Câu hỏi 1: Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ những nguyên tắc nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 3 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 3. Nguyên tắc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
1. Tuân thủ Hiến pháp, Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
3. Bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, tiết kiệm, chống lãng phí, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
4. Không vi phạm quy định tại Điều 7 của Luật này.”
Như vậy, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật có liên quan; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, tiết kiệm, chống lãng phí, bảo vệ tài nguyên và môi trường; không thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm.
Câu hỏi 2: Nhà nước có trách nhiệm gì trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 4 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 4. Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
1. Tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng dân cư, đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân.
3. Bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tài sản hợp pháp của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.
4. Khuyến khích và tạo điều kiện phát huy nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
5. Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải bảo đảm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp, pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”
Như vậy, nhà nước tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; bảo vệ các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp; bảo hộ cơ sở và tài sản hợp pháp; khuyến khích phát huy nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ phát triển đất nước, an sinh xã hội và đại đoàn kết toàn dân tộc. Quản lý nhà nước phải bảo đảm tôn trọng quyền theo Hiến pháp, pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Câu hỏi 3: Những hành vi nào bị nghiêm cấm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 7 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo.
4. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường;
b) Trái đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;
c) Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân;
d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ giữa người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.
5. Lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 4 Điều này.”
Như vậy, luật nghiêm cấm phân biệt đối xử, kỳ thị; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo. Cũng bị nghiêm cấm là hoạt động xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; trái đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm; cản trở quyền, nghĩa vụ công dân; gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo; lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi hoặc vi phạm pháp luật.
Câu hỏi 4: Có được sử dụng trí tuệ nhân tạo để tạo và truyền tải nội dung về tín ngưỡng, tôn giáo không?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Khoản 6 Điều 7 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm
6. Sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.”
Như vậy, luật không cấm việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ vào hoạt động hợp pháp. Tuy nhiên, nghiêm cấm sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Vì vậy, các hành vi như giả mạo chức sắc, tổ chức tôn giáo; xuyên tạc giáo lý; kích động chia rẽ; lừa đảo, kêu gọi quyên góp trái pháp luật bằng nội dung do công nghệ tạo ra đều có thể bị xử lý.
Câu hỏi 5: Các chủ thể có trách nhiệm gì đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Khoản 2 Điều 8 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 8. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
2. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng bao gồm:
a) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
b) Tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và quy định khác của pháp luật có liên quan;
c) Tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng có trách nhiệm triển khai các giải pháp kỹ thuật, phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền gỡ bỏ, ngăn chặn các nội dung vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
d) Tổ chức, doanh nghiệp có mạng viễn thông có trách nhiệm ngăn chặn truy cập các nội dung vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”
Như vậy, cơ quan có thẩm quyền phải hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động phải tuân thủ pháp luật. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng phải triển khai giải pháp kỹ thuật, phối hợp gỡ bỏ, ngăn chặn nội dung vi phạm. Doanh nghiệp có mạng viễn thông phải ngăn chặn truy cập nội dung vi phạm theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Câu hỏi 6: Mọi người có những quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 9 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 9. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người
1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
2. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo.
3. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo phải trên cơ sở tự nguyện và được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
4. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác.”
Như vậy, mọi người có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo; bày tỏ niềm tin; thực hành lễ nghi; tham gia lễ hội; học tập, thực hành giáo lý, giáo luật. Mỗi người còn có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo hoặc lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác.
Câu hỏi 7: Người chưa thành niên vào tu hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo cần điều kiện gì?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Khoản 3 Điều 9 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 9. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người
3. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo phải trên cơ sở tự nguyện và được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.”
Như vậy, việc vào tu, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo hoặc lớp bồi dưỡng về tôn giáo của người chưa thành niên phải dựa trên sự tự nguyện của người đó và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Quy định này vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên.
Câu hỏi 8: Người bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang chấp hành hình phạt, biện pháp xử lý có được thực hiện quyền tín ngưỡng, tôn giáo không?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Khoản 5 Điều 9 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 9. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người
5. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện ma túy có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.”
Như vậy, người bị tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện ma túy có quyền sử dụng kinh sách và bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định.
Câu hỏi 9: Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có quyền tín ngưỡng, tôn giáo như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 10 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 10. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam
1. Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có các quyền sau đây:
a) Sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo;
b) Sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung;
c) Mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo;
d) Vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo;
đ) Mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của cá nhân.
3. Chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam.”
Như vậy, người nước ngoài cư trú hợp pháp được tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; được sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành thực hiện lễ nghi, giảng đạo; vào tu, học tại cơ sở đào tạo hoặc lớp bồi dưỡng; mang theo xuất bản phẩm và đồ dùng tôn giáo phục vụ nhu cầu cá nhân. Chức sắc, nhà tu hành nước ngoài cư trú hợp pháp được giảng đạo tại địa điểm hợp pháp.
Câu hỏi 10: Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có những quyền cơ bản nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 11 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 11. Quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc
1. Hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và văn bản có nội dung tương tự (sau đây gọi chung là hiến chương) của tổ chức tôn giáo.
2. Tổ chức sinh hoạt tôn giáo.
3. Xuất bản kinh sách, xuất bản phẩm khác về tôn giáo.
4. Sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo.
5. Cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở tôn giáo.
6. Nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tự nguyện tặng cho.
7. Các quyền khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Như vậy, các tổ chức này được hoạt động theo hiến chương; tổ chức sinh hoạt tôn giáo; xuất bản kinh sách và xuất bản phẩm khác về tôn giáo; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm, đồ dùng tôn giáo; cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở tôn giáo; nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tự nguyện tặng cho; đồng thời được thực hiện các quyền khác theo pháp luật.
Câu hỏi 11: Tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân có nghĩa vụ gì khi thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 13 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 13. Nghĩa vụ của tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
1. Tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ quy định tại Điều 3 của Luật này.
2. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đúng quy định của pháp luật.”
Như vậy, các chủ thể tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ các nguyên tắc tại Điều 3 của Luật. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện và ban quản lý cơ sở tín ngưỡng còn có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia thực hiện hoạt động đúng quy định pháp luật.
Câu hỏi 12: Hoạt động tín ngưỡng diễn ra hằng năm tại cơ sở tín ngưỡng phải thông báo khi nào và ở đâu?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Khoản 2 Điều 15 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 15. Thông báo, đăng ký hoạt động tín ngưỡng
2. Thông báo hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng được thực hiện như sau:
a) Đối với cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn một xã, phường, đặc khu thì người đại diện hoặc ban quản lý có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về hoạt động tín ngưỡng đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở tín ngưỡng;
b) Đối với cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn nhiều xã, phường, đặc khu trong một tỉnh, thành phố thì người đại diện hoặc ban quản lý có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về hoạt động tín ngưỡng đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cơ sở tín ngưỡng;
c) Chậm nhất 30 ngày trước ngày cơ sở tín ngưỡng bắt đầu hoạt động, người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về hoạt động tín ngưỡng diễn ra hằng năm tại cơ sở đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này;
d) Việc thông báo hoạt động tín ngưỡng chỉ thực hiện một lần, trừ hoạt động tín ngưỡng quy định tại điểm b khoản 3 Điều này.
Đối với hoạt động tín ngưỡng không có trong văn bản đã được thông báo thì người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm thông báo bổ sung chậm nhất 20 ngày trước ngày diễn ra hoạt động tín ngưỡng.”
Như vậy, chậm nhất 30 ngày trước ngày cơ sở tín ngưỡng bắt đầu hoạt động, người đại diện hoặc ban quản lý phải thông báo bằng văn bản về hoạt động hằng năm. Nếu cơ sở thuộc địa bàn một xã, phường, đặc khu thì gửi Ủy ban nhân dân cấp xã; nếu thuộc địa bàn nhiều xã, phường, đặc khu trong một tỉnh, thành phố thì gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc thông báo chỉ thực hiện một lần; hoạt động phát sinh ngoài danh mục phải thông báo bổ sung chậm nhất 20 ngày trước khi diễn ra.
Câu hỏi 13: Khi nào hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng phải đăng ký?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Khoản 3 Điều 15 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 15. Thông báo, đăng ký hoạt động tín ngưỡng
3. Đăng ký hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng được thực hiện như sau:
a) Tổ chức, cá nhân được thực hiện hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng;
b) Tổ chức, cá nhân trước khi tổ chức hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng có tính chất phức tạp, quy mô lớn có trách nhiệm đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều này.”
Như vậy, tổ chức, cá nhân được thực hiện hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng. Tuy nhiên, nếu hoạt động ngoài cơ sở có tính chất phức tạp, quy mô lớn thì trước khi tổ chức phải đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo phạm vi địa bàn của hoạt động.
Câu hỏi 14: Tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ phải thực hiện thủ tục gì?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 16 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 16. Tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ
1. Người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng diễn ra định kỳ chậm nhất 20 ngày trước ngày tổ chức lễ hội theo quy định sau đây:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức lễ hội có trách nhiệm tiếp nhận thông báo đối với lễ hội tín ngưỡng có phạm vi tổ chức trong một xã, phường, đặc khu;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức lễ hội có trách nhiệm tiếp nhận thông báo đối với lễ hội tín ngưỡng không thuộc quy định tại điểm a khoản này.
2. Việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ thuộc di sản văn hóa phi vật thể đã được đưa vào Danh mục kiểm kê, ghi danh di sản văn hóa phi vật thể hoặc tổ chức lễ hội tại cơ sở tín ngưỡng được đưa vào Danh mục kiểm kê, xếp hạng di tích thực hiện theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.”
Như vậy, người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng phải thông báo bằng văn bản chậm nhất 20 ngày trước ngày tổ chức. Lễ hội có phạm vi trong một xã, phường, đặc khu thông báo đến Ủy ban nhân dân cấp xã; lễ hội có phạm vi lớn hơn thông báo đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Lễ hội thuộc di sản văn hóa phi vật thể hoặc tổ chức tại di tích thực hiện theo pháp luật về di sản văn hóa.
Câu hỏi 15: Lễ hội tín ngưỡng lần đầu, được khôi phục hoặc có thay đổi phải đăng ký với cơ quan nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 17 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 17. Tổ chức lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ
Hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi
Trước khi tổ chức lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục sau thời gian gián đoạn hoặc lễ hội tín ngưỡng được tổ chức định kỳ nhưng có thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian, địa điểm thì người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm gửi văn bản đăng ký đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức lễ hội, trừ các lễ hội tín ngưỡng thuộc di sản văn hóa phi vật thể đã được đưa vào Danh mục kiểm kê, ghi danh di sản văn hóa phi vật thể hoặc tổ chức tại cơ sở tín ngưỡng đã được đưa vào Danh mục kiểm kê, xếp hạng di tích.”
Như vậy, trước khi tổ chức lễ hội tín ngưỡng lần đầu; lễ hội được khôi phục sau thời gian gián đoạn; hoặc lễ hội định kỳ có thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian, địa điểm, người đại diện hoặc ban quản lý phải gửi văn bản đăng ký đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức. Trường hợp lễ hội thuộc di sản văn hóa phi vật thể hoặc tổ chức tại di tích thì thực hiện theo pháp luật về di sản văn hóa.
Câu hỏi 16: Khoản thu từ lễ hội tín ngưỡng phải được quản lý và công khai như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 18 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 18. Quản lý, sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng
1. Người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm quản lý và sử dụng đúng mục đích, công khai, minh bạch khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng.
2. Chậm nhất 20 ngày kể từ ngày kết thúc lễ hội tín ngưỡng, người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về khoản thu, mục đích sử dụng khoản thu đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi tiếp nhận thông báo hoặc đăng ký tổ chức lễ hội quy định tại khoản 1 Điều 16, Điều 17 của Luật này.
3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 16, Điều 17 của Luật này có trách nhiệm kiểm tra việc quản lý, sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng.”
Như vậy, khoản thu từ lễ hội phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích, công khai và minh bạch. Chậm nhất 20 ngày kể từ ngày kết thúc lễ hội, người đại diện hoặc ban quản lý phải thông báo bằng văn bản về khoản thu và mục đích sử dụng đến cơ quan đã tiếp nhận thông báo hoặc đăng ký tổ chức lễ hội. Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra việc quản lý, sử dụng khoản thu.
Câu hỏi 17: Nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung phải đáp ứng những điều kiện nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Khoản 1 và khoản 2 Điều 19 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 19. Điều kiện, thẩm quyền chấp thuận, thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung
1. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho tín đồ tại những nơi chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho những người thuộc tổ chức khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Có địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung;
b) Có người đại diện đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b và d khoản 2 Điều 14 của Luật này;
c) Tên của nhóm không trùng với tên tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc hoặc tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc tên danh nhân, anh hùng dân tộc;
d) Nội dung sinh hoạt tôn giáo không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này.
2. Những người theo tôn giáo không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung khi có giáo lý, giáo luật và đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này.”
Như vậy, nhóm phải có địa điểm hợp pháp; có người đại diện đáp ứng điều kiện về quốc tịch, thường trú, năng lực hành vi dân sự và không thuộc các trường hợp bị hạn chế theo Luật; tên nhóm không trùng với tên các tổ chức được pháp luật bảo hộ hoặc tên danh nhân, anh hùng dân tộc; nội dung sinh hoạt không thuộc hành vi bị nghiêm cấm. Những người theo tôn giáo chưa thuộc tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 19 còn phải có giáo lý, giáo luật.
Câu hỏi 18: Cơ quan nào chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung và khi nào văn bản chấp thuận hết hiệu lực?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Các khoản 3, 5 và 6 Điều 19 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 19. Điều kiện, thẩm quyền chấp thuận, thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung
3. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi dự kiến đặt địa điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung.
5. Trong thời hạn 06 tháng, nếu nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung không tổ chức sinh hoạt tôn giáo thì văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của Ủy ban nhân dân cấp xã hết hiệu lực, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật về dân sự.
6. Ủy ban nhân dân cấp xã thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung có một trong các hành vi quy định tại khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 7 của Luật này;
b) Theo đề nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo quy định tại khoản 1 Điều này;
c) Theo đề nghị của người đại diện nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung quy định tại khoản 2 Điều này.”
Như vậy, ủy ban nhân dân cấp xã nơi dự kiến đặt địa điểm sinh hoạt có trách nhiệm trả lời bằng văn bản. Nếu trong thời hạn 06 tháng nhóm không tổ chức sinh hoạt thì văn bản chấp thuận hết hiệu lực, trừ trường hợp bất khả kháng. Ủy ban nhân dân cấp xã có thể thu hồi văn bản khi nhóm vi phạm khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 7, hoặc theo đề nghị của tổ chức, người đại diện có liên quan theo Luật.
Câu hỏi 19: Tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo phải đáp ứng điều kiện gì?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Khoản 1 và khoản 2 Điều 20 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 20. Điều kiện, thẩm quyền chấp thuận, thu hồi văn bản chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo
1. Tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và nội dung hoạt động tôn giáo không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này;
b) Có tôn chỉ, mục đích, quy chế hoạt động không trái với quy định của pháp luật;
c) Tên của tổ chức không trùng với tên tổ chức tôn giáo hoặc tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc tên danh nhân, anh hùng dân tộc;
d) Có người đại diện, người lãnh đạo tổ chức đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b và d khoản 2 Điều 14 của Luật này;
đ) Có địa điểm hợp pháp để đặt trụ sở.
2. Thẩm quyền cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được quy định như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở một tỉnh, thành phố;
b) Bộ Dân tộc và Tôn giáo có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố.”
Như vậy, tổ chức phải có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và nội dung hoạt động không thuộc hành vi bị nghiêm cấm; có tôn chỉ, mục đích, quy chế hoạt động phù hợp pháp luật; tên không trùng với các tên bị cấm; người đại diện, người lãnh đạo đáp ứng điều kiện luật định; có địa điểm hợp pháp đặt trụ sở. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết đối với tổ chức hoạt động trong một tỉnh, thành phố; Bộ Dân tộc và Tôn giáo giải quyết đối với tổ chức hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố.
Câu hỏi 20: Tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được công nhận là tổ chức tôn giáo khi nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Khoản 1 Điều 21 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 21. Điều kiện, thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo
1. Tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được công nhận là tổ chức tôn giáo khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Hoạt động ổn định, liên tục từ đủ 05 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo;
b) Nội dung hoạt động tôn giáo không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này;
c) Có hiến chương theo quy định tại Điều 22 của Luật này;
d) Có người đại diện, người lãnh đạo tổ chức đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b và d khoản 2 Điều 14 của Luật này;
đ) Có cơ cấu tổ chức theo hiến chương;
e) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
g) Nhân danh tổ chức tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.”
Như vậy, tổ chức phải hoạt động ổn định, liên tục từ đủ 05 năm kể từ ngày được cấp chứng nhận; hoạt động không thuộc hành vi bị cấm; có hiến chương; người đại diện, người lãnh đạo đáp ứng điều kiện; có cơ cấu tổ chức theo hiến chương; có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh tổ chức tham gia quan hệ pháp luật độc lập.
Câu hỏi 21: Hiến chương của tổ chức tôn giáo phải có những nội dung cơ bản nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 22 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 22. Hiến chương của tổ chức tôn giáo
1. Hiến chương của tổ chức tôn giáo có những nội dung cơ bản sau đây:
a) Tên của tổ chức;
b) Tôn chỉ, mục đích, nguyên tắc hoạt động;
c) Địa bàn hoạt động, trụ sở chính;
d) Tài chính, tài sản;
đ) Người đại diện theo pháp luật;
e) Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, mẫu con dấu của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc;
g) Nhiệm vụ, quyền hạn, nhiệm kỳ của ban lãnh đạo, thành viên ban lãnh đạo tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc;
h) Điều kiện, tiêu chuẩn, thẩm quyền, cách thức phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm, đình chỉ chức sắc, chức việc, nhà tu hành;
i) Điều kiện, thẩm quyền, cách thức giải thể tổ chức tôn giáo; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể tổ chức tôn giáo trực thuộc;
k) Việc tổ chức hội nghị, hội thảo, đại hội; thể thức thông qua quyết định, sửa đổi, bổ sung hiến chương; nguyên tắc, phương thức giải quyết tranh chấp nội bộ của tổ chức;
l) Nguyên tắc, trách nhiệm hoạt động tôn giáo trên không gian mạng;
m) Quan hệ giữa tổ chức tôn giáo với tổ chức tôn giáo trực thuộc, giữa tổ chức tôn giáo với tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
2. Việc sửa đổi hiến chương được quy định như sau:
a) Tổ chức tôn giáo khi sửa đổi hiến chương phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 21 của Luật này;
b) Tổ chức tôn giáo được hoạt động theo hiến chương sửa đổi kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.”
Như vậy, hiến chương phải quy định tên, tôn chỉ, mục đích, nguyên tắc, địa bàn, trụ sở; tài chính, tài sản; người đại diện theo pháp luật; cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ, con dấu; ban lãnh đạo; điều kiện và thẩm quyền đối với chức sắc, chức việc, nhà tu hành; tổ chức lại, giải thể; hội nghị, đại hội, sửa đổi hiến chương, giải quyết tranh chấp; nguyên tắc, trách nhiệm hoạt động trên không gian mạng và các quan hệ nội bộ, liên quan. Hiến chương sửa đổi chỉ được áp dụng sau khi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.
Câu hỏi 22: Việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc phải đáp ứng điều kiện gì?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 25 và Điều 26 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 25. Thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc
1. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; chia, tách tổ chức tôn giáo trực thuộc thành nhiều tổ chức tôn giáo trực thuộc mới; sáp nhập tổ chức tôn giáo trực thuộc vào một tổ chức tôn giáo trực thuộc khác; hợp nhất các tổ chức tôn giáo trực thuộc thành một tổ chức tôn giáo trực thuộc mới.
Điều 26. Điều kiện, thẩm quyền thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc
1. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Hiến chương của tổ chức tôn giáo có quy định về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc;
b) Nội dung hoạt động của tổ chức tôn giáo trực thuộc trước khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này;
c) Có người đại diện, người lãnh đạo tổ chức đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b và d khoản 2 Điều 14 của Luật này;
d) Có địa điểm hợp pháp để đặt trụ sở.
2. Thẩm quyền chấp thuận thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc được quy định như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất đối với tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một tỉnh, thành phố;
b) Bộ Dân tộc và Tôn giáo có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất đối với tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố.
Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận, nếu tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc không thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc thì văn bản chấp thuận hết hiệu lực.”
Như vậy, hiến chương phải có quy định về việc tổ chức lại; hoạt động của tổ chức trước khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất không thuộc hành vi bị cấm; có người đại diện, người lãnh đạo đủ điều kiện; có địa điểm hợp pháp đặt trụ sở. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận tổ chức hoạt động trong một tỉnh, thành phố; Bộ Dân tộc và Tôn giáo chấp thuận tổ chức hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố. Sau 01 năm không thực hiện thì văn bản chấp thuận hết hiệu lực.
Câu hỏi 23: Tổ chức tôn giáo muốn thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo phải đáp ứng điều kiện gì?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 34 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 34. Điều kiện, thẩm quyền thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo
1. Tổ chức tôn giáo được thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo để đào tạo tôn giáo khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này và các điều kiện sau đây:
a) Có cơ sở vật chất bảo đảm cho việc đào tạo;
b) Có quy chế tổ chức và hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích của tổ chức tôn giáo; có quy chế tuyển sinh;
c) Có chương trình, nội dung đào tạo không trái quy định của pháp luật; có môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam trong chương trình đào tạo;
d) Có nhân sự quản lý và giảng dạy đáp ứng yêu cầu đào tạo.
2. Bộ Dân tộc và Tôn giáo có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo.
3. Sau khi được Bộ Dân tộc và Tôn giáo chấp thuận, tổ chức tôn giáo có văn bản thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo. Hết thời hạn 03 năm kể từ ngày được Bộ Dân tộc và Tôn giáo chấp thuận, nếu tổ chức tôn giáo không thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo thì văn bản chấp thuận hết hiệu lực.
4. Cơ sở đào tạo tôn giáo không thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.”
Như vậy, ngoài các điều kiện tương ứng tại khoản 1 Điều 26, cơ sở phải có cơ sở vật chất; quy chế tổ chức, hoạt động và tuyển sinh; chương trình, nội dung đào tạo phù hợp pháp luật, trong đó có môn lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam; có nhân sự quản lý, giảng dạy. Bộ Dân tộc và Tôn giáo chấp thuận việc thành lập. Sau 03 năm không thành lập thì văn bản chấp thuận hết hiệu lực. Cơ sở đào tạo tôn giáo không thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Câu hỏi 24: Cơ sở đào tạo tôn giáo và lớp bồi dưỡng về tôn giáo phải thực hiện những nghĩa vụ nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 35 và Điều 37 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 35. Hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo
1. Chậm nhất 20 ngày trước ngày cơ sở đào tạo tôn giáo bắt đầu hoạt động, người đại diện cơ sở đào tạo tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến Bộ Dân tộc và Tôn giáo về hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo kèm theo văn bản thành lập, quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh, danh sách thành viên ban lãnh đạo, báo cáo về nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất để bảo đảm hoạt động.
3. Cơ sở đào tạo tôn giáo khi sửa đổi quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh phải đăng ký với Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Cơ sở đào tạo tôn giáo được hoạt động theo các quy chế sửa đổi sau khi được Bộ Dân tộc và Tôn giáo chấp thuận.
4. Cơ sở đào tạo tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về kết quả đào tạo của từng khóa học với Bộ Dân tộc và Tôn giáo chậm nhất 20 ngày kể từ ngày kết thúc khóa học.
5. Trình độ đào tạo, hình thức đào tạo, phương thức đào tạo của cơ sở đào tạo tôn giáo phải tuân thủ chuẩn chương trình đào tạo do Chính phủ quy định.
Điều 37. Mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo
1. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo cho người chuyên hoạt động tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi mở lớp chậm nhất 20 ngày trước ngày khai giảng.
2. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mở lớp chậm nhất 20 ngày trước ngày khai giảng.”
Như vậy, cơ sở đào tạo phải thông báo hoạt động đến Bộ Dân tộc và Tôn giáo chậm nhất 20 ngày trước khi bắt đầu; đăng ký khi sửa đổi quy chế; thông báo kết quả từng khóa học trong 20 ngày sau khi kết thúc; tuân thủ chuẩn chương trình do Chính phủ quy định. Lớp bồi dưỡng cho người chuyên hoạt động tôn giáo thông báo đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, lớp khác thông báo đến Ủy ban nhân dân cấp xã, đều chậm nhất 20 ngày trước khai giảng.
Câu hỏi 25: Người nước ngoài cư trú hợp pháp muốn đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cần đáp ứng điều kiện gì?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 43 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 43. Điều kiện, thẩm quyền chấp thuận, thu hồi văn bản đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam
1. Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung tại Việt Nam khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Có giáo lý, giáo luật và nội dung sinh hoạt tôn giáo không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này;
b) Có địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung;
c) Người đại diện đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm b và điểm d khoản 2 Điều 14 của Luật này;
d) Tên của nhóm không trùng với tên tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc hoặc tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc tên danh nhân, anh hùng dân tộc.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
4. Trong thời hạn 06 tháng, nếu nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung không tổ chức sinh hoạt tôn giáo thì văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hết hiệu lực, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật về dân sự.”
Như vậy, nhóm phải có giáo lý, giáo luật và nội dung sinh hoạt không thuộc hành vi bị cấm; có địa điểm hợp pháp; người đại diện có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp bị hạn chế; tên nhóm không trùng với các tên bị cấm. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Nếu trong 06 tháng không tổ chức sinh hoạt thì văn bản chấp thuận hết hiệu lực, trừ trường hợp bất khả kháng.
Câu hỏi 26: Tổ chức tôn giáo có được xuất bản, tham gia giáo dục, y tế, từ thiện, nhân đạo không?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 50 và Điều 51 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 50. Hoạt động xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm
Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được thực hiện xuất bản kinh sách và xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng, tôn giáo; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tín ngưỡng, tôn giáo, đồ dùng tôn giáo theo quy định của pháp luật về xuất bản và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 51. Hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo
Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được tham gia các hoạt động giáo dục, y tế; được thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo để phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo quy định của pháp luật có liên quan.”
Như vậy, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được xuất bản kinh sách, xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng, tôn giáo; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm và đồ dùng tôn giáo theo pháp luật về xuất bản và pháp luật liên quan. Các tổ chức này được tham gia hoạt động giáo dục, y tế; thực hiện bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo nhằm phục vụ phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Câu hỏi 27: Tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo phải được quản lý, sử dụng như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 52 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 52. Việc quản lý, sử dụng tài sản thuộc cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo
1. Tài sản thuộc cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo bao gồm tài sản được hình thành từ đóng góp của thành viên tổ chức; quyên góp, tặng cho của tổ chức, cá nhân hoặc các nguồn khác theo quy định của pháp luật.
2. Tài sản thuộc cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích, công khai, minh bạch và phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo được hình thành theo tập quán, do các thành viên của cộng đồng dân cư cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng dân cư là tài sản thuộc sở hữu chung của cộng đồng dân cư.
4. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn tài sản bằng quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
5. Việc tiếp nhận và quản lý các khoản tài trợ từ tổ chức, cá nhân nước ngoài của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; việc quyên góp của người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc thực hiện theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, tài sản có thể hình thành từ đóng góp của thành viên, quyên góp, tặng cho hoặc nguồn hợp pháp khác và phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích, công khai, minh bạch. Cơ sở được cộng đồng cùng đóng góp, quyên góp hoặc được tặng cho chung để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo là tài sản thuộc sở hữu chung của cộng đồng dân cư. Việc quyên góp, tiếp nhận tài trợ nước ngoài và giao dịch bằng quyền sử dụng đất phải tuân thủ pháp luật liên quan.
Câu hỏi 28: Đất đai, xây dựng, tu bổ và di dời công trình tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện theo quy định nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 53, Điều 54 và Điều 55 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 53. Đất tín ngưỡng, đất tôn giáo
Đất tín ngưỡng, đất tôn giáo được quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.
Điều 54. Cải tạo, nâng cấp, bảo quản, tu bổ, phục hồi, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo, công trình phụ trợ
1. Việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo, công trình phụ trợ được thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo là di tích trong Danh mục kiểm kê di tích hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng thực hiện theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa, pháp luật về xây dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 55. Di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo
Việc di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về xây dựng, pháp luật về di sản văn hóa và quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Như vậy, đất tín ngưỡng, đất tôn giáo được quản lý, sử dụng theo pháp luật về đất đai. Việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới thực hiện theo pháp luật về xây dựng và pháp luật liên quan; việc bảo quản, tu bổ, phục hồi cơ sở là di tích còn phải tuân thủ pháp luật về di sản văn hóa. Di dời công trình vì quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, lợi ích quốc gia, công cộng phải tuân thủ pháp luật về đất đai, xây dựng, di sản văn hóa và quy định khác có liên quan.
Câu hỏi 29: Quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm những nội dung nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 56 và Điều 57 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 56. Nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo
1. Xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Phổ biến, giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật; tiếp nhận và xử lý đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật; đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về tín ngưỡng, tôn giáo.
4. Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
6. Hợp tác quốc tế về tín ngưỡng, tôn giáo.
7. Báo cáo về công tác thi hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
8. Thực hiện ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về tín ngưỡng, tôn giáo.
9. Phân cấp, ủy quyền các nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Điều 57. Thẩm quyền quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Dân tộc và Tôn giáo chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo khi thực hiện các nhiệm vụ theo thẩm quyền có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo.
4. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương.”
Như vậy, nội dung quản lý gồm xây dựng pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; hướng dẫn áp dụng, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ; thanh tra, kiểm tra, giám sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm; hợp tác quốc tế; báo cáo thi hành pháp luật; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu; phân cấp, ủy quyền. Chính phủ thống nhất quản lý; Bộ Dân tộc và Tôn giáo chịu trách nhiệm trước Chính phủ; Ủy ban nhân dân các cấp quản lý tại địa phương.
Câu hỏi 30: Ai có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành và tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ pháp luật: Điều 58 và Điều 59 Luật số 07/2026/QH16 quy định:
“Điều 58. Kiểm tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo
1. Kiểm tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo trên phạm vi cả nước. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cùng cấp.
2. Kiểm tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
a) Kiểm tra Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
b) Kiểm tra tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
c) Kiểm tra những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Điều 59. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về tín ngưỡng, tôn giáo
1. Người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ và các tổ chức, cá nhân khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính, vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
2. Cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.”
Như vậy, bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành trên phạm vi cả nước; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp kiểm tra trong phạm vi quản lý của cấp mình. Nội dung kiểm tra gồm việc thực hiện chính sách, pháp luật của Ủy ban nhân dân, tổ chức, cá nhân và vụ việc có dấu hiệu vi phạm. Chủ thể có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính, dân sự hoặc yêu cầu giải quyết việc dân sự; cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm.