghiệm, tạm dừng, gia hạn, kết thúc thử nghiệm;”
Theo đó, UBND Thành phố có thẩm quyền quyết định toàn bộ quá trình quản lý đối với từng dự án thử nghiệm có kiểm soát. Quy định này tạo ra một cơ chế quản lý linh hoạt đối với những mô hình, công nghệ hoặc giải pháp mới, khi pháp luật hiện hành chưa đủ cụ thể hoặc không còn phù hợp với thực tiễn.
Tuy nhiên, việc thử nghiệm phải được thực hiện trong phạm vi, thời hạn và điều kiện được xác định, không đồng nghĩa với việc dự án được miễn tuân thủ pháp luật nói chung. Đây là cơ chế để kiểm chứng cái mới trong một phạm vi có kiểm soát, từ đó đánh giá hiệu quả, rủi ro trước khi xem xét áp dụng rộng rãi.
Câu 53: Thu nhập từ thực hiện các dự án đầu tư thuộc diện ưu đãi được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp như thế nào?
Trả lời: Theo điểm b khoản 2 Điều 26 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“b) Thu nhập từ thực hiện dự án được áp dụng mức thuế suất 5% thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 04 năm và giảm 50% số thuế thu nhập phải nộp trong 09 năm tiếp theo.
Thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với thu nhập của doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới quy định tại khoản này được tính từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư.”
Theo đó, thu nhập từ các dự án thuộc diện ưu đãi được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 5%, đồng thời được: Miễn thuế trong 04 năm; giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo. Đối với dự án đầu tư mới, thời gian miễn, giảm thuế được tính từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư.
Đây là chính sách ưu đãi rất lớn nhằm thu hút các dự án đầu tư có tính chất đặc biệt, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Việc kết hợp thuế suất thấp với thời gian miễn, giảm thuế dài tạo điều kiện để doanh nghiệp giảm chi phí trong giai đoạn đầu tư và phát triển dự án.
Câu 54: Khu kinh tế tự do, khu thương mại tự do tại Thành phố do cơ quan nào thành lập và cơ chế, chính sách về tổ chức, hoạt động do cơ quan nào quy định?
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 27 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“1. Khu kinh tế tự do, khu thương mại tự do tại Thành phố do Ủy ban nhân dân Thành phố thành lập sau khi được Hội đồng nhân dân Thành phố phê duyệt.
Cơ chế, chính sách về tổ chức, hoạt động của khu kinh tế tự do, khu thương mại tự do thực hiện theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố.”
Theo đó, việc thành lập khu kinh tế tự do, khu thương mại tự do được thực hiện theo cơ chế hai bước: UBND Thành phố là cơ quan thành lập và trước khi thành lập phải được HĐND Thành phố phê duyệt.
Đối với cơ chế, chính sách về tổ chức và hoạt động, HĐND Thành phố là cơ quan quy định. Quy định này vừa tạo điều kiện để UBND Thành phố chủ động tổ chức và triển khai, vừa bảo đảm có sự giám sát, quyết định của cơ quan dân cử đối với việc hình thành một mô hình kinh tế có tính chất đặc thù. Việc trao thẩm quyền này tạo cơ sở để Hà Nội chủ động xây dựng không gian kinh tế mới, thu hút đầu tư, thương mại và các hoạt động kinh doanh quốc tế, qua đó tăng sức cạnh tranh và tạo động lực tăng trưởng mới cho Thủ đô.
Câu 55: Luật Thủ đô năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày nào?
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 35 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.”
Theo đó, Luật Thủ đô năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ những trường hợp được quy định riêng tại khoản 2 Điều 35.
Việc xác định rõ thời điểm có hiệu lực có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm bắt đầu áp dụng các cơ chế, chính sách, thẩm quyền và quy định mới của Luật Thủ đô. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cần căn cứ thời điểm này để xác định quy định pháp luật áp dụng đối với từng nhiệm vụ, vụ việc cụ thể, đồng thời chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai Luật trên thực tế.
Câu 56: Hồ sơ thủ tục hành chính đã được tiếp nhận trước ngày Luật có hiệu lực được giải quyết như thế nào?
Trả lời: Theo khoản 4 Điều 36 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“4. Đối với hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính đầy đủ, chính xác và đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của pháp luật tại thời điểm tiếp nhận.”
Theo đó, đối với hồ sơ thủ tục hành chính đã đầy đủ, chính xác và được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày 01 tháng 7 năm 2026, hồ sơ đó tiếp tục được giải quyết theo quy định của pháp luật tại thời điểm tiếp nhận.
Quy định này nhằm bảo đảm tính ổn định, liên tục và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi pháp luật thay đổi trong quá trình giải quyết hồ sơ. Quy định chuyển tiếp này áp dụng đối với hồ sơ “đầy đủ, chính xác và đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận” trước ngày Luật có hiệu lực; do đó, không phải mọi hồ sơ đang trong quá trình chuẩn bị đều đương nhiên thuộc trường hợp được áp dụng quy định chuyển tiếp.
Câu 57: Ai có thẩm quyền công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn Thành phố?
Trả lời: Theo điểm c khoản 3 Điều 15 Luật Thủ đô năm 2026, căn cứ quy định của Ủy ban nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định:
“c) Công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn Thành phố.”
Theo đó, Chủ tịch UBND Thành phố là người có thẩm quyền quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn Thành phố, trên cơ sở các quy định do UBND Thành phố ban hành. Quy định này thể hiện sự phân quyền cho Thành phố trong quản lý hoạt động du lịch, giúp Hà Nội chủ động hơn trong việc đánh giá, công nhận và quản lý chất lượng cơ sở lưu trú phù hợp với đặc điểm, yêu cầu phát triển du lịch của Thủ đô.
Việc giao thẩm quyền cho Thành phố cũng góp phần rút ngắn quy trình giải quyết, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú.
Câu 58: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền gì đối với trường đại học công lập, cao đẳng công lập do Thành phố quản lý?
Trả lời: Theo điểm a khoản 3 Điều 16 Luật Thủ đô năm 2026, căn cứ quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền:
“a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên, cấp phép hoạt động trường đại học công lập, cao đẳng công lập do Thành phố quản lý; cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên, cấp phép hoạt động trường đại học tư thục, cao đẳng tư thục trên địa bàn Thành phố;”
Theo đó, Chủ tịch UBND Thành phố có thẩm quyền quyết định nhiều vấn đề quan trọng đối với trường đại học công lập, cao đẳng công lập do Thành phố quản lý, bao gồm: thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên và cấp phép hoạt động. Thẩm quyền này được thực hiện căn cứ quy định của HĐND Thành phố, qua đó tạo sự chủ động cho Thành phố trong tổ chức mạng lưới giáo dục đại học, cao đẳng thuộc phạm vi quản lý.
Quy định góp phần gắn việc phát triển các cơ sở giáo dục với nhu cầu nguồn nhân lực và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô, đồng thời tạo điều kiện để Thành phố chủ động hơn trong việc sắp xếp, tổ chức lại hệ thống giáo dục công lập.
Câu 59: Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền quy định chính sách gì về cấp cứu ngoại viện và vận chuyển y tế?
Trả lời: Theo điểm c khoản 1 Điều 17 Luật Thủ đô năm 2026, HĐND Thành phố quy định:
c) Chính sách phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện, vận chuyển y tế; giá dịch vụ cấp cứu ngoại viện và tỷ lệ đồng chi trả của người bệnh khi sử dụng dịch vụ cấp cứu ngoại viện để làm cơ sở thực hiện việc hỗ trợ thanh toán;
Theo đó, HĐND Thành phố có thẩm quyền quy định chính sách về phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện, vận chuyển y tế, đồng thời quy định giá dịch vụ cấp cứu ngoại viện và tỷ lệ đồng chi trả của người bệnh làm cơ sở thực hiện hỗ trợ thanh toán. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng một hệ thống cấp cứu nhanh chóng, chuyên nghiệp và phù hợp với đặc điểm đô thị lớn, nơi khoảng cách, mật độ dân cư và tình trạng giao thông có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận cấp cứu.
Việc quy định rõ giá dịch vụ và tỷ lệ đồng chi trả cũng tạo cơ sở để Thành phố bố trí nguồn lực hỗ trợ người dân, góp phần giảm gánh nặng chi phí và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ cấp cứu ngoại viện.
Câu 60: Trong thời hạn bao lâu kể từ ngày ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Điều 8 hoặc Điều 9, chính quyền Thành phố phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền?
Trả lời: Theo khoản 5 Điều 33 Luật Thủ đô năm 2026 quy định:
“5. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 8 hoặc Điều 9 của Luật này, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có trách nhiệm:
a) Báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
c) Báo cáo các Bộ, cơ quan ngang Bộ những vấn đề thuộc thẩm quyền của các Bộ, cơ quan ngang Bộ.”
Quy định thời hạn 07 ngày nhằm bảo đảm cơ quan Trung ương được thông tin kịp thời về việc Thành phố ban hành các văn bản theo cơ chế đặc thù tại Điều 8 và Điều 9.
Đây cũng là một cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực đối với việc thực hiện các thẩm quyền đặc thù của Thành phố. Việc trao quyền chủ động cho Hà Nội đi kèm với yêu cầu báo cáo, minh bạch và chịu sự giám sát của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương, qua đó bảo đảm cơ chế đặc thù được thực hiện đúng mục đích và trong phạm vi pháp luật cho phép.




 

Tác giả bài viết: CTV

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây