Ngay sau khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được ban hành và có hiệu lực thi hành, ngày 15/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 144/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL). Việc triển khai thực hiện Nghị định số 144/2017/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng, tác động kịp thời và tương đối toàn diện đến công tác tổ chức, thực hiện hoạt động TGPL trong phạm vi cả nước, góp phần đưa các quy định của Luật TGPL đi vào đời sống xã hội.
Trên thực tế, Nghị định số 144/2017/NĐ-CP đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực TGPL; củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức thực hiện TGPL; từng bước chuẩn hóa quy trình, trình tự, thủ tục TGPL; đồng thời tạo điều kiện nâng cao chất lượng đội ngũ người thực hiện TGPL thông qua việc quy định rõ quyền, nghĩa vụ, chế độ, chính sách và cơ chế khuyến khích phù hợp. Qua đó, quyền được TGPL của các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội từng bước được bảo đảm tốt hơn, góp phần hỗ trợ họ trong việc tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, phòng ngừa vi phạm pháp luật, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo đảm an sinh xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn triển khai thi hành Nghị định số 144/2017/NĐ-CP cũng bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, bất cập cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện.
Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn triển khai Nghị định số 144/2017/NĐ-CP
Thứ nhất, về đối tượng trợ giúp pháp lý: Liên quan đến quy định về điều kiện “có khó khăn về tài chính”. Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đặt ra yêu cầu mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, theo quy định của Luật TGPL năm 2017, nhóm người được TGPL có điều kiện “có khó khăn về tài chính” hiện gồm 08 trong tổng số 14 diện người được TGPL. Thực tiễn cho thấy, số lượng người thuộc nhóm này chiếm tỷ lệ không lớn trong tổng số người được TGPL.
Mặt khác, điều kiện xác định “có khó khăn về tài chính” hiện nay chủ yếu giới hạn ở người thuộc hộ cận nghèo hoặc người đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định của pháp luật, dẫn đến phạm vi điều chỉnh còn hẹp. Trong khi đó, trên thực tế, còn nhiều nhóm người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn như người mới thoát nghèo, người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có thu nhập trung bình nhưng không ổn định. Khi phát sinh tranh chấp, khiếu kiện hoặc vướng mắc pháp lý, các đối tượng này thường không đủ khả năng chi trả chi phí dịch vụ pháp lý có thu, song lại không đáp ứng điều kiện để được TGPL theo quy định hiện hành.
Thứ hai, về tổ chức hệ thống Trung tâm và Chi nhánh TGPL nhà nước: Khoản 2 Điều 11 Luật TGPL năm 2017 quy định việc thành lập Chi nhánh Trung tâm TGPL tại các huyện thuộc vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, có giao thông không thuận tiện đến Trung tâm TGPL nhà nước. Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP đã cụ thể hóa tiêu chí xác định huyện có giao thông không thuận tiện.
Tuy nhiên, trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều tỉnh, thành phố có địa bàn quản lý rộng, điều kiện địa lý, giao thông, dân cư và trình độ phát triển kinh tế – xã hội có sự khác biệt đáng kể. Khái niệm “vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn” theo quy định hiện hành không còn hoàn toàn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và thực tiễn tổ chức bộ máy hiện nay. Do đó, quy định về việc thành lập Chi nhánh Trung tâm TGPL cần được nghiên cứu sửa đổi để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp và đáp ứng kịp thời nhu cầu TGPL của người dân.
Thứ ba, về chế độ, chính sách đối với người thực hiện TGPL: Ngày 27/11/2023, Bộ Tư pháp và Bộ Công an đã ký kết Chương trình phối hợp số 5789/CTPH-BTP-BCA về trực TGPL trong điều tra hình sự, theo đó Trung tâm TGPL nhà nước phân công người trực qua điện thoại 24/24 giờ nhằm bảo đảm quyền tiếp cận TGPL của người bị buộc tội ngay từ giai đoạn đầu của tố tụng hình sự. Tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định cụ thể hướng dẫn việc chi trả thù lao, bồi dưỡng và các chi phí phát sinh đối với hoạt động trực TGPL này.
Thứ tư, về yêu cầu hồ sơ đối với cộng tác viên TGPL: Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia đã đặt ra yêu cầu đẩy mạnh khai thác, sử dụng dữ liệu số trong giải quyết thủ tục hành chính. Trong bối cảnh đó, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 16 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP yêu cầu nộp sơ yếu lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú đối với người đề nghị làm cộng tác viên TGPL được đánh giá là chưa thực sự cần thiết và chưa phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số hiện nay.
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế
Để bảo đảm việc thực hiện Luật TGPL có hiệu quả, đồng thời khắc phục những bất cập trong tổ chức và hoạt động TGPL, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về TGPL theo hướng đồng bộ, thống nhất và phù hợp với thực tiễn. Theo đó, có thể xem xét sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định số 144/2017/NĐ-CP như sau:
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung điều kiện “có khó khăn về tài chính” theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng đối với người mới thoát nghèo, người lao động có thu nhập thấp trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp và người gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn. Việc sửa đổi này nhằm bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng thực sự gặp khó khăn, không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý, đồng thời không làm phát sinh đối tượng được TGPL ngoài phạm vi quy định của Luật TGPL.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về tổ chức hệ thống TGPL theo hướng mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có ít nhất một Trung tâm TGPL nhà nước, đồng thời giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tiễn để quyết định số lượng Trung tâm và Chi nhánh. Việc thành lập Chi nhánh cần được quy định linh hoạt, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đặc thù từng địa phương.
Thứ ba, bổ sung và hoàn thiện quy định về chế độ thanh toán thù lao, bồi dưỡng, chi phí đối với người thực hiện TGPL, đặc biệt là đối với các vụ việc thụ lý ngay, các trường hợp không đủ điều kiện TGPL sau khi xác minh và hoạt động trực TGPL trong điều tra hình sự.
Thứ tư, bãi bỏ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 16 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP về yêu cầu nộp sơ yếu lý lịch có xác nhận của chính quyền địa phương trong hồ sơ đề nghị làm cộng tác viên TGPL, nhằm bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực hiện Đề án 06 của Thủ tướng Chính phủ và thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong lĩnh vực TGPL.
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt là Nghị định số 144/2017/NĐ-CP, đã thiết lập nền tảng pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người dân, nhất là đối với các nhóm yếu thế trong xã hội. Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai cho thấy, một số quy định của Nghị định vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, sự thay đổi trong mô hình tổ chức chính quyền địa phương cũng như tiến trình cải cách hành chính và chuyển đổi số hiện nay. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến đối tượng được trợ giúp pháp lý, tổ chức bộ máy, cơ chế thực hiện và chế độ, chính sách đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý là yêu cầu cần thiết, nhằm bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới./.