Trình tự, thủ tục ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ việc được chuyển từ cơ quan tiến hành tố tụng hình sự theo điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính

Thứ năm - 23/07/2026 03:50 7 0
Chuyển hồ sơ vụ việc từ cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sang cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là cơ chế đặc thù nhằm bảo đảm mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được xem xét, xử lý đầy đủ, kịp thời, đúng tính chất, mức độ vi phạm và đúng thẩm quyền, đồng thời bảo đảm nguyên tắc không bỏ lọt hành vi vi phạm nhưng cũng không xử lý hình sự khi không đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và 2025 (gọi tắt là Luật Xử lý vi phạm hành chính) đã sửa đổi toàn diện Điều 63 theo hướng thiết lập trình tự xử phạt riêng đối với vụ việc được chuyển từ cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Đồng thời, Nghị định số 118/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể về hồ sơ chuyển giao, văn bản đề nghị xử phạt, căn cứ xử phạt và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan. So với trình tự xử phạt vi phạm hành chính thông thường, trình tự xử lý đối với vụ việc quy định tại Điều 63 có nhiều điểm đặc thù về căn cứ xử phạt, thành phần hồ sơ, thời hạn ban hành quyết định xử phạt và hoạt động xác minh. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng vẫn còn phát sinh những khó khăn nhất định, nhất là trong việc nghiên cứu hồ sơ do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển giao, xác định căn cứ xử phạt, thực hiện quyền giải trình và bảo đảm thời hạn ban hành quyết định xử phạt.
Trên cơ sở các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành, bài viết trao đổi một số nội dung nghiệp vụ nhằm góp phần thống nhất thực hiện và cách thức áp dụng trong thực tiễn.
1. Cơ sở pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ việc được chuyển theo Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính 
Khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định:
"1. Đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết nhưng sau đó ban hành một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án mà hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án phải xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền. Trường hợp không có thẩm quyền xử phạt thì phải chuyển quyết định kèm theo hồ sơ (bản sao y), tang vật, phương tiện vi phạm liên quan đến hành vi vi phạm hành chính trong vụ việc (trừ trường hợp tang vật, phương tiện là vật chứng) và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày quyết định có hiệu lực."
Quy định này thể hiện nguyên tắc ưu tiên xử phạt ngay trong cơ quan tiến hành tố tụng nếu người đang thụ lý có thẩm quyền xử phạt; chỉ chuyển hồ sơ khi không thuộc thẩm quyền xử phạt. Đồng thời, việc chuyển hồ sơ phải bảo đảm đầy đủ quyết định tố tụng, hồ sơ vụ việc, tang vật, phương tiện (nếu được chuyển giao) và văn bản đề nghị xử phạt để làm căn cứ xem xét, quyết định xử phạt.
2. Căn cứ ban hành quyết định xử phạt
Khoản 2 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định:
" 2. Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này chuyển đến. Trường hợp cần thiết phải xác minh thêm tình tiết để có căn cứ ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 59 của Luật này.".
Đây là điểm mới quan trọng của Điều 63. Theo đó, căn cứ trực tiếp để ban hành quyết định xử phạt là toàn bộ hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển giao. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để người có thẩm quyền sử dụng kết quả điều tra, xác minh, tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, không phải xác lập lại toàn bộ hồ sơ như đối với vụ việc được phát hiện theo trình tự xử phạt thông thường.
3. Thời hạn ban hành quyết định xử phạt
Khoản 3 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định:
"3. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong trường hợp cần xác minh thêm quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày.".
Như vậy, Điều 63 đã thiết lập cơ chế tính thời hạn riêng đối với loại vụ việc này. Đây là quy định đặc thù, không áp dụng thời hạn ban hành quyết định xử phạt theo Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
4. Trình tự, thủ tục ban hành quyết định xử phạt
4.1 . Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ chuyển giao
Ngay sau khi tiếp nhận hồ sơ, người có thẩm quyền xử phạt cần tiến hành rà soát toàn diện hồ sơ để bảo đảm việc xử lý đúng quy định của pháp luật. Nội dung kiểm tra bao gồm:
- Căn cứ chuyển hồ sơ theo khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
- Thẩm quyền xử phạt;
- Thời hiệu xử phạt theo Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
- Thành phần hồ sơ, tài liệu, chứng cứ;
- Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (nếu có);
- Văn bản đề nghị xử phạt của cơ quan tiến hành tố tụng.
Theo khoản 3 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP quy định: Văn bản đề nghị xử phạt phải thể hiện đầy đủ các nội dung chủ yếu sau: thông tin về cá nhân, tổ chức vi phạm và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; mô tả cụ thể, đầy đủ vụ việc, hành vi vi phạm; điểm, khoản, điều của
nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cụ thể.
Việc kiểm tra hồ sơ ngay từ khi tiếp nhận có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định đầy đủ căn cứ pháp lý, bảo đảm xử phạt đúng thẩm quyền, đúng thời hiệu và trong thời hạn theo quy định.
4.2. Về việc lập biên bản vi phạm hành chính
Việc lập biên bản vi phạm hành chính cần được phân biệt theo từng trường hợp cụ thể.
Thứ nhất, đối với hồ sơ được chuyển theo đúng khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính
Khoản 2 Điều 63 quy định việc xử phạt được căn cứ trực tiếp vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển giao. Đồng thời, khoản 3 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP quy định về nội dung văn bản đề nghị xử phạt mà không đặt ra yêu cầu phải lập biên bản vi phạm hành chính trước khi ban hành quyết định xử phạt.
Do đó, đối với trường hợp này, căn cứ xử phạt là hồ sơ vụ vi phạm được chuyển giao kèm theo văn bản đề nghị xử phạt của cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ hai, đối với trường hợp chuyển hồ sơ mà không có một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính
Theo điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP nếu thuộc trường hợp phải lập biên bản theo Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng phải lập biên bản vi phạm hành chính trước khi chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử phạt.
Như vậy, việc có hay không phải lập biên bản vi phạm hành chính phụ thuộc vào căn cứ chuyển hồ sơ và từng trường hợp cụ thể theo quy định của Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP.
5. Xác minh tình tiết vụ việc
Khoản 2 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính cho phép người có thẩm quyền xử phạt xác minh thêm tình tiết của vụ việc theo Điều 59 của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi hồ sơ chuyển giao chưa đủ căn cứ để ban hành quyết định xử phạt. Hoạt động xác minh trong trường hợp này không phải là điều tra lại toàn bộ vụ việc mà chỉ nhằm làm rõ những nội dung còn thiếu hoặc chưa đầy đủ, như: xác định chính xác chủ thể vi phạm; xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm; xác định hậu quả của hành vi vi phạm; xác định căn cứ áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả hoặc các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc ra quyết định xử phạt.
Việc xác minh phải xuất phát từ yêu cầu làm rõ nội dung vụ việc, bảo đảm tính khách quan, toàn diện và đúng pháp luật; không được lợi dụng hoạt động xác minh để kéo dài thời gian giải quyết vụ việc. Đồng thời, khi việc xác minh được thực hiện đúng căn cứ và đúng trình tự theo khoản 2 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì đây là cơ sở để áp dụng thời hạn tối đa 45 ngày theo khoản 3 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Trong quá trình xác minh, người có thẩm quyền có thể lập Biên bản xác minh tình tiết vụ việc vi phạm hành chính theo Điều 59 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Đây là tài liệu quan trọng để bổ sung chứng cứ, hoàn thiện hồ sơ xử phạt và làm cơ sở chứng minh quá trình giải quyết vụ việc khi phát sinh khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính.
6. Ban hành quyết định xử phạt
Sau khi nghiên cứu đầy đủ hồ sơ và hoàn thành việc xác minh (nếu có), người có thẩm quyền xem xét ban hành quyết định xử phạt hoặc quyết định không xử phạt theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Đối với vụ việc thuộc trường hợp được giải trình theo Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền phải bảo đảm đầy đủ quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm trước khi ban hành quyết định xử phạt.
Việc thực hiện quyền giải trình không làm thay đổi thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 63. Theo đó, quyết định xử phạt vẫn phải được ban hành trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; trường hợp cần xác minh theo khoản 2 Điều 63 thì thời hạn tối đa là 45 ngày.
Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính đã thiết lập trình tự xử phạt đặc thù đối với vụ việc được chuyển từ cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, tạo cơ sở pháp lý để sử dụng hồ sơ chuyển giao làm căn cứ trực tiếp ban hành quyết định xử phạt, đồng thời quy định riêng về trình tự xác minh và thời hạn giải quyết. Trong quá trình áp dụng, người có thẩm quyền cần nghiên cứu đầy đủ hồ sơ, xác định đúng căn cứ pháp lý, thực hiện đầy đủ quyền giải trình, xác minh khi cần thiết và tuân thủ nghiêm thời hạn ban hành quyết định xử phạt. Việc thực hiện đúng trình tự, thủ tục không chỉ bảo đảm tính hợp pháp, khách quan của quyết định xử phạt mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính và hạn chế khiếu nại, khởi kiện phát sinh trong thực tiễn.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thùy Dương-Phòng PB,GDPL&TDTHPL

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn biết tới Cổng thông tin PBGDPL Thái Nguyên qua đâu ?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập845
  • Hôm nay33,183
  • Tháng hiện tại3,286,631
  • Tổng lượt truy cập38,320,586
Làm bài thi
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây