Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 không chỉ nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng, quy định của Hiến pháp về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quản lý nhà nước, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát huy nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo đối với sự phát triển của đất nước.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tôn trọng và bảo hộ
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người được Hiến pháp ghi nhận. Trên cơ sở đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 tiếp tục khẳng định nguyên tắc mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ được hiểu là quyền lựa chọn theo hoặc không theo tôn giáo mà còn bao gồm quyền bày tỏ niềm tin; thực hành lễ nghi; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật; vào tu tại cơ sở tôn giáo; học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo.
Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác. Việc ghi nhận cụ thể những quyền này tạo cơ sở pháp lý để các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện công khai, ổn định, phù hợp với nhu cầu tinh thần chính đáng của Nhân dân.
Đối với người chưa thành niên, Luật quy định việc vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo hoặc lớp bồi dưỡng về tôn giáo phải dựa trên cơ sở tự nguyện và được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Quy định này vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên.
Luật cũng quan tâm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện ma túy. Những người này có quyền sử dụng kinh sách và bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định. Đây là sự cụ thể hóa nguyên tắc quyền con người chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật và trong những trường hợp thực sự cần thiết.
Bên cạnh việc xác lập các quyền, Luật quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng dân cư.
Nhà nước đồng thời có trách nhiệm bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích, tạo điều kiện để phát huy nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Một nguyên tắc quan trọng được Luật khẳng định là hoạt động quản lý nhà nước phải bảo đảm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp, pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Như vậy, quản lý nhà nước không phải là hạn chế hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng mà nhằm bảo đảm quyền được thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật, đồng thời phòng ngừa và xử lý các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với trách nhiệm tuân thủ pháp luật
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân khác.
Điều 3 của Luật xác định bốn nguyên tắc cơ bản đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo: tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bảo vệ tài nguyên, môi trường; không thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm.
Theo Điều 13 của Luật, tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ các nguyên tắc này. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện và ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Luật nghiêm cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo.
Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cũng không được xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và môi trường; không được trái đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân hoặc gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo.
Đặc biệt, Luật nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi. Quy định này là cơ sở để đấu tranh với các hành vi núp bóng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nhằm thu lợi bất chính, lừa đảo, mê tín, gây tổn hại đến sức khỏe, tài sản của người dân hoặc ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội.
Việc xác định rõ ranh giới giữa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp với hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa quan trọng. Mọi tổ chức, cá nhân đều được bảo đảm thực hiện quyền chính đáng của mình, nhưng không thể viện dẫn lý do tín ngưỡng, tôn giáo để đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật.
Thiết lập hành lang pháp lý cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
Một nội dung nổi bật của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 là dành riêng Điều 8 để điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
Trong những năm gần đây, nhiều hoạt động giảng đạo, truyền đạo, sinh hoạt tôn giáo, phổ biến kinh sách và tổ chức nghi lễ đã được thực hiện thông qua website, mạng xã hội, nền tảng phát trực tuyến và các ứng dụng công nghệ. Không gian mạng giúp kết nối cộng đồng, mở rộng khả năng tiếp cận thông tin nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ phát tán nội dung sai lệch, kích động chia rẽ, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng niềm tin để trục lợi.
Luật quy định người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo và nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung khi thực hiện hoạt động trên không gian mạng phải tiến hành thông báo, đăng ký hoặc đề nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp pháp luật quy định.
Các chủ thể thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng phải tuân thủ pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, an ninh mạng, an toàn thông tin và các quy định pháp luật có liên quan.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm. Tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng phải triển khai giải pháp kỹ thuật, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để gỡ bỏ, ngăn chặn nội dung vi phạm. Doanh nghiệp có mạng viễn thông phải ngăn chặn việc truy cập nội dung vi phạm theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Đáng chú ý, Luật nghiêm cấm sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định này có ý nghĩa phòng ngừa việc sử dụng trí tuệ nhân tạo để tạo lập hình ảnh, âm thanh, video giả mạo chức sắc, tổ chức tôn giáo; xuyên tạc giáo lý; phát tán thông tin kích động hoặc kêu gọi đóng góp, quyên góp trái pháp luật.
Việc điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng không nhằm hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà nhằm bảo đảm quyền này được thực hiện an toàn, lành mạnh, có trách nhiệm và phù hợp với pháp luật trong môi trường số.
Quy định cụ thể về hoạt động tín ngưỡng và lễ hội tín ngưỡng
Luật dành Chương III quy định về hoạt động tín ngưỡng, bao gồm người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng; việc thông báo, đăng ký hoạt động tín ngưỡng; tổ chức lễ hội tín ngưỡng và quản lý, sử dụng các khoản thu từ lễ hội.
Người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng giữ vai trò trực tiếp tổ chức, quản lý hoạt động tại cơ sở tín ngưỡng. Vì vậy, các chủ thể này phải thực hiện đúng trách nhiệm được giao, bảo đảm hoạt động tín ngưỡng diễn ra trang nghiêm, an toàn, tiết kiệm, phù hợp với truyền thống văn hóa và quy định của pháp luật.
Đối với hoạt động tín ngưỡng diễn ra hằng năm, người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm thực hiện việc thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Lễ hội tín ngưỡng được tổ chức định kỳ; lễ hội được tổ chức lần đầu, được khôi phục hoặc có sự thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian, địa điểm phải thực hiện thủ tục theo quy định tương ứng.
Một yêu cầu đáng chú ý là khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích, công khai và minh bạch. Chậm nhất 20 ngày kể từ ngày kết thúc lễ hội, người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng phải thông báo bằng văn bản về khoản thu và mục đích sử dụng khoản thu đến cơ quan đã tiếp nhận thông báo hoặc đăng ký tổ chức lễ hội.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra việc quản lý, sử dụng các khoản thu. Quy định này góp phần phòng ngừa tình trạng thương mại hóa lễ hội, sử dụng tiền công đức, tài trợ, đóng góp không đúng mục đích hoặc thiếu công khai, minh bạch.
Hoàn thiện địa vị pháp lý và cơ chế hoạt động của tổ chức tôn giáo
Luật quy định tương đối toàn diện quá trình hình thành và hoạt động của một tổ chức tôn giáo, từ đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đến công nhận tổ chức tôn giáo.
Các nội dung về hiến chương, tên gọi, trụ sở, địa bàn hoạt động; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; giải thể và phục hồi hoạt động được quy định cụ thể, tạo cơ sở pháp lý để tổ chức tôn giáo hoạt động ổn định và minh bạch.
Theo Điều 27 của Luật, tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Tổ chức tôn giáo trực thuộc được đăng ký pháp nhân phi thương mại khi đáp ứng các điều kiện luật định. Việc xác định rõ tư cách pháp nhân giúp tổ chức tôn giáo thuận lợi hơn trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự, quản lý tài sản, giao kết các quan hệ pháp luật và chịu trách nhiệm đối với hoạt động của mình.
Luật cũng quy định cụ thể việc phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm hoặc đình chỉ chức sắc, chức việc; thành lập và hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo; mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo; tổ chức hội nghị, hội thảo, đại hội, cuộc lễ và hoạt động giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo.
Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo phải thông báo danh mục hoạt động tôn giáo diễn ra hằng năm. Việc thông báo được thực hiện theo địa bàn hoạt động: gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nếu hoạt động trong phạm vi một xã, phường, đặc khu; gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nếu hoạt động tại nhiều xã, phường, đặc khu thuộc một tỉnh, thành phố; gửi Bộ Dân tộc và Tôn giáo nếu hoạt động tại nhiều tỉnh, thành phố.
Danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm chỉ phải thông báo một lần. Đối với hoạt động chưa có trong danh mục đã thông báo, tổ chức có trách nhiệm thông báo bổ sung chậm nhất 20 ngày trước ngày diễn ra hoạt động. Quy định này vừa bảo đảm quyền chủ động của tổ chức tôn giáo, vừa tạo điều kiện để cơ quan quản lý nắm bắt thông tin và phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn cho hoạt động.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Luật tiếp tục ghi nhận và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
Người nước ngoài được sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo; mang theo xuất bản phẩm và đồ dùng tôn giáo phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân.
Chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác. Tuy nhiên, các hoạt động có yếu tố nước ngoài như sinh hoạt tôn giáo tập trung, giảng đạo, đào tạo, phong phẩm, bổ nhiệm, gia nhập tổ chức tôn giáo nước ngoài và quan hệ quốc tế về tôn giáo phải thực hiện theo đúng điều kiện, trình tự, thủ tục do Luật quy định.
Những quy định này thể hiện chính sách nhất quán của Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời bảo đảm hoạt động có yếu tố nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam, chủ quyền quốc gia và yêu cầu quản lý trong tình hình mới.
Minh bạch trong quản lý, sử dụng tài sản tín ngưỡng, tôn giáo
Tài sản thuộc cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo có thể được hình thành từ sự đóng góp của thành viên; khoản quyên góp, tặng cho của tổ chức, cá nhân hoặc từ các nguồn hợp pháp khác.
Luật yêu cầu tài sản phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích, công khai, minh bạch và phù hợp với quy định của pháp luật. Cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo được hình thành theo tập quán, do các thành viên trong cộng đồng cùng đóng góp, quyên góp hoặc được tặng cho chung nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng được xác định là tài sản thuộc sở hữu chung của cộng đồng dân cư.
Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải tuân thủ pháp luật về đất đai và pháp luật có liên quan. Việc tiếp nhận, quản lý tài trợ từ tổ chức, cá nhân nước ngoài và việc tổ chức quyên góp cũng phải được thực hiện theo quy định.
Đối với đất tín ngưỡng, đất tôn giáo, việc quản lý, sử dụng được thực hiện theo pháp luật về đất đai. Hoạt động cải tạo, nâng cấp, bảo quản, tu bổ, phục hồi, xây dựng mới hoặc di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo phải tuân thủ pháp luật về xây dựng, di sản văn hóa và các quy định liên quan.
Các quy định này góp phần phòng ngừa tranh chấp, thất thoát, sử dụng sai mục đích tài sản chung; đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo và cộng đồng dân cư.
Phát huy nguồn lực của các tổ chức tôn giáo trong đời sống xã hội
Luật ghi nhận tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được tham gia các hoạt động giáo dục, y tế; thực hiện hoạt động bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật.
Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa và nguồn lực xã hội của các tôn giáo. Thực tiễn cho thấy nhiều tổ chức, chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo đã tích cực tham gia chăm sóc người có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ người khuyết tật, trẻ em, người cao tuổi; cứu trợ thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ môi trường và xây dựng đời sống văn hóa tại cộng đồng dân cư.
Việc tạo điều kiện để tổ chức tôn giáo tham gia các hoạt động xã hội không chỉ góp phần huy động nguồn lực cho phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội mà còn tăng cường sự gắn bó, đồng hành của các tôn giáo với dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
Luật xác định quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm xây dựng pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; hướng dẫn, tập huấn nghiệp vụ; thanh tra, kiểm tra, giám sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm; hợp tác quốc tế và báo cáo tình hình thi hành pháp luật.
Đáng chú ý, Luật bổ sung nội dung ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là nền tảng để từng bước số hóa thủ tục hành chính, chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao khả năng phối hợp giữa các cơ quan và tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi cả nước. Bộ Dân tộc và Tôn giáo chịu trách nhiệm trước Chính phủ về lĩnh vực này. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương.
Luật đồng thời quy định về kiểm tra chuyên ngành. Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành trên phạm vi cả nước; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện kiểm tra trong phạm vi quản lý của cấp mình. Nội dung kiểm tra bao gồm việc thực hiện chính sách, pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp; việc chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân và những vụ việc có dấu hiệu vi phạm.
Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với quyết định, hành vi liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định. Đây là cơ chế quan trọng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và kiểm soát việc thực thi công vụ của cơ quan, người có thẩm quyền.
Quy định chuyển tiếp bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Để tránh gián đoạn việc giải quyết thủ tục hành chính và hoạt động của các tổ chức tôn giáo, Luật quy định cụ thể các trường hợp chuyển tiếp.
Hồ sơ thủ tục hành chính đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày Luật có hiệu lực tiếp tục được giải quyết theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung và các văn bản pháp luật có liên quan.
Đối với tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo trước ngày 01/01/2027, thời gian để xem xét công nhận tổ chức tôn giáo được tính từ thời điểm tổ chức đó được cấp chứng nhận.
Trong thời hạn chậm nhất 30 ngày kể từ ngày Luật có hiệu lực, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo nhưng chưa thông báo danh mục hoạt động tôn giáo phải thực hiện thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo Điều 39 của Luật.
Cũng trong thời hạn này, người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng chưa thực hiện đăng ký hoạt động tín ngưỡng theo quy định trước đây phải thông báo hoạt động tín ngưỡng diễn ra hằng năm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Các tổ chức, cá nhân thuộc diện chuyển tiếp cần chủ động rà soát hồ sơ, danh mục hoạt động và nghĩa vụ thông báo để bảo đảm thực hiện đúng thời hạn.
Đưa Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 vào cuộc sống
Để Luật được triển khai thống nhất, đồng bộ và hiệu quả, trước thời điểm Luật có hiệu lực, các cơ quan, đơn vị và địa phương cần tập trung tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung của Luật đến cán bộ, công chức, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện cơ sở tín ngưỡng, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, tín đồ và Nhân dân.
Cơ quan có thẩm quyền cần rà soát các quy định, thủ tục hành chính đang áp dụng; chuẩn bị điều kiện tiếp nhận, giải quyết hồ sơ; xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu; tổ chức tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là cán bộ ở cơ sở.
Việc phổ biến Luật cần tập trung vào những nội dung liên quan trực tiếp đến người dân và tổ chức, như quyền và nghĩa vụ trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động trên không gian mạng; thông báo hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo hằng năm; tổ chức lễ hội; quản lý tiền, tài sản; hoạt động có yếu tố nước ngoài và các hành vi bị nghiêm cấm.
Các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành và người đại diện cơ sở tín ngưỡng cần phát huy vai trò hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chấp hành pháp luật; chủ động phối hợp với chính quyền; thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý tài sản và các khoản thu; tích cực tham gia hoạt động an sinh xã hội, từ thiện, nhân đạo, bảo vệ môi trường và xây dựng đời sống văn hóa.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 tiếp tục khẳng định chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam về tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Việc tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ Luật sẽ góp phần bảo đảm quyền con người, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy giá trị văn hóa, đạo đức và nguồn lực của các tôn giáo, qua đó củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.