Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân, đồng thời là một thành tố quan trọng của đời sống văn hóa và xã hội. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ thể hiện ở việc lựa chọn theo hoặc không theo một tôn giáo mà còn bao gồm quyền bày tỏ niềm tin, thực hành lễ nghi, tham gia sinh hoạt cộng đồng, học tập và truyền bá giáo lý trong khuôn khổ pháp luật. Vì vậy, chất lượng của cơ chế pháp lý không thể chỉ được đánh giá qua số lượng thủ tục quản lý, mà trước hết phải được nhìn nhận từ khả năng bảo vệ quyền, tạo điều kiện cho hoạt động hợp pháp và xử lý đúng đối tượng, đúng mức độ đối với hành vi vi phạm.
Sự phát triển của mạng xã hội, nền tảng phát trực tuyến, dịch vụ nhắn tin và công nghệ trí tuệ nhân tạo đang làm mờ ranh giới giữa hoạt động trực tiếp và hoạt động trực tuyến. Một buổi giảng đạo có thể được truyền trực tiếp tới người tham dự ở nhiều địa phương; một lễ nghi có thể được tổ chức đồng thời tại cơ sở tôn giáo và trên nền tảng số; một lời kêu gọi quyên góp có thể tiếp cận hàng trăm nghìn người chỉ trong thời gian ngắn. Cùng với những lợi ích rõ rệt, môi trường này tạo điều kiện để nội dung giả mạo, xuyên tạc hoặc kích động lan truyền nhanh, vượt qua ranh giới hành chính và gây khó khăn cho việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm.
Trong bối cảnh đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16, được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2027, có ý nghĩa quan trọng. Luật gồm 09 chương, 61 điều, tiếp tục khẳng định chính sách nhất quán của Nhà nước về tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời thiết lập hành lang pháp lý cho hoạt động trên không gian mạng, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Vấn đề trung tâm đặt ra là làm thế nào để các quy định này vừa đủ khả năng phòng ngừa, xử lý hành vi vi phạm, vừa không dẫn đến cách hiểu mở rộng làm thu hẹp không cần thiết việc thực hiện quyền hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Cơ sở pháp lý của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong môi trường số
Điều 24 Hiến pháp năm 2013 khẳng định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật và Nhà nước tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là nền tảng hiến định để xây dựng pháp luật chuyên ngành và cũng là chuẩn mực chi phối việc giải thích, áp dụng các quy định quản lý. Mặt khác, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì những lý do hiến định. Hai quy định này đòi hỏi mọi biện pháp quản lý phải có căn cứ pháp luật rõ ràng, hướng đến mục tiêu chính đáng và bảo đảm tính cần thiết, hợp lý.
Ở bình diện quốc tế, Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Việc biểu hiện tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể chịu những giới hạn do pháp luật quy định và cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe hoặc đạo đức công cộng, hoặc các quyền và tự do cơ bản của người khác. Cách tiếp cận này cho thấy quyền tự do bên trong - quyền có, lựa chọn hoặc thay đổi niềm tin - cần được bảo vệ ở mức cao; còn việc biểu hiện niềm tin ra bên ngoài có thể được điều chỉnh nhưng không được hạn chế tùy tiện.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 cụ thể hóa các nguyên tắc trên. Điều 4 yêu cầu Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; bảo hộ cơ sở và tài sản hợp pháp; khuyến khích phát huy nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo đối với phát triển đất nước, an sinh xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đáng chú ý, khoản 5 Điều 4 xác định quản lý nhà nước phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp, pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Quy định này đặt yêu cầu bảo đảm quyền ở vị trí trung tâm, thay vì coi quyền chỉ là đối tượng thụ động của hoạt động quản lý.
Điều 9 của Luật mở rộng nội hàm bảo đảm quyền thông qua việc ghi nhận quyền bày tỏ niềm tin, thực hành lễ nghi, tham gia lễ hội, học tập và thực hành giáo lý, giáo luật. Người bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc một số biện pháp xử lý hành chính cũng có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin theo quy định. Đối với người chưa thành niên, việc vào tu hoặc học tại cơ sở đào tạo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo phải tự nguyện và được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Như vậy, Luật không chỉ bảo vệ quyền theo nghĩa khái quát mà còn chú ý đến các nhóm có hoàn cảnh pháp lý đặc thù và yêu cầu bảo vệ người dễ bị tổn thương.
Trong môi trường số, các quyền trên không mất đi hoặc trở thành một loại quyền khác. Một cá nhân sử dụng mạng xã hội để chia sẻ niềm tin, tiếp cận kinh sách, tham dự một buổi lễ trực tuyến vẫn đang thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đồng thời với quyền tiếp cận thông tin, quyền biểu đạt và quyền về đời sống riêng tư. Vì thế, quản trị hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên mạng phải được thiết kế theo nguyên tắc: cùng một quyền thì mức độ bảo vệ không nên thấp hơn chỉ vì quyền được thực hiện bằng phương tiện công nghệ; sự khác biệt chỉ nên nằm ở biện pháp phòng ngừa rủi ro đặc thù của môi trường số.
Chuyển đổi số và sự thay đổi của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
Trước hết, chuyển đổi số mở rộng khả năng tiếp cận đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Người cao tuổi, người khuyết tật, người ở xa cơ sở tôn giáo hoặc người Việt Nam ở nước ngoài có thể theo dõi lễ nghi, học tập giáo lý và duy trì kết nối với cộng đồng. Các tổ chức tôn giáo có thêm phương thức lưu trữ kinh sách, số hóa di sản, truyền thông về hoạt động từ thiện và cung cấp thông tin chính thống. Đây là điều kiện để phát huy giá trị văn hóa, đạo đức và nguồn lực xã hội của tôn giáo.
Thứ hai, không gian mạng làm thay đổi quy mô và tính chất của hoạt động. Một nội dung được đăng tải tại một địa điểm có thể đồng thời tiếp cận người dùng ở nhiều xã, tỉnh hoặc quốc gia. Người tổ chức, người phát ngôn, chủ tài khoản, đơn vị quản trị nền tảng và người hưởng lợi từ hoạt động tài chính có thể là những chủ thể khác nhau. Vì vậy, các tiêu chí quản lý vốn dựa chủ yếu vào địa điểm, địa bàn và người đại diện trực tiếp cần được bổ sung bằng tiêu chí về chủ thể khởi tạo, đối tượng hướng đến, mức độ công khai và hậu quả thực tế.
Thứ ba, công nghệ làm tăng tốc độ và mức độ khuếch đại rủi ro. Nội dung giả mạo một chức sắc hoặc tổ chức tôn giáo có thể được tạo bằng công nghệ tổng hợp giọng nói, hình ảnh và video; sau đó được phát tán kèm đường dẫn kêu gọi chuyển tiền. Thuật toán đề xuất nội dung có thể đẩy người dùng vào những nhóm khép kín, nơi thông tin sai lệch được lặp lại và củng cố. Khi hành vi bị phát hiện, dữ liệu có thể đã bị xóa, tài khoản đã đổi tên hoặc máy chủ đặt ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Thứ tư, ranh giới giữa hoạt động tôn giáo và hoạt động truyền thông về tôn giáo trở nên khó xác định. Việc một cá nhân đăng bài bày tỏ đức tin khác về bản chất với việc một tổ chức thực hiện lễ nghi trực tuyến có sự tham gia đồng thời của đông người; việc phổ biến thông tin về một lễ hội khác với việc đứng ra tổ chức, huy động đóng góp và điều phối người tham gia. Nếu không phân loại rõ, cơ quan thực thi có thể áp dụng thủ tục hành chính cho cả những hành vi biểu đạt cá nhân thông thường; ngược lại, chủ thể vi phạm có thể núp dưới danh nghĩa chia sẻ cá nhân để tổ chức hoạt động có quy mô và mục đích khác.
Những thay đổi trên cho thấy chuyển đổi số vừa là công cụ mở rộng quyền, vừa là yếu tố làm phát sinh trách nhiệm mới. Pháp luật cần chuyển từ tư duy chỉ quản lý địa điểm vật lý sang quản trị theo rủi ro, dữ liệu và trách nhiệm của các chủ thể trong toàn bộ chuỗi cung cấp, lan truyền và khai thác nội dung.
Những quy định trọng tâm của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đối với không gian mạng
Xác lập trực tiếp phạm vi điều chỉnh đối với hoạt động trên không gian mạng
Điều 2 của Luật đưa “hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng” vào hệ thống khái niệm của Luật; Điều 8 dành riêng để quy định về chủ thể, thủ tục và trách nhiệm có liên quan. Đây là bước phát triển quan trọng so với cách tiếp cận chỉ điều chỉnh gián tiếp thông qua các quy định chung. Việc ghi nhận trực tiếp giúp khẳng định rằng hoạt động trực tuyến không phải là vùng trống pháp lý, đồng thời tạo cơ sở để xây dựng thủ tục và biện pháp quản lý phù hợp với đặc trưng công nghệ.
Khoản 1 Điều 8 quy định người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung và một số tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp luật định phải thực hiện thông báo, đăng ký hoặc đề nghị với cơ quan có thẩm quyền khi tiến hành hoạt động trên không gian mạng. Cách quy định này cần được hiểu là hoạt động nào vốn thuộc diện thông báo, đăng ký hoặc đề nghị theo Luật thì khi chuyển sang môi trường mạng vẫn phải thực hiện thủ tục tương ứng; không đồng nghĩa mọi biểu đạt cá nhân về tín ngưỡng, tôn giáo trên mạng đều phải xin phép.
Phân định trách nhiệm của bốn nhóm chủ thể
Khoản 2 Điều 8 thiết lập cấu trúc trách nhiệm tương đối đầy đủ. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động phải tuân thủ pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật có liên quan. Tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng phải triển khai giải pháp kỹ thuật và phối hợp gỡ bỏ, ngăn chặn nội dung vi phạm. Tổ chức, doanh nghiệp có mạng viễn thông phải ngăn chặn truy cập nội dung vi phạm theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Điểm tích cực của cấu trúc này là trách nhiệm không chỉ đặt lên người đăng tải mà được phân bổ cho cả chủ thể quản lý và trung gian công nghệ. Tuy nhiên, để bảo đảm khả thi, văn bản hướng dẫn cần làm rõ căn cứ xác định nội dung vi phạm, hình thức và thẩm quyền ban hành yêu cầu, thời hạn phản hồi, cơ chế bảo toàn chứng cứ, xử lý trường hợp khẩn cấp cũng như quyền kiến nghị, khiếu nại của chủ thể bị tác động.
Nhận diện rủi ro từ trí tuệ nhân tạo và công nghệ mới
Khoản 6 Điều 7 nghiêm cấm sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Việc nêu đích danh trí tuệ nhân tạo phản ánh đúng xu hướng rủi ro hiện nay. Công nghệ có thể được sử dụng để giả mạo hình ảnh, giọng nói của chức sắc; tạo văn bản xuyên tạc giáo lý; vận hành tài khoản tự động nhằm khuếch đại nội dung kích động; cá nhân hóa thông điệp lừa đảo hoặc che giấu nguồn gốc nội dung.
Dù vậy, trí tuệ nhân tạo tự thân không phải là đối tượng bị cấm. Công nghệ này có thể hỗ trợ số hóa tài liệu, phiên dịch, tạo phụ đề, giúp người khuyết tật tiếp cận nội dung hoặc hỗ trợ cơ quan quản lý phát hiện dấu hiệu giả mạo. Trọng tâm pháp lý phải là mục đích, cách thức sử dụng và hậu quả, không phải việc đơn thuần có sử dụng công nghệ. Cách tiếp cận dựa trên hành vi và rủi ro sẽ tránh cản trở đổi mới sáng tạo, đồng thời xử lý đúng những trường hợp gây thiệt hại.
Gắn quản lý chuyên ngành với chuyển đổi số của cơ quan nhà nước
Khoản 8 Điều 56 quy định nội dung quản lý nhà nước bao gồm ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là nền tảng để số hóa thủ tục, liên thông dữ liệu, theo dõi quá trình giải quyết hồ sơ và giảm yêu cầu tổ chức, cá nhân phải cung cấp lại thông tin đã có.
Chuyển đổi số trong quản lý không nên chỉ dừng ở việc chuyển biểu mẫu giấy sang biểu mẫu điện tử. Giá trị cốt lõi nằm ở việc tái thiết quy trình theo hướng minh bạch, có thể theo dõi, có tiêu chí xử lý thống nhất và tạo dữ liệu phục vụ phân tích chính sách. Dữ liệu phải được quản trị theo thẩm quyền, mục đích và thời hạn sử dụng; tránh thu thập vượt quá nhu cầu, để lộ thông tin nhạy cảm hoặc sử dụng dữ liệu tín ngưỡng, tôn giáo vào mục đích phân biệt đối xử.
Những vấn đề pháp lý và thực tiễn cần tiếp tục làm rõ
Phân biệt biểu đạt cá nhân với hoạt động thuộc diện quản lý thủ tục
Thách thức đầu tiên là xác định khi nào một hành vi trên mạng trở thành “hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo” thuộc diện thông báo, đăng ký hoặc đề nghị. Các tiêu chí có thể bao gồm: chủ thể đứng ra tổ chức; tính lặp lại và có kế hoạch; số lượng, phạm vi người tham gia; việc thực hiện lễ nghi hoặc giảng đạo theo vai trò chính thức; huy động, quản lý tiền hoặc tài sản; và việc hoạt động có thay thế hay mở rộng một hoạt động trực tiếp thuộc diện thủ tục hay không.
Nếu thiếu tiêu chí, cùng một nội dung có thể bị đánh giá khác nhau giữa các địa phương. Việc áp dụng quá rộng có nguy cơ biến quyền bày tỏ niềm tin của cá nhân thành hoạt động phải thực hiện thủ tục hành chính; áp dụng quá hẹp lại bỏ lọt hoạt động tổ chức có quy mô lớn nhưng được trình bày dưới hình thức trang cá nhân. Vì vậy, văn bản hướng dẫn Điều 8 cần đưa ra dấu hiệu nhận diện và ví dụ tình huống, đồng thời khẳng định rõ hoạt động biểu đạt, tiếp cận thông tin và giao tiếp cá nhân thông thường không thuộc diện xin phép.
Xác định thẩm quyền khi hoạt động vượt qua địa giới hành chính
Hoạt động trực tuyến không gắn cố định với một địa điểm. Người tổ chức có thể ở một tỉnh, nền tảng đặt máy chủ ở nước ngoài, người tham gia phân bố tại nhiều địa phương và hậu quả phát sinh ở nơi khác. Nếu chỉ căn cứ địa chỉ của chủ tài khoản hoặc nơi đặt thiết bị, thẩm quyền quản lý có thể không phản ánh đúng quy mô hoạt động. Ngược lại, nếu mọi địa phương có người xem đều cùng có thẩm quyền, nguy cơ chồng chéo, nhiều lần kiểm tra hoặc yêu cầu xử lý là rất lớn.
Cần xác lập nguyên tắc đầu mối dựa trên trụ sở hoặc nơi cư trú của chủ thể tổ chức, kết hợp cơ chế phối hợp khi hoạt động có phạm vi liên tỉnh hoặc yếu tố nước ngoài. Hệ thống tiếp nhận điện tử nên tự động xác định cơ quan chủ trì, chuyển thông tin cho địa phương liên quan và ghi nhận toàn bộ lịch sử xử lý để tránh trùng lặp.
Bảo đảm tính hợp pháp, cần thiết và tương xứng của biện pháp gỡ bỏ, ngăn chặn
Gỡ bỏ hoặc chặn truy cập có tác động trực tiếp đến quyền biểu đạt, quyền tiếp cận thông tin và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, yêu cầu xử lý phải xác định rõ nội dung vi phạm, căn cứ pháp luật, phạm vi và thời hạn áp dụng. Cần ưu tiên biện pháp ít hạn chế hơn nhưng vẫn đạt mục tiêu, chẳng hạn gỡ bỏ đúng nội dung vi phạm thay vì chặn toàn bộ tài khoản hoặc trang thông tin; hạn chế theo lãnh thổ thay vì loại bỏ trên toàn cầu nếu hậu quả chỉ phát sinh trong phạm vi nhất định.
Trong tình huống có nguy cơ gây thiệt hại tức thời, pháp luật có thể cho phép xử lý khẩn cấp nhưng phải kèm cơ chế hậu kiểm. Chủ thể bị xử lý cần được thông báo, biết căn cứ, được quyền cung cấp giải trình và yêu cầu xem xét lại. Đây không chỉ là bảo đảm thủ tục mà còn giúp cơ quan quản lý sửa chữa quyết định sai, giảm tranh chấp và củng cố niềm tin của cộng đồng.
Xử lý chứng cứ số, nội dung giả mạo và trách nhiệm của tài khoản
Nội dung số dễ bị chỉnh sửa, sao chép và xóa bỏ. Đối với video hoặc âm thanh do trí tuệ nhân tạo tạo ra, việc đánh giá chỉ bằng cảm quan có thể dẫn đến kết luận sai. Quy trình xử lý cần bảo đảm thu thập dữ liệu gốc, thời điểm đăng tải, lịch sử chỉnh sửa, thông tin tài khoản và dấu vết kỹ thuật; sử dụng giám định khi cần thiết và duy trì chuỗi bảo quản chứng cứ.
Bên cạnh người trực tiếp tạo nội dung, cần phân biệt vai trò của người đăng lại, người quản trị nhóm, người đứng tên tài khoản và người hưởng lợi. Trách nhiệm phải gắn với mức độ kiểm soát, nhận thức về tính vi phạm, hành vi chủ động khuếch đại và hậu quả thực tế. Không nên mặc nhiên đồng nhất mọi người chia sẻ với chủ thể khởi tạo; nhưng cũng không thể loại trừ trách nhiệm của người biết rõ nội dung giả mạo mà vẫn tổ chức phát tán để trục lợi hoặc gây chia rẽ.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân và phòng ngừa phân biệt đối xử
Thông tin về tín ngưỡng, tôn giáo có thể phản ánh đời sống riêng tư và là dữ liệu nhạy cảm đối với nhiều cá nhân. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành phải tuân thủ nguyên tắc đúng mục đích, tối thiểu cần thiết, phân quyền truy cập, bảo mật và có thời hạn lưu trữ phù hợp. Dữ liệu phục vụ giải quyết thủ tục không nên được sử dụng để lập hồ sơ, đánh giá hoặc phân loại công dân ngoài mục đích luật định.
Cũng cần phòng ngừa việc nền tảng số sử dụng dữ liệu hành vi để suy đoán niềm tin tôn giáo rồi phân phối quảng cáo, nội dung hoặc cơ hội theo hướng bất lợi cho người dùng. Nguyên tắc các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật và nghiêm cấm kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo tại Điều 7 phải được thực hiện nhất quán cả trong khu vực công và trong hoạt động của các chủ thể công nghệ.
Giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với quản trị không gian mạng
Hoàn thiện văn bản hướng dẫn theo hướng rõ tiêu chí, rõ thẩm quyền, rõ thủ tục
Điều 60 của Luật giao Chính phủ quy định chi tiết Điều 8. Văn bản hướng dẫn cần phân loại hoạt động trực tuyến; xác định trường hợp phải thông báo, đăng ký, đề nghị; quy định cơ quan đầu mối đối với hoạt động liên xã, liên tỉnh và xuyên biên giới; đồng thời chuẩn hóa quy trình yêu cầu nền tảng gỡ bỏ hoặc ngăn chặn nội dung.
Mỗi biện pháp hạn chế cần gắn với căn cứ, phạm vi, thời hạn, cơ chế thông báo và quyền yêu cầu xem xét lại. Hướng dẫn nên có phụ lục tình huống để cơ quan cơ sở, tổ chức tôn giáo và người dân dễ áp dụng; thường xuyên cập nhật trước sự thay đổi của công nghệ nhưng không tạo thêm thủ tục ngoài phạm vi luật giao.
Xây dựng quy trình số thống nhất và cơ sở dữ liệu có kiểm soát
Cần thiết lập một quy trình điện tử thống nhất cho việc thông báo, đăng ký và đề nghị liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Hệ thống phải cho phép theo dõi trạng thái hồ sơ, nhận kết quả, bổ sung tài liệu và phản ánh kiến nghị; đồng thời liên thông giữa cơ quan trung ương và địa phương. Nguyên tắc “cung cấp một lần” cần được áp dụng để giảm giấy tờ trùng lặp.
Cơ sở dữ liệu nên ưu tiên dữ liệu về tổ chức, thủ tục và quá trình xử lý công vụ, không thu thập tràn lan dữ liệu cá nhân về niềm tin của tín đồ. Cần phân quyền theo vị trí việc làm, ghi nhật ký truy cập, mã hóa dữ liệu quan trọng và có cơ chế kiểm tra định kỳ. Chuyển đổi số chỉ thực sự hỗ trợ quyền khi hệ thống dễ sử dụng, minh bạch và an toàn.
Thiết lập cơ chế phối hợp với doanh nghiệp nền tảng và viễn thông
Cơ quan quản lý cần có đầu mối tiếp nhận, xác minh và gửi yêu cầu xử lý theo mẫu thống nhất. Yêu cầu phải mô tả chính xác đường dẫn, tài khoản, hành vi vi phạm và căn cứ pháp lý. Đối với nội dung giả mạo có yếu tố lừa đảo hoặc nguy cơ gây thiệt hại nhanh, cần có kênh phối hợp khẩn cấp, song vẫn bảo đảm lưu vết và hậu kiểm.
Doanh nghiệp nền tảng cần công bố cơ chế báo cáo nội dung giả mạo chức sắc, tổ chức tôn giáo; bảo toàn dữ liệu cần thiết; phản hồi đúng thời hạn và minh bạch về kết quả xử lý. Việc sử dụng công cụ tự động phải có giám sát của con người đối với trường hợp phức tạp, bởi thuật toán có thể không hiểu bối cảnh văn hóa, ngôn ngữ hoặc sự khác biệt giữa tranh luận học thuật với xúc phạm, kích động.
Nâng cao năng lực số và khả năng tự bảo vệ của tổ chức, cá nhân
Phổ biến, giáo dục pháp luật cần chuyển từ việc chỉ giới thiệu điều khoản sang hướng dẫn xử lý tình huống. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng cần được trang bị kỹ năng xác thực tài khoản, bảo mật nhiều lớp, nhận diện nội dung giả mạo, lưu giữ chứng cứ và thông báo kịp thời cho cơ quan chức năng. Người dân cần được cảnh báo không chuyển tiền chỉ dựa trên video, tin nhắn hoặc tài khoản chưa được xác minh.
Các tổ chức tôn giáo nên xây dựng kênh thông tin chính thức, công khai đầu mối xác minh, quy trình tiếp nhận quyên góp và thông tin tài khoản hợp pháp. Khi xuất hiện nội dung giả mạo, phản hồi sớm từ nguồn chính thống thường có hiệu quả cao hơn việc chỉ chờ xử lý hành chính sau khi nội dung đã lan rộng.
Tăng cường đối thoại, giám sát và đánh giá tác động quyền con người
Quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên mạng cần sự tham gia của cơ quan nhà nước, tổ chức tôn giáo, chuyên gia pháp lý, chuyên gia công nghệ, doanh nghiệp nền tảng và cộng đồng. Đối thoại định kỳ giúp nhận diện sớm vấn đề, thống nhất cách hiểu và hạn chế áp dụng không đồng đều.
Cần thống kê không chỉ số vụ việc bị gỡ bỏ hoặc xử lý mà còn tỷ lệ yêu cầu được chấp nhận, số quyết định bị sửa đổi, thời gian phản hồi, loại rủi ro phổ biến và mức độ hài lòng của người thực hiện thủ tục. Việc đánh giá tác động quyền con người nên được thực hiện đối với quy trình, cơ sở dữ liệu và công cụ tự động có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Một số yêu cầu đặt ra trong tổ chức thi hành tại tỉnh Thái Nguyên
Đối với tỉnh Thái Nguyên, việc triển khai Luật cần gắn với rà soát đầy đủ cơ sở tín ngưỡng, tổ chức và hoạt động tôn giáo trên địa bàn; nhưng trọng tâm không phải là tăng số lượng dữ liệu thu thập mà là chuẩn hóa dữ liệu cần thiết cho giải quyết thủ tục và phối hợp quản lý. Cần phân định rõ đầu mối giữa cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã, nhất là đối với hoạt động trực tuyến có người tham gia tại nhiều địa bàn.
Công tác tuyên truyền nên được thực hiện bằng cả hội nghị trực tiếp và sản phẩm số ngắn gọn, dễ tra cứu, tập trung vào Điều 7, Điều 8, quyền tại Điều 9, nghĩa vụ tại Điều 13 và nội dung chuyển đổi số tại Điều 56. Cần xây dựng tình huống mẫu về phát trực tiếp lễ nghi, giảng đạo trực tuyến, tài khoản giả mạo, kêu gọi quyên góp, sử dụng hình ảnh do trí tuệ nhân tạo tạo ra và cách phản ánh vụ việc.
Tỉnh cũng cần thiết lập cơ chế phối hợp nhanh giữa cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, công an, cơ quan thông tin và truyền thông, Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã và các tổ chức tôn giáo. Mục tiêu là xử lý sớm hành vi có nguy cơ gây thiệt hại, đồng thời bảo đảm mọi quyết định quản lý đều đúng thẩm quyền, có căn cứ và tôn trọng quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Kết luận
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong môi trường số. Việc dành riêng Điều 8 cho hoạt động trên không gian mạng, nghiêm cấm sử dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ để vi phạm pháp luật, đồng thời xác lập trách nhiệm của doanh nghiệp nền tảng cho thấy pháp luật đã chủ động phản ứng trước những thay đổi nhanh của công nghệ.
Tuy nhiên, hiệu quả của Luật phụ thuộc lớn vào cách giải thích và tổ chức thi hành. Nếu tiêu chí không rõ, thủ tục thiếu thống nhất hoặc biện pháp ngăn chặn không tương xứng, quy định quản lý có thể ảnh hưởng đến quyền biểu đạt và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp. Ngược lại, nếu thiếu năng lực kỹ thuật, phối hợp và trách nhiệm của nền tảng, những hành vi giả mạo, trục lợi, kích động chia rẽ sẽ khó được phát hiện và xử lý kịp thời.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh chuyển đổi số vì vậy cần dựa trên ba trụ cột: pháp luật rõ ràng và tôn trọng quyền; quản trị số minh bạch, có trách nhiệm; và năng lực tự bảo vệ của cộng đồng. Khi ba trụ cột này được triển khai đồng bộ, công nghệ sẽ không chỉ là đối tượng cần quản lý mà còn trở thành công cụ mở rộng khả năng thực hiện quyền, tăng cường đối thoại và phát huy các giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội.
Tài liệu tham khảo
[1] Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
[2] Quốc hội (2026), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16, ngày 23/4/2026, có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
[3] Quốc hội (2025), Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
[4] Quốc hội (2025), Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15, ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026.
[5] Quốc hội (2023), Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15, ngày 22/6/2023.
[6] Liên hợp quốc (1966), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Điều 18.
[7] Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, https://vanban.chinhphu.vn/.