Trình tự, thủ tục xử lý sai sót trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Từ đính chính đến sửa đổi, bổ sung và hủy bỏ

Thứ hai - 04/05/2026 23:16 16 0
Trong hoạt động quản lý nhà nước, xử phạt vi phạm hành chính là công cụ quan trọng nhằm bảo đảm kỷ cương pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, trong quá trình lập hồ sơ và ban hành quyết định xử phạt, không tránh khỏi những sai sót phát sinh như: sai thông tin cá nhân, sai căn cứ pháp lý, xác định chưa chính xác hành vi vi phạm, thậm chí sai thẩm quyền hoặc vi phạm trình tự thủ tục. Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã thiết lập các cơ chế pháp lý để xử lý quyết định có sai sót, bao gồm: đính chính; sửa đổi, bổ sung; hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Các quy định này được quy định tương đối đầy đủ tại Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025 (sau đây gọi tắt là Luật Xử lý vi phạm hành chính) và được hướng dẫn chi tiết tại các Điều 13, 14, 15, 16 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ- CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 118/2021/NĐ-CP) và Nghị định số 190/2025/NĐ- CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 120/2021/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Nghị định 190/2025/NĐ- CP).
Tuy nhiên, trong thực tiễn khi áp dụng vẫn còn nhiều lúng túng, đặc biệt trong việc phân định giữa các trường hợp; khi nào thực hiện đính chính, khi nào thực hiện sửa đổi, hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cũng như trình tự, thủ tục thực hiện sao cho đúng quy định.
Trên cơ sở đó, bài viết này tập trung phân tích, làm rõ quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục ban hành quyết định đính chính; sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần hoặc hủy bỏ toàn bộ quyết định xử phạt vi phạm hành chính khi có sai sót, qua đó góp phần nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
1. Đính chính quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1.1 Trường hợp áp dụng
Theo khoản 1 Điều 14 Nghị định 118/2021/NĐ-CP quy định: Đính chính chỉ được áp dụng khi quyết định có sai sót về kỹ thuật soạn thảo như: Sai tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức; lỗi chính tả; các sai sót hình thức khác không làm thay đổi nội dung xử phạt.
1.2. Thẩm quyền
Người đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm đính chính quyết định khi có sai sót về kỹ thuật soạn thảo.
1.3. Trình tự, thủ tục
Việc đính chính được thực hiện theo trình tự sau:
- Ban hành Quyết định đính chính;
- Nội dung quyết định phải thể hiện rõ:
+ Phần sai sót (số, ký hiệu, ngày tháng năm ban hành của quyết định được đính chính theo từng trường hợp;
+ Nội dung đính chính (ghi cụ thể nôi dung, điều, khoản điểm trong quyết định đính chính và nội dung đính chính).
- Gửi quyết định đính chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định tại Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 17a Nghị định 190/2025/NĐ-CP;
- Lưu vào hồ sơ xử phạt để bảo đảm tính liên tục, thống nhất của hồ sơ.
1.4. Hiệu lực, thời hiệu thi hành, thời hạn thực hiện quyết định đính chính
Về hiệu lực thi hành
Quyết định đính chính có hiệu lực kể từ ngày ký và phải được thi hành ngay khi cá nhân, tổ chức vi phạm nhận được quyết định. Việc giao quyết định đính chính được thực hiện theo quy định tại Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 17a Nghị định 190/2025/NĐ-CP về việc gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành.
Về thời hiệu thi hành
Quyết định đính chính được thực hiện theo thời hiệu thi hành của quyết định xử phạt vi phạm hành chính ban đầu quy định tại Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Quyết định đính chính chỉ có giá trị điều chỉnh, sửa lỗi kỹ thuật hoặc làm rõ nội dung của quyết định xử phạt đã ban hành, không làm phát sinh một quyết định xử phạt mới. Vì vậy, thời hiệu thi hành quyết định đính chính được
tính trong thời hạn thi hành còn lại của quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị đính chính. Việc ban hành quyết định đính chính không làm tính lại hoặc kéo dài thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Trường hợp quá thời hạn thì không thi hành quyết định đó nữa, trừ trường hợp quyết định xử phạt có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả, thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Về thời hạn thực hiện đính chính
Tại Điều 15 Nghị định 118/2021/NĐ-CP quy định thời hạn để thực hiện đính chính là 01 năm kể từ ngày ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót. Trường hợp hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì không thực hiện việc đính chính quyết định xử phạt.
Lưu ý: Các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 118/2021/NĐ-CP thì không áp dụng thời hạn. Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính có áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện hoặc biện pháp khắc phục hậu quả thì việc đính chính chỉ được thực hiện đối với nội dung liên quan đến việc tịch thu hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
2. Sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định xử phạt vi phạm hành chính
2.1. Trường hợp áp dụng
Theo Điều 14 Nghị định 118/2021/NĐ-CP quy định việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng khi: Quyết định xử phạt có sai sót nhưng không thuộc trường hợp phải hủy bỏ toàn bộ quyết định theo khoản 1 Điều 13 Nghị định này và trường hợp đính chính sai sót kỹ thuật theo khoản 1 Điều 14. Ngoài trường hợp có sai sót, cơ quan có thẩm quyền còn có thể sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần quyết định trong trường hợp cần thiết khác.
2.2. Thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần
Người đã ban hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định.
2.3. Trình tự, thủ tục
Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 118/2021/NĐ-CP việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo trình tự sau:
- Ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung hủy bỏ một phần quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải xác định rõ phạm vi sửa đổi; bảo đảm không làm thay đổi bản chất vụ việc nếu không có căn cứ mới;
- Nội dung quyết định phải thể hiện rõ:
+ Phần nội dung bị sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ;
+ Nội dung thay thế hoặc điều chỉnh;
+ Căn cứ pháp lý. 
- Gửi cho cá nhân, tổ chức vi phạm theo quy định tại Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 17a Nghị định 190/2025/NĐ-CP;
- Lưu vào hồ sơ xử phạt để bảo đảm tính liên tục.
2.4 Hiệu lực, thời hiệu thi hành, thời hạn thực hiện sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Về hiệu lực thi hành
Quyết định sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần có hiệu lực kể từ ngày ký và phải được thi hành ngay khi cá nhân, tổ chức vi phạm nhận được quyết định. Việc giao quyết định này được thực hiện theo quy định tại Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 17a Nghị định 190/2025/NĐ-CP về việc gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành; là bộ phận không tách rời của quyết định xử phạt ban đầu.
Về thời hiệu thi hành
Quyết định sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần được tính kể từ ngày ban hành các quyết định này cho đến thời điểm chấm dứt hiệu lực thi hành quyết định quy định tại Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính của quyết định xử phạt vi phạm hành chính được đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, trừ trường hợp quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định này hoặc quyết định mới trong trường hợp có thay đổi đối tượng vi phạm được thực hiện theo quy định tại Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trường hợp quá thời hạn thì không thi hành quyết định đó nữa, trừ trường hợp quyết định xử phạt có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả, thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Về thời hạn thực hiện
Tại Điều 15 Nghị định 118/2021/NĐ-CP quy định thời hạn để thực hiện sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định là 01 năm kể từ ngày ban hành quyết định có sai sót. Trường hợp hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì không thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định xử phạt.
Lưu ý: Không áp dụng thời hạn thực hiện sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần trong các trường hợp có quyết định giải quyết khiếu nại của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; có kết luận nội dung tố cáo của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo; có bản án, quyết định của Tòa án về việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định bị khởi kiện. Khi quyết định xử phạt có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần quyết định chỉ được thực hiện đối với chính các nội dung liên quan đến việc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hoặc việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
3. Hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính
3.1. Các trường hợp áp dụng hủy bỏ
Theo khoản 1 Điều 13 Nghị định 118/2021/NĐ-CP việc hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng khi có căn cứ sai sót nghiêm trọng như: giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính; chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự; không có hành vi vi phạm; sai thẩm quyền; sai đối tượng; vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục; áp dụng sai hình thức xử phạt; giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.
3.2. Thẩm quyền hủy bỏ, ban hành quyết định mới
Người đã bành hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính có thẩm quyền ban hành quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt hành chính có sai sót.
3.3. Trình tự, thủ tục
Theo Điều 13 Nghị định 118/2021/NĐ-CP quy định trình tự thủ tục ban hành quyết định hủy bỏ, ban hành quyết định mới như sau:
- Ban hành Quyết định hủy bỏ toàn bộ quyết định xử phạt;
- Đồng thời xử lý hậu quả: Hoàn trả tiền phạt (nếu có); xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
- Ban hành quyết định mới trong trường hợp nếu còn thời hiệu xử phạt ban hành quyết định mới, nếu hết thời hiệu không xử phạt, chỉ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có) và người có thẩm quyền phải lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 59 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
3.4. Hiệu lực, thời hiệu thi hành, thời hạn thực hiện hủy bỏ, ban hành mới quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Về hiệu lực thi hành
Quyết định hủy bỏ hoặc quyết định mới ban hành có hiệu lực kể từ ngày ký đồng thời làm chấm dứt hiệu lực pháp lý của quyết định xử phạt bị hủy bỏ và phải được thi hành ngay khi cá nhân, tổ chức vi phạm nhận được quyết định. Việc giao quyết định hủy bỏ hoặc quyết định mới được thực hiện theo quy định tại Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 17a Nghị định 190/2025/NĐ-CP về việc gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành.
Về thời hiệu thi hành quyết định mới
Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mới được tính kể từ ngày ban hành các quyết định này cho đến thời điểm chấm dứt hiệu lực thi hành quyết định quy định tại Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về thời hạn thực hiện hủy bỏ và ban hành quyết định mới 
- Không áp dụng thời hạn trong việc hủy bỏ toàn bộ quyết định đã được ban hành. Khi phát hiện sai sót nghiêm trọng phải ban hành quyết định hủy bỏ theo điểm b khoản 1 Điều 15 Nghị định 118/2025/NĐ-CP.
- Thời hạn ban hành quyết định mới theo quy định tại khoản 6 Điều 13 Nghị định 118/2021/NĐ-CP kể từ ngày lập biên bản xác minh tình tiết vụ việc.
Lưu ý: Trong trường hợp ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính, nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc pháp luật có quy định áp dụng hình thức xử phạt tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền đã ban hành quyết định hủy bỏ phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định mới để tịch thu, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.”.
Việc quy định rõ trình tự, thủ tục thực hiện đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần hoặc hủy bỏ toàn bộ quyết định xử phạt VPHC là cơ sở pháp lý quan trọng giúp cơ quan có thẩm quyền kịp thời khắc phục sai sót, bảo đảm tính hợp pháp của quyết định hành chính. Nhằm nâng cao chất lượng trong công tác xử lý vi phạm hành chính và hạn chế rủi ro pháp lý trong thực tiễn.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thùy Dương - Phòng PB&TDTHPL

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây