110 tình huống tuyên truyền pháp luật

Thứ năm - 06/08/2026 06:17 11 0
Tình huống 1: Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới
Tháng 3/2023, Công ty X ban hành thông báo tuyển dụng với nội dung chỉ tuyển lao động nam cho một vị trí mà pháp luật không quy định giới tính là điều kiện bắt buộc. Sau khi tuyển dụng xong, thông báo được gỡ bỏ. Đến tháng 5/2026, qua phản ánh của người lao động, cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh và phát hiện hành vi vi phạm. Tuy nhiên, thời điểm phát hiện hành vi đã cách thời điểm Công ty X kết thúc việc đăng thông báo tuyển dụng và hoàn thành việc tuyển dụng hơn 02 năm.
Trong một trường hợp khác, Công ty Y vẫn đang duy trì quy định nội bộ yêu cầu chỉ bố trí nam giới đảm nhiệm một số vị trí công việc mặc dù không có căn cứ theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, quy định này vẫn đang được áp dụng.
Hỏi: Trong hai trường hợp trên, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được xác định như thế nào?
Trả lời: Điều 3 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định:
“1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới là một năm.
2. Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới đã kết thúc là hành vi được thực hiện một lần hoặc nhiều lần và có căn cứ xác định hành vi đã thực hiện xong trước thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện vi phạm hành chính. Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là ngày đã thực hiện xong hành vi vi phạm đó.
3. Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới đang được thực hiện là hành vi đang diễn ra tại thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện vi phạm hành chính và hành vi đó vẫn đang xâm hại trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực bình đẳng giới.”
Đối với Công ty X, đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện thì đã quá 01 năm kể từ ngày hành vi vi phạm kết thúc, hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Đối với Công ty Y, quy định phân biệt giới tính vẫn đang được áp dụng tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền kiểm tra. Đây là hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện, vì hành vi vẫn đang diễn ra và tiếp tục xâm hại trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực bình đẳng giới. Do đó, hành vi này vẫn thuộc trường hợp bị xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Qua tình huống trên cho thấy, để xác định còn hay hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới, trước hết cần xác định hành vi vi phạm là hành vi đã kết thúc hay hành vi đang được thực hiện. Đối với hành vi đã kết thúc, thời hiệu được tính từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện xong. Đối với hành vi đang được thực hiện, việc xử lý được xem xét khi hành vi vẫn đang diễn ra tại thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện vi phạm.
Tình huống 2: Ai có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính về bình đẳng giới?
Trong quá trình kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bình đẳng giới tại một doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, đoàn kiểm tra phát hiện doanh nghiệp có hành vi từ chối tuyển dụng lao động nữ mặc dù ứng viên đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn tuyển dụng. Hành vi này có dấu hiệu vi phạm quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động.
Tại thời điểm kiểm tra, một công chức của Sở Nội vụ được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp. Đại diện doanh nghiệp không đồng ý ký biên bản và cho rằng chỉ Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc Thanh tra mới có quyền lập biên bản vi phạm hành chính, còn công chức đang làm nhiệm vụ kiểm tra thì không có thẩm quyền.
Hỏi: Công chức đang thi hành công vụ có được lập biên bản vi phạm hành chính về bình đẳng giới hay không?
Trả lời: Theo Điều 14 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP)  quy định:
"1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các Điều 15, 16, 17, 18 và 19 Nghị định này có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính phù hợp với thẩm quyền xử phạt được phân định tại Điều 20 Nghị định này.
2. Công chức, viên chức, người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đang thi hành công vụ, nhiệm vụ có thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao."
Trong tình huống trên, công chức của Sở Nội vụ đang thực hiện nhiệm vụ kiểm tra theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao và phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Vì vậy, nếu việc lập biên bản thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao thì công chức này có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP. Việc lập biên bản vi phạm hành chính không đồng nghĩa với việc người lập biên bản là người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt. Biên bản là căn cứ để cơ quan hoặc người có thẩm quyền xem xét, xác minh và ban hành quyết định xử phạt theo quy định của pháp luật. Do đó, việc đại diện doanh nghiệp cho rằng chỉ Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc Thanh tra mới được lập biên bản là chưa đúng với quy định pháp luật.
Tình huống 3: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt đến mức nào?
Trong quá trình kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trên địa bàn, Ủy ban nhân dân phường A phát hiện ông Nguyễn Văn Dũng có hành vi đối xử bất bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính. Sau khi lập biên bản, cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi này thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính với mức tiền phạt 8.000.000 đồng.
Ông Dũng cho rằng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có quyền nhắc nhở hoặc phạt cảnh cáo, còn việc phạt tiền phải do cấp huyện hoặc cấp tỉnh thực hiện.
Hỏi: Trong trường hợp này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt hay không?
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi là cấp xã) có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 15.000.000 đồng;
c) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động có thời hạn;
d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định này."
Trong tình huống trên, mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm là 8.000.000 đồng, nằm trong giới hạn thẩm quyền phạt tiền đến 15.000.000 đồng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt đối với ông Nguyễn Văn Dũng; đồng thời, tùy từng trường hợp cụ thể còn có thể áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung hoặc biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.
Qua tình huống trên cho thấy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không chỉ có quyền phạt cảnh cáo mà còn được phạt tiền đến 15.000.000 đồng, tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Tình huống 4: Khi nào thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh?
Công ty Cổ phần Truyền thông Ánh Dương phát hành hàng nghìn cuốn tài liệu tuyên truyền có nội dung cổ vũ định kiến giới và phân biệt đối xử về giới. Sau khi kiểm tra, cơ quan chức năng xác định doanh nghiệp có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới với mức phạt tiền là 25.000.000 đồng. Ngoài ra, doanh nghiệp còn bị xem xét áp dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động có thời hạn và buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Đại diện doanh nghiệp đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi doanh nghiệp đặt trụ sở ra quyết định xử phạt để việc giải quyết được nhanh hơn.
Hỏi: Trong trường hợp này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt hay không?
Trả lời: Theo khoản 2 Điều 15 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi là cấp tỉnh) có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng;
c) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động có thời hạn;
d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định này."
Trong tình huống trên, hành vi vi phạm bị đề xuất mức phạt 25.000.000 đồng, vượt quá thẩm quyền phạt tiền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã (đến 15.000.000 đồng). Vì vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền quyết định phạt tiền đến 30.000.000 đồng, đồng thời áp dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định nếu đủ điều kiện áp dụng.
Tình huống 5: Chiến sĩ Công an nhân dân có được xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới không?
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự tại một lễ hội văn hóa, chiến sĩ Công an nhân dân phát hiện ông Nguyễn Văn Hòa có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm một nữ vận động viên chỉ vì cho rằng "phụ nữ không nên tham gia các môn thể thao đối kháng". Hành vi này gây bức xúc cho những người có mặt tại sự kiện và có dấu hiệu vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Sau khi xác minh ban đầu, chiến sĩ Công an nhân dân lập hồ sơ và dự kiến xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Hòa với mức phạt 3.000.000 đồng, đồng thời tịch thu các băng rôn có nội dung xúc phạm được sử dụng tại hiện trường.
Ông Hòa cho rằng chiến sĩ Công an chỉ có quyền nhắc nhở, không được trực tiếp xử phạt vi phạm hành chính.
Hỏi: Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới hay không?
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 17 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"1. Chiến sỹ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 3.000.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 6.000.000 đồng."
Trong tình huống trên, chiến sĩ Công an nhân dân đang trực tiếp thi hành công vụ và hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực bình đẳng giới. Mức phạt dự kiến là 3.000.000 đồng và tang vật bị tịch thu có giá trị trong phạm vi pháp luật cho phép. Do đó, chiến sĩ Công an nhân dân có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 3.000.000 đồng; đồng thời được tịch thu tang vật vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 6.000.000 đồng theo quy định.
Tình huống 6: Xúc phạm nữ ứng cử viên vì định kiến giới có bị xử phạt không?
Đến kỳ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, bà A được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. Trong quá trình tiếp xúc cử tri, bà A nhận được nhiều ý kiến đánh giá tích cực về năng lực và kinh nghiệm công tác.
Tuy nhiên, trên mạng xã hội, ông B liên tục đăng tải các bài viết, bình luận với nội dung: "Phụ nữ thì nên lo việc gia đình, không phù hợp làm lãnh đạo"; "Bầu phụ nữ vào Hội đồng nhân dân cũng không giải quyết được việc gì"... Đồng thời, ông B còn sử dụng những lời lẽ miệt thị, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà A chỉ vì bà là phụ nữ tham gia ứng cử.
Sau khi nhận được phản ánh, cơ quan có thẩm quyền xác minh, xác định các bài viết và bình luận của ông B có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người được giới thiệu ứng cử xuất phát từ định kiến giới.
Hỏi: Hành vi của ông B có vi phạm pháp luật không? Bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Mọi công dân đều có quyền bày tỏ chính kiến, nhận xét, góp ý đối với người ứng cử trên tinh thần khách quan, xây dựng và đúng pháp luật. Tuy nhiên, việc sử dụng lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc hạ thấp uy tín của người tự ứng cử, người được giới thiệu ứng cử chỉ vì giới tính là hành vi thể hiện định kiến giới, xâm phạm quyền bình đẳng giữa nam và nữ và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 76/2026/NĐ-CP) quy định:
“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới;”
Trong tình huống trên, ông B không góp ý hoặc đánh giá về năng lực, phẩm chất, chương trình hành động của bà A mà lại sử dụng mạng xã hội để đăng tải các nội dung mang tính miệt thị, xúc phạm danh dự, nhân phẩm chỉ vì bà A là phụ nữ tham gia ứng cử. Những phát ngôn như "Phụ nữ thì nên lo việc gia đình, không phù hợp làm lãnh đạo" hay "Bầu phụ nữ vào Hội đồng nhân dân cũng không giải quyết được việc gì" thể hiện rõ định kiến giới, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của người được giới thiệu ứng cử và tác động tiêu cực đến quyền tham gia chính trị của phụ nữ. Theo quy định trên, ông B có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng. Ngoài ra, ông B còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm, trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu.
Tình huống 7: Xúc phạm danh dự, nhân phẩm để cản trở việc bổ nhiệm vì định kiến giới có bị xử phạt không?
Bà A là Trưởng phòng của một cơ quan nhà nước, nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được tập thể tín nhiệm, dự kiến được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Giám đốc.
Khi biết thông tin này, ông B, một đồng nghiệp trong cơ quan, đã nhiều lần phát ngôn trước tập thể và đăng tải trên mạng xã hội những nội dung như: "Phụ nữ thì không phù hợp làm lãnh đạo, làm quản lý sẽ bị cảm tính"; "Nên để nam giới giữ vị trí này sẽ hiệu quả hơn." Đồng thời, ông B còn sử dụng những lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà A nhằm tạo dư luận xấu, gây ảnh hưởng đến việc xem xét bổ nhiệm.
Sau khi xác minh, cơ quan có thẩm quyền kết luận việc ông B xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà A xuất phát từ định kiến giới, với mục đích cản trở việc bà A được bổ nhiệm vào vị trí quản lý, lãnh đạo.
Hỏi: Hành vi của ông B có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 76/2026/NĐ-CP) quy định:
“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở việc bổ nhiệm người vào vị trí quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới;”
Trong tình huống trên, bà A đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được xem xét bổ nhiệm vào chức vụ Phó Giám đốc theo quy định. Tuy nhiên, thay vì góp ý trên cơ sở năng lực, phẩm chất, kết quả công tác hoặc tiêu chuẩn của chức danh dự kiến bổ nhiệm, ông B lại nhiều lần đưa ra những phát ngôn mang tính định kiến giới như: “Phụ nữ thì không phù hợp làm lãnh đạo”, “Nên để nam giới giữ vị trí này sẽ hiệu quả hơn”, đồng thời sử dụng những lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà A nhằm tạo dư luận bất lợi, gây ảnh hưởng đến quá trình xem xét bổ nhiệm.
Những phát ngôn này không phản ánh khách quan năng lực của bà A mà xuất phát từ quan điểm phân biệt đối xử về giới, nhằm cản trở phụ nữ được bổ nhiệm vào vị trí quản lý, lãnh đạo. Theo quy định trên, ông B có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng. Đồng thời, ông B còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc xin lỗi công khai bà A, trừ trường hợp bà A có đơn không yêu cầu.
Tình huống 8: Cố ý tung tin sai sự thật để cản trở người ứng cử vì định kiến giới có bị xử phạt không?
Trong kỳ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, bà Trịnh Thị Mai là một đảng viên trẻ được giới thiệu ứng cử, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định. Lo ngại bà Mai sẽ được tín nhiệm cao, ông Bình đã đăng tải nhiều bài viết và chia sẻ trên mạng xã hội, nhắn tin cho nhiều người những thông tin không đúng sự thật, cho rằng bà Mai "không đủ năng lực lãnh đạo", "đã từng bị kỷ luật" và "không đủ uy tín để đại diện cho cử tri", “con trẻ, lại còn là phụ nữ không nên tham gia chính trị”. Mặc dù biết những thông tin này không có căn cứ, ông Bình vẫn cố tình lan truyền nhằm làm giảm uy tín của bà Mai.
Khi được làm việc với cơ quan có thẩm quyền, ông Bình thừa nhận việc đăng tải các thông tin trên xuất phát từ quan điểm cho rằng “phụ nữ không phù hợp tham gia hoạt động chính trị và giữ các vị trí lãnh đạo”, nên muốn cản trở việc bà Mai được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân.
Sau khi xác minh, cơ quan có thẩm quyền kết luận các thông tin ông Bình đưa ra đều là sai sự thật và việc phát tán các thông tin này nhằm cản trở người được giới thiệu ứng cử vì định kiến giới.
Hỏi: Hành vi của ông Bình có vi phạm pháp luật không và có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Điểm c khoản 1 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 76/2026/NĐ-CP) quy định:
“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
c) Cố ý tuyên truyền sai sự thật để cản trở người tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới.”
Trong tình huống trên, ông Bình đã cố ý đưa và lan truyền các thông tin sai sự thật về bà Mai mặc dù biết rõ những thông tin này không có căn cứ. Mục đích của việc tuyên truyền sai sự thật không phải để phản ánh khách quan về năng lực, phẩm chất của người ứng cử mà nhằm làm giảm uy tín, cản trở quá trình ứng cử của bà Mai chỉ vì bà là phụ nữ. Như vậy, hành vi của ông B đã thỏa mãn các dấu hiệu vi phạm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP. Do đó, ông Bình có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng theo quy định của pháp luật và buộc cải chính công khai thông tin sai sự thật.
Tình huống 9: Vận động cử tri chỉ bầu cho nam giới vì định kiến giới có bị xử phạt không?
Trong thời gian diễn ra cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, ông An thường xuyên gặp gỡ cử tri tại địa phương và phát biểu: "Chỉ nên bầu nam giới vì đàn ông quyết đoán hơn, còn phụ nữ thì khó đảm đương công việc của đại biểu."
Không dừng lại ở đó, ông An còn nhắn tin trong các nhóm mạng xã hội, kêu gọi mọi người chỉ bỏ phiếu cho các ứng cử viên nam, không bầu cho các ứng cử viên nữ mặc dù các ứng cử viên này đều đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật.
Sau khi tiếp nhận phản ánh của cử tri, cơ quan có thẩm quyền xác minh và kết luận việc ông An vận động người khác chỉ bỏ phiếu cho người thuộc một giới tính nhất định xuất phát từ định kiến giới.
Hỏi: Hành vi của ông An có thể bị xử lý như thế nào? Khi phát hiện có hành vi vận động cử tri bỏ phiếu vì định kiến giới, công dân cần làm gì để góp phần bảo đảm cuộc bầu cử công bằng, đúng pháp luật?
Trả lời: Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định:
“2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Xúi giục, lôi kéo người khác chỉ bỏ phiếu cho người thuộc một giới tính nhất định khi bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới;”
Trong tình huống trên, ông An không vận động cử tri lựa chọn ứng cử viên dựa trên năng lực, phẩm chất hay chương trình hành động mà kêu gọi chỉ bỏ phiếu cho nam giới, xuất phát từ quan niệm cho rằng phụ nữ không phù hợp tham gia hoạt động chính trị. Hành vi này là xúi giục, lôi kéo người khác chỉ bỏ phiếu cho người thuộc một giới tính nhất định vì định kiến giới, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP. Do đó, ông An có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Đối với các cử tri hoặc ứng cử viên bị ảnh hưởng bởi hành vi này, cần gửi phản ánh, kiến nghị đến Ủy ban bầu cử, cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan chức năng để được xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật. Việc kịp thời phản ánh các hành vi vi phạm sẽ góp phần bảo đảm tính dân chủ, công bằng, khách quan và đúng pháp luật trong hoạt động bầu cử.
Tình huống 10: Xúi giục chỉ bỏ phiếu cho nam giới khi lấy ý kiến bổ nhiệm lãnh đạo có bị xử phạt không?
Cơ quan X tổ chức hội nghị lấy ý kiến để phục vụ việc bổ nhiệm Trưởng phòng. Có hai ứng viên đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện, gồm ông Nguyễn Văn Bắc và bà Phạm Thị Phương.
Trước thời điểm bỏ phiếu lấy ý kiến, do chơi rất thân với ông Bắc nên ông Dũng, một cán bộ trong cơ quan, đã nhiều lần trao đổi với đồng nghiệp và nói rằng: "Chức vụ lãnh đạo nên để nam giới đảm nhiệm sẽ thuận lợi hơn. Mọi người chỉ nên bỏ phiếu cho anh Bắc, đừng bỏ phiếu cho chị Phương."
Ông Dũng còn chủ động gặp từng đồng nghiệp để vận động họ chỉ bỏ phiếu cho ứng viên nam, với lý do phụ nữ khó cân bằng giữa công việc và gia đình nên không phù hợp giữ chức vụ quản lý, việc ông Dũng vận động mọi người chỉ bỏ phiếu cho ứng viên nam hoàn toàn xuất phát từ định kiến giới, không dựa trên năng lực hay tiêu chuẩn của các ứng viên.
Hỏi: Hành vi của ông Dũng có vi phạm pháp luật không và có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Mọi hành vi vận động, lôi kéo người khác chỉ bỏ phiếu cho ứng viên thuộc một giới tính nhất định vì định kiến giới đều làm ảnh hưởng đến nguyên tắc bình đẳng giới và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Theo điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định:
“2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Xúi giục, lôi kéo người khác chỉ bỏ phiếu cho người thuộc một giới tính nhất định khi thực hiện các thủ tục lấy ý kiến về ứng cử viên để bổ nhiệm vào vị trí quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới.”
Trong tình huống trên, ông Dũng không đưa ra ý kiến đánh giá khách quan về năng lực, kinh nghiệm hoặc tiêu chuẩn của các ứng viên mà vận động đồng nghiệp chỉ bỏ phiếu cho ứng viên nam với quan điểm phụ nữ không phù hợp làm lãnh đạo. Đây là hành vi xúi giục, lôi kéo người khác chỉ bỏ phiếu cho người thuộc một giới tính nhất định khi thực hiện thủ tục lấy ý kiến để bổ nhiệm, xuất phát từ định kiến giới.
Do đó, hành vi của ông Dũng thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP và có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Tình huống 11: Đe dọa, uy hiếp tinh thần để cản trở phụ nữ ứng cử
Chị Lan là cán bộ có nhiều năm công tác, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện và được cơ quan giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Sau khi biết thông tin này, ông B, một người cùng cơ quan, nhiều lần gặp trực tiếp chị A và nói: "Phụ nữ thì không nên tham gia chính trị. Nếu chị vẫn tiếp tục ứng cử thì đừng trách tôi." Không dừng lại ở đó, ông B còn nhiều lần nhắn tin với nội dung: "Nếu chị không rút hồ sơ ứng cử thì tôi sẽ khiến chị gặp rắc rối trong công việc, không yên ổn khi làm việc tại cơ quan."
Do liên tục bị đe dọa và gây áp lực về tinh thần, chị A luôn trong trạng thái lo lắng, căng thẳng và từng có ý định xin rút khỏi danh sách ứng cử. Sau khi sự việc được phản ánh, cơ quan có thẩm quyền xác minh và xác định việc đe dọa của ông B xuất phát từ quan điểm cho rằng phụ nữ không phù hợp tham gia hoạt động chính trị, nhằm buộc chị A từ bỏ việc ứng cử.
Hỏi: Trong trường hợp này, hành vi của ông B thuộc trường hợp vi phạm nào và có thể bị xử phạt ra sao?
Trả lời: Theo điểm c khoản 3 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ:
“3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
c) Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới;”
Trong tình huống trên, ông B không chỉ bày tỏ quan điểm cá nhân mà còn liên tục đe dọa, uy hiếp tinh thần đối với chị A nhằm buộc chị từ bỏ việc ứng cử. Những lời nói, tin nhắn mang tính đe dọa đã gây áp lực tâm lý, ảnh hưởng đến quyền tham gia hoạt động chính trị của chị A. Đáng chú ý, mục đích của hành vi này xuất phát từ định kiến giới, thể hiện qua quan điểm cho rằng phụ nữ không nên tham gia hoạt động chính trị hoặc giữ các vị trí lãnh đạo. Vì vậy, đây không chỉ là hành vi gây áp lực đối với một cá nhân mà còn là hành vi cản trở việc thực hiện quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Do đó, ông B có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng và buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm.
Tình huống 12: Tẩy xóa hồ sơ để cản trở phụ nữ được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo
Bà Nguyễn Thị Thảo là cán bộ của một tổ chức chính trị - xã hội, nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được tập thể thống nhất giới thiệu tham gia Ban Chấp hành nhiệm kỳ mới.
Trong quá trình hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền xem xét, ông Phạm Văn Tùng - người được giao tổng hợp hồ sơ - cho rằng vị trí lãnh đạo nên ưu tiên nam giới vì "phụ nữ khó đáp ứng yêu cầu công tác". Với mục đích làm bà Thảo không đủ điều kiện được giới thiệu, ông Tùng đã tự ý tẩy xóa, sửa chữa nội dung trong bản nhận xét, đánh giá cán bộ và bảng tổng hợp thành tích, làm sai lệch kết quả đánh giá của bà Thảo so với hồ sơ gốc.
Do hồ sơ bị sửa chữa, việc xem xét giới thiệu bà Thảo vào Ban Chấp hành có nguy cơ bị ảnh hưởng. Trong quá trình thẩm tra, cấp có thẩm quyền phát hiện sự không thống nhất giữa hồ sơ lưu và hồ sơ trình. Qua xác minh, cơ quan có thẩm quyền kết luận ông Tùng đã cố ý tẩy xóa, sửa chữa hồ sơ nhằm cản trở việc bà Thảo được giới thiệu tham gia cơ quan lãnh đạo chỉ vì định kiến giới.
Hỏi: Pháp luật quy định như thế nào đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản nhằm cản trở người khác được bổ nhiệm vì định kiến giới?
Trả lời: Theo điểm c khoản 4 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ:
"4. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
c) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản hoặc ép buộc người khác tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản nhằm cản trở người tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới;"
Trong tình huống trên, ông Tùng đã lợi dụng nhiệm vụ được giao để tự ý tẩy xóa, sửa chữa nội dung hồ sơ, làm sai lệch thông tin về quá trình công tác và thành tích của bà Thảo. Mục đích của hành vi này là làm ảnh hưởng đến việc xem xét bổ nhiệm bà Thảo, xuất phát từ định kiến cho rằng phụ nữ không phù hợp giữ vị trí lãnh đạo. Hành vi của ông Tùng không chỉ làm mất tính trung thực, khách quan của hồ sơ cán bộ mà còn xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ trong cơ hội được xem xét bổ nhiệm vào vị trí quản lý, lãnh đạo.
Do đó, ông Tùng đã vi phạm quy định tại điểm c khoản 4 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP và có thể bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm.
Tình huống 13: Không bổ nhiệm người đủ điều kiện chỉ vì là phụ nữ có bị xử phạt không?
Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh A tổ chức quy trình xem xét bổ nhiệm Trưởng phòng Quản lý văn hóa. Qua quá trình đánh giá, bà Nguyễn Thị Hiền đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định; có trình độ chuyên môn cao, nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được tập thể lãnh đạo, cán bộ trong đơn vị tín nhiệm.
Tuy nhiên, trong cuộc họp xem xét bổ nhiệm, ông Trần Văn Hải - Giám đốc Sở - cho rằng: "Vị trí lãnh đạo này thường xuyên phải đi cơ sở, xử lý nhiều công việc phức tạp, phụ nữ sẽ khó đáp ứng. Nên ưu tiên nam giới sẽ phù hợp hơn."
Mặc dù không có bất kỳ căn cứ nào cho thấy bà Hiền không đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện hoặc năng lực công tác, ông Hải vẫn quyết định không bổ nhiệm bà Hiền mà lựa chọn một nam cán bộ có kinh nghiệm và thành tích thấp hơn.
Cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị ảnh hưởng, bà Hiền đã gửi đơn phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền. Qua kiểm tra, xác minh, cơ quan chức năng kết luận việc không bổ nhiệm bà Hiền không xuất phát từ tiêu chuẩn, điều kiện hay năng lực công tác mà chỉ vì định kiến giới, cho rằng phụ nữ không phù hợp giữ vị trí quản lý, lãnh đạo.
Hỏi: Hành vi của ông Hải có vi phạm quy định về bình đẳng giới hay không? Ông Hải có thể bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời: Theo điểm đ khoản 4 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ:
"4. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
đ) Không thực hiện việc bổ nhiệm người vào vị trí quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới."
Đồng thời, khoản 5 Điều 6 quy định biện pháp khắc phục hậu quả: "Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm."
Trong tình huống trên, bà Hiền đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện để được xem xét bổ nhiệm và được tập thể đánh giá, tín nhiệm. Tuy nhiên, ông Hải không căn cứ vào năng lực, phẩm chất, kết quả công tác hay các tiêu chuẩn bổ nhiệm theo quy định mà đưa ra quyết định dựa trên quan điểm cho rằng phụ nữ không phù hợp giữ chức vụ lãnh đạo. Đây là biểu hiện rõ của định kiến giới, làm ảnh hưởng đến quyền được đối xử bình đẳng của bà Hiền trong quá trình xem xét bổ nhiệm. Do đó, hành vi của ông Hải vi phạm quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP và có thể bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Ngoài ra ông Hải còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm.
Tình huống 14: Ban hành quy chế chỉ bổ nhiệm nam giới làm lãnh đạo có bị xử phạt không?
Để chuẩn bị kiện toàn đội ngũ lãnh đạo các phòng chuyên môn, ông Trần Văn Hải - Giám đốc Sở X - chỉ đạo xây dựng và ban hành Quy chế về công tác cán bộ của cơ quan.
Trong quy chế có nội dung: "Đối với chức danh Trưởng phòng và tương đương, ưu tiên xem xét, bổ nhiệm nam giới; trường hợp nữ giới chỉ được xem xét khi không có ứng viên nam đáp ứng yêu cầu."
Sau khi quy chế được ban hành, bà Nguyễn Thị Hiền - công chức có trình độ chuyên môn cao, nhiều năm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định để được bổ nhiệm Trưởng phòng - không được đưa vào danh sách xem xét chỉ vì là nữ. Trong khi đó, một nam công chức có năng lực và thành tích thấp hơn vẫn được đưa vào quy trình bổ nhiệm. Cho rằng quyền bình đẳng trong công tác cán bộ bị xâm phạm, bà Hiền đã gửi đơn phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền.
Qua kiểm tra, cơ quan chức năng kết luận quy chế của Sở X đã đặt ra tiêu chí ưu tiên nam giới trong công tác bổ nhiệm và quy chế này đã được áp dụng trên thực tế, dẫn đến việc loại bà Hiền khỏi quy trình bổ nhiệm mặc dù bà đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định.
Hỏi: Việc ban hành và thực hiện quy chế ưu tiên nam giới trong bổ nhiệm lãnh đạo có vi phạm pháp luật về bình đẳng giới không? Người ban hành quy chế có thể bị xử lý như thế nào? Quy chế trái pháp luật này có phải tiếp tục được áp dụng không?
Trả lời: Pháp luật cho phép cơ quan, tổ chức ban hành quy chế nội bộ để phục vụ công tác quản lý. Tuy nhiên, mọi quy chế phải phù hợp với quy định của pháp luật và không được đặt ra những điều kiện, tiêu chí làm phát sinh sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ.
Khoản 5 và điểm đ khoản 7 Điều 6 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định:
"5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi đặt ra và thực hiện các quy định, quy chế có sự phân biệt đối xử về giới."
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
đ) Buộc sửa đổi hoặc bãi bỏ quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức, cá nhân có sự phân biệt đối xử về giới đối với hành vi quy định tại khoản 5 Điều này."Buộc sửa đổi hoặc bãi bỏ quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức, cá nhân có sự phân biệt đối xử về giới."
Trong tình huống trên, quy chế của Sở X đã đặt ra tiêu chí ưu tiên nam giới khi xem xét bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, đồng thời chỉ xem xét nữ giới khi không có ứng viên nam đáp ứng yêu cầu. Đây là quy định tạo ra sự khác biệt về cơ hội giữa nam và nữ ngay từ đầu, không căn cứ vào năng lực, phẩm chất, tiêu chuẩn hay kết quả công tác của từng cá nhân mà chỉ dựa trên giới tính. Đáng chú ý, quy chế này không chỉ được ban hành mà còn được thực hiện trên thực tế, dẫn đến việc bà Nguyễn Thị Hiền không được đưa vào quy trình xem xét bổ nhiệm mặc dù đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định. Hành vi này đã trực tiếp làm ảnh hưởng đến quyền bình đẳng về cơ hội phát triển nghề nghiệp của bà Hiền và làm sai lệch nguyên tắc công bằng trong công tác cán bộ. Do đó, hành vi của người có thẩm quyền ban hành và thực hiện quy chế nêu trên thuộc trường hợp "đặt ra và thực hiện các quy định, quy chế có sự phân biệt đối xử về giới", có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Ngoài hình thức xử phạt tiền, cơ quan có thẩm quyền còn buộc sửa đổi hoặc bãi bỏ quy chế có nội dung phân biệt đối xử về giới, đồng thời xem xét khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của những cá nhân bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng quy chế trái pháp luật.
Tình huống 15: Xúc phạm nữ doanh nhân vì định kiến giới có bị xử phạt không?
Chị Nguyễn Thị Minh Châu hoàn tất thủ tục thành lập doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Trong buổi gặp gỡ các đối tác để giới thiệu doanh nghiệp, ông Trần Văn Phúc, một chủ doanh nghiệp khác, đã nhiều lần phát biểu trước đông người rằng: "Phụ nữ thì chỉ nên làm những việc nhẹ nhàng, mở công ty xây dựng thì sớm muộn cũng thất bại." Không dừng lại ở đó, ông Phúc còn dùng nhiều lời lẽ miệt thị, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị Minh Châu chỉ vì chị là phụ nữ đứng tên thành lập doanh nghiệp.
Sau khi nhận được phản ánh, cơ quan có thẩm quyền xác minh và kết luận những phát ngôn của ông Phúc xuất phát từ định kiến giới, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín và hoạt động kinh doanh của chị Minh Châu.
Hỏi: Pháp luật quy định như thế nào đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thành lập doanh nghiệp vì định kiến giới?
Trả lời: Theo điểm a khoản 1 và điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP):
"1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu);"
Ông Trần Văn Phúc đã sử dụng lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị Nguyễn Thị Minh Châu chỉ vì chị là phụ nữ thành lập doanh nghiệp. Hành vi này xuất phát từ định kiến giới, không phải từ việc đánh giá năng lực hay hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, ông Phúc có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng và buộc xin lỗi công khai chị Minh Châu theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp chị Minh Châu có đơn không yêu cầu).
Tình huống 16: Đe dọa nữ chủ doanh nghiệp để buộc ngừng kinh doanh có bị xử phạt không?
Sau khi mở cơ sở chế biến nông sản, chị Lê Thị Thu Hà nhanh chóng ký kết được nhiều hợp đồng tiêu thụ với các đối tác lớn. Cho rằng phụ nữ không nên làm chủ doanh nghiệp, ông Phạm Quốc Cường nhiều lần gọi điện và nhắn tin với nội dung: "Nếu còn tiếp tục kinh doanh ở đây thì liệu mà cẩn thận." Ông Cường còn nhiều lần đến cơ sở sản xuất gây áp lực, đe dọa sẽ cho người phá hoại tài sản nếu chị Thu Hà không dừng hoạt động kinh doanh.
Lo sợ cho sự an toàn của bản thân và người lao động, chị Thu Hà phải tạm ngừng hoạt động sản xuất để trình báo cơ quan chức năng.
Hỏi: Hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người khác hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm b khoản 1 và các điểm a, c khoản 4 Điều 7 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP):
"1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu);
c) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 1... trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho người bị xâm phạm."
Ông Phạm Quốc Cường đã dùng lời nói và hành vi uy hiếp tinh thần nhằm buộc chị Lê Thị Thu Hà từ bỏ hoạt động kinh doanh chỉ vì định kiến cho rằng phụ nữ không nên làm chủ doanh nghiệp. Hành vi này có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng, buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm; trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tinh thần thì còn phải chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý theo quy định. Qua tình huống trên cho thấy, mọi hành vi đe dọa, uy hiếp nhằm cản trở quyền tự do kinh doanh của người khác chỉ vì giới tính đều là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm.
Tình huống 17: Cố tình trì hoãn cung cấp hồ sơ để gây khó khăn cho nữ doanh nhân có bị xử phạt không?
Chị Đỗ Ngọc Bích đến Trung tâm Phục vụ hành chính công để thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp. Hồ sơ của chị đã đầy đủ theo quy định. Biết chị Bích là phụ nữ khởi nghiệp trong lĩnh vực cơ khí, ông Vũ Minh Hoàng đã nhiều lần nói với các đồng nghiệp: "Đừng vội hướng dẫn hay phát mẫu hồ sơ cho cô ấy, phụ nữ làm ngành này cũng không trụ được lâu." Sau đó, ông Hoàng còn xúi giục đồng nghiệp trì hoãn việc cung cấp biểu mẫu và tài liệu hướng dẫn, khiến chị Bích phải đi lại nhiều lần mới hoàn thiện được thủ tục.
Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định việc trì hoãn cung cấp tài liệu không xuất phát từ yêu cầu nghiệp vụ mà do ông Hoàng cố tình xúi giục đồng nghiệp gây khó khăn cho chị Bích vì định kiến giới.
Hỏi: Hành vi xúi giục người khác trì hoãn cung cấp thông tin, tài liệu cho người thành lập doanh nghiệp vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm c khoản 1 và điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP):
"1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
c) Xúi giục người khác trì hoãn cung cấp hoặc trì hoãn, không cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định các thông tin, tài liệu, mẫu hồ sơ theo quy định đối với người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 1...”
Ông Vũ Minh Hoàng đã xúi giục đồng nghiệp cố tình trì hoãn việc cung cấp thông tin, tài liệu và mẫu hồ sơ cho chị Đỗ Ngọc Bích chỉ vì cho rằng phụ nữ không phù hợp kinh doanh trong lĩnh vực cơ khí. Hành vi này đã làm ảnh hưởng đến quyền thành lập doanh nghiệp và quyền tiếp cận thủ tục hành chính của chị Bích. Do đó, ông Hoàng có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng. Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền sẽ buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của chị Đỗ Ngọc Bích, bảo đảm việc cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn các thông tin, tài liệu, mẫu hồ sơ theo quy định để chị thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp.
Qua tình huống trên cho thấy, mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp và tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc cố ý gây khó khăn về thủ tục hành chính hoặc xúi giục người khác cản trở quyền này chỉ vì định kiến giới là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tình huống 18: Dùng vũ lực cản trở phụ nữ thành lập doanh nghiệp có bị xử phạt không?
Chị Nguyễn Thị Lan Anh đầu tư mở cơ sở sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ và đang hoàn tất các thủ tục để đưa doanh nghiệp vào hoạt động. Mặc dù chị Lan Anh đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, nhưng một số người cho rằng nghề sản xuất đồ gỗ chỉ phù hợp với nam giới.
Ông Lê Văn Hùng, chủ một cơ sở sản xuất cùng lĩnh vực trên địa bàn, nhiều lần đến gặp chị Lan Anh và nói: "Phụ nữ thì nên làm công việc nhẹ nhàng, đừng mở xưởng gỗ để cạnh tranh với đàn ông." Ông Hùng liên tục yêu cầu chị Lan Anh từ bỏ ý định kinh doanh.
Khi chị Lan Anh vẫn quyết định khai trương doanh nghiệp theo kế hoạch, ông Hùng đã đến cơ sở sản xuất gây gổ, xô đẩy và hành hung chị ngay trước mặt nhiều người nhằm buộc chị từ bỏ việc thành lập doanh nghiệp. Hậu quả, chị Lan Anh bị thương, phải điều trị tại cơ sở y tế nhiều ngày và việc khai trương doanh nghiệp phải tạm hoãn.
Sau khi tiếp nhận tin báo, cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh và kết luận ông Hùng dùng vũ lực cản trở chị Lan Anh thành lập doanh nghiệp xuất phát từ định kiến cho rằng phụ nữ không phù hợp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực này.
Hỏi: Hành vi của ông Lê Văn Hùng có vi phạm pháp luật về bình đẳng giới không? Ông Hùng có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Quyền thành lập doanh nghiệp và hoạt động sản xuất, kinh doanh của công dân được pháp luật bảo vệ bình đẳng, không phụ thuộc vào giới tính. Mọi hành vi dùng vũ lực để cản trở quyền này vì định kiến giới đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Theo điểm a khoản 2 và điểm c khoản 4 Điều 7 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Dùng vũ lực cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
c) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại... điểm a khoản 2 Điều này trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho người bị xâm phạm."
Trong tình huống trên, ông Lê Văn Hùng đã dùng vũ lực nhằm cản trở chị Nguyễn Thị Lan Anh thành lập và đưa doanh nghiệp vào hoạt động chỉ vì cho rằng phụ nữ không phù hợp làm chủ doanh nghiệp. Hành vi này thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7. Ông Hùng có thể bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Nếu hành vi gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tinh thần cho chị Lan Anh thì còn phải chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý theo quy định. Trong trường hợp hành vi dùng vũ lực gây thương tích hoặc gây hậu quả nghiêm trọng đến mức có dấu hiệu tội phạm thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới, người vi phạm còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Tình huống 19: Sửa chữa hồ sơ để cản trở việc đăng ký doanh nghiệp vì định kiến giới có bị xử phạt không?
Chị Phạm Thị Thanh Hương nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải hàng hóa. Hồ sơ của chị đầy đủ, hợp lệ và được tiếp nhận theo đúng quy định.
Trong quá trình kiểm tra, xử lý hồ sơ, ông Đặng Quốc Bảo - người được giao tham gia xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp - cho rằng lĩnh vực vận tải phù hợp với nam giới hơn, còn phụ nữ khó điều hành doanh nghiệp. Với định kiến đó, ông Bảo đã tự ý sửa chữa một số thông tin trong hồ sơ của chị Thanh Hương, làm sai lệch nội dung giấy tờ khiến hồ sơ không còn thống nhất. Vì vậy, hồ sơ của chị Thanh Hương bị trả lại để bổ sung, làm kéo dài thời gian đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Nghi ngờ hồ sơ của mình bị can thiệp trái phép, chị Thanh Hương gửi đơn phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền. Qua kiểm tra, xác minh, cơ quan chức năng kết luận ông Đặng Quốc Bảo đã cố ý sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ nhằm cản trở chị Thanh Hương thành lập doanh nghiệp chỉ vì định kiến giới.
Hỏi: Hành vi của ông Đặng Quốc Bảo có vi phạm pháp luật về bình đẳng giới không? Ông Bảo có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Pháp luật bảo đảm mọi cá nhân đều bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp và tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, không phân biệt nam hay nữ. Mọi hành vi cố ý sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ nhằm cản trở người khác thực hiện quyền này chỉ vì định kiến giới đều là hành vi vi phạm pháp luật. Theo điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 76/2026/NĐ-CP):
"2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ nhằm cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới."
Khoản 4 Điều 7 quy định biện pháp khắc phục hậu quả:
"4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 1 và các điểm b và c khoản 2 Điều này;
d) Buộc nộp lại giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung (nếu có) đối với hành vi quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này cho cơ quan, người có thẩm quyền đã cấp các loại giấy phép, chứng chỉ, giấy đăng ký hoạt động đó."
Trong tình huống trên, ông Đặng Quốc Bảo đã lợi dụng nhiệm vụ được giao để tự ý sửa chữa, làm sai lệch nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của chị Phạm Thị Thanh Hương. Mục đích của hành vi này không xuất phát từ yêu cầu nghiệp vụ mà nhằm cản trở chị Thanh Hương thực hiện quyền thành lập doanh nghiệp chỉ vì cho rằng phụ nữ không phù hợp điều hành doanh nghiệp trong lĩnh vực vận tải. Đây là hành vi phân biệt đối xử về giới, trực tiếp xâm phạm quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực kinh tế.
Do đó, hành vi của ông Đặng Quốc Bảo thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP và có thể bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Đồng thời, người vi phạm còn bị buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của chị Phạm Thị Thanh Hương và buộc nộp lại các giấy tờ, tài liệu đã bị sửa chữa, làm sai lệch (nếu có) cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo đúng quy định.
Tình huống 20: Ép buộc người khác sửa chữa hồ sơ để cản trở phụ nữ thành lập doanh nghiệp
Chị Vũ Thị Khánh Linh nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp kinh doanh thiết bị điện. Hồ sơ của chị đầy đủ, hợp lệ và đã được tiếp nhận theo đúng quy định.
Trong quá trình xử lý hồ sơ, ông Hoàng Minh Đức - người có trách nhiệm quản lý bộ phận tiếp nhận và giải quyết hồ sơ - cho rằng lĩnh vực kinh doanh thiết bị điện chỉ phù hợp với nam giới, phụ nữ sẽ khó điều hành doanh nghiệp hiệu quả. Vì định kiến đó, ông Đức đã yêu cầu một nhân viên trực tiếp xử lý hồ sơ sửa đổi một số nội dung trong giấy đăng ký doanh nghiệp của chị Khánh Linh để hồ sơ không còn hợp lệ. Ban đầu, người nhân viên từ chối vì biết việc làm này trái quy định. Tuy nhiên, ông Đức liên tục gây sức ép, đe dọa sẽ điều chuyển vị trí công tác và đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ nếu không thực hiện theo yêu cầu. Lo sợ bị ảnh hưởng đến công việc, người nhân viên đã sửa chữa hồ sơ theo chỉ đạo của ông Đức, khiến hồ sơ của chị Khánh Linh bị trả lại, làm chậm quá trình đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Sau khi nhận được phản ánh, cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh và kết luận ông Hoàng Minh Đức đã ép buộc người khác sửa chữa hồ sơ nhằm cản trở chị Khánh Linh thành lập doanh nghiệp chỉ vì định kiến giới.
Hỏi: Hành vi của ông Hoàng Minh Đức có vi phạm pháp luật về bình đẳng giới không? Ông Đức có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi cản trở quyền thành lập doanh nghiệp của công dân vì định kiến giới. Không chỉ người trực tiếp sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ bị xử lý mà người chỉ đạo, ép buộc hoặc gây áp lực để người khác thực hiện hành vi vi phạm cũng phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Điểm c khoản 2 Điều 7 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
c) Ép buộc người khác sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ nhằm cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới."
Khoản 4 Điều 7 quy định biện pháp khắc phục hậu quả:
"b) Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 1 và các điểm b và c khoản 2 Điều này;
d) Buộc nộp lại giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung (nếu có) đối với hành vi quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này cho cơ quan, người có thẩm quyền đã cấp các loại giấy phép, chứng chỉ, giấy đăng ký hoạt động đó."
Trong tình huống trên, ông Hoàng Minh Đức mặc dù không trực tiếp sửa chữa hồ sơ nhưng đã lợi dụng vị trí quản lý để ép buộc cấp dưới thực hiện hành vi sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của chị Vũ Thị Khánh Linh. Mục đích của hành vi này là cản trở chị Khánh Linh thực hiện quyền thành lập doanh nghiệp chỉ vì quan niệm phụ nữ không phù hợp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thiết bị điện. Đây là hành vi phân biệt đối xử về giới trong lĩnh vực kinh tế. Do đó, ông Hoàng Minh Đức thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 7 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP và có thể bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Đồng thời, người vi phạm còn bị buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của chị Linh và buộc nộp lại các giấy tờ đã bị sửa chữa, làm sai lệch (nếu có) cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo đúng quy định.
Tình huống 21: Vận động người khác chọn nghề theo định kiến giới có bị xử lý không?
Sau khi tốt nghiệp đại học, chị Trần Thị Ngọc Mai cùng tham gia Ngày hội việc làm do một trường đại học tổ chức. Chị Ngọc Mai mong muốn ứng tuyển vào vị trí kỹ sư cơ khí của một doanh nghiệp lớn vì phù hợp với chuyên ngành đã được đào tạo.
Tuy nhiên, ông Phạm Văn Long, người tư vấn việc làm tại sự kiện, đã nhiều lần khuyên chị Mai không nên nộp hồ sơ và nói: "Con gái thì không nên làm kỹ sư cơ khí, nghề này chỉ phù hợp với nam giới. Em nên chọn công việc văn phòng hoặc kế toán sẽ thích hợp hơn." Không chỉ vậy, ông Long còn vận động một số sinh viên nữ khác từ bỏ ý định ứng tuyển vào các ngành kỹ thuật với lý do "phụ nữ khó theo nghề". Nhiều sinh viên vì tin vào lời tư vấn của ông Long đã thay đổi nguyện vọng, không nộp hồ sơ vào những vị trí phù hợp với năng lực và chuyên môn của mình.
Hỏi: Hành vi vận động, xúi giục người khác lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp theo định kiến giới có bị xử lý theo quy định của pháp luật không?
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 8 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định:
"1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi vận động, xúi giục người khác lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp theo định kiến giới."
Trong tình huống trên, ông Phạm Văn Long không tư vấn nghề nghiệp dựa trên năng lực, trình độ, sở trường hoặc nguyện vọng của người lao động mà vận động, xúi giục người khác lựa chọn nghề nghiệp chỉ dựa trên giới tính, với quan điểm cho rằng phụ nữ không phù hợp làm việc trong lĩnh vực kỹ thuật. Đây là hành vi lựa chọn việc làm, nghề nghiệp theo định kiến giới, làm hạn chế cơ hội nghề nghiệp của người lao động, đặc biệt là lao động nữ, trái với nguyên tắc bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động. Do đó, hành vi của ông Phạm Văn Long thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP và bị phạt cảnh cáo theo quy định của pháp luật.
Tình huống 22: Chỉ trang bị phương tiện bảo hộ cho lao động nam có bị xử phạt không?
Công ty An Phát hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, có cả lao động nam và lao động nữ làm việc tại phân xưởng. Do tính chất công việc có nhiều bụi và tiếng ồn, người lao động phải được trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động theo quy định.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Khánh, quản đốc phân xưởng, chỉ cấp đầy đủ quần áo bảo hộ, mũ bảo hộ và khẩu trang chuyên dụng cho lao động nam. Đối với lao động nữ, ông Khánh cho rằng: "Phụ nữ chỉ làm việc nhẹ hơn nên không cần trang bị đầy đủ như nam giới."
Sau một thời gian làm việc, nhiều lao động nữ phản ánh việc không được bảo đảm đầy đủ điều kiện an toàn lao động, ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường làm việc.
Hỏi: Pháp luật quy định như thế nào đối với hành vi phân biệt đối xử về giới trong bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động?
Trả lời: Theo điểm a khoản 2 và điểm a khoản 5 Điều 8 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ:
"2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Phân biệt đối xử về giới trong bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động;
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều này."
Việc chỉ trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ cho lao động nam mà không bảo đảm điều kiện tương tự cho lao động nữ, mặc dù cùng làm việc trong môi trường có yếu tố nguy hiểm, là hành vi phân biệt đối xử về giới trong bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động. Ông Nguyễn Văn Khánh và đơn vị có liên quan có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; đồng thời buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người lao động bị xâm phạm, bảo đảm đầy đủ các điều kiện về an toàn, vệ sinh lao động theo quy định.
Tình huống 23: Cấm lao động nữ ứng tuyển vào vị trí kỹ thuật
Chị Đỗ Thu Hương tốt nghiệp đại học chuyên ngành điện công nghiệp và nộp hồ sơ ứng tuyển vào vị trí kỹ thuật bảo trì tại Công ty Minh Quang. Sau khi xem hồ sơ, ông Trần Quốc Bình, Trưởng phòng nhân sự, cho biết: "Công ty không nhận phụ nữ vào vị trí này. Nghề này chỉ phù hợp với nam giới, chị nên tìm công việc khác." Mặc dù chị Hương đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn tuyển dụng, công ty vẫn từ chối tiếp nhận hồ sơ chỉ vì chị là nữ.
Hỏi: Hành vi trên của ông Trần Quốc Bình, Trưởng phòng nhân sự có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm b khoản 2 và điểm a khoản 5 Điều 8 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP:
"2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Ép buộc hoặc nghiêm cấm người khác lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp vì định kiến giới;
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều này."
Ông Trần Quốc Bình đã ngăn cản chị Đỗ Thu Hương lựa chọn nghề nghiệp chỉ vì quan niệm phụ nữ không phù hợp với công việc kỹ thuật. Đây là hành vi nghiêm cấm người khác lựa chọn nghề nghiệp vì định kiến giới. Hành vi này có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; đồng thời buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của chị Đỗ Thu Hương, bảo đảm quyền lựa chọn việc làm bình đẳng theo quy định của pháp luật.

Tình huống 24: Phân công công việc dẫn đến chênh lệch thu nhập vì định kiến giới có bị xử phạt không?

Công ty Hưng Thịnh tuyển dụng anh Phạm Đức Anh và chị Bùi Thị Thanh Tâm vào cùng vị trí kỹ sư vận hành dây chuyền sản xuất, có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và mức lương cơ bản như nhau. Sau khi bố trí công việc, công ty thường xuyên giao cho anh Đức Anh thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật có phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại và được làm thêm giờ. Trong khi đó, chị Thanh Tâm chỉ được phân công các công việc hành chính đơn giản với lý do: "Phụ nữ không phù hợp làm việc nặng hoặc quản lý kỹ thuật". Vì vậy, tổng thu nhập hằng tháng của chị Thanh Tâm thấp hơn anh Đức Anh khoảng 3 triệu đồng mặc dù năng lực và khả năng đáp ứng công việc của chị hoàn toàn tương đương.
Qua thanh tra, cơ quan chức năng xác định việc phân công công việc khác nhau không xuất phát từ yêu cầu chuyên môn hay năng lực của người lao động mà chỉ vì định kiến giới, dẫn đến chênh lệch về thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ.
Hỏi: Phân công công việc dẫn đến chênh lệch thu nhập vì định kiến giới có bị xử phạt không?
Trả lời: Bình đẳng giới trong lao động đòi hỏi người sử dụng lao động phải phân công công việc trên cơ sở năng lực, trình độ, yêu cầu của vị trí việc làm và không được phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Nếu việc phân công công việc xuất phát từ định kiến giới, làm cho người lao động thuộc một giới bị giảm cơ hội hưởng thu nhập thì là hành vi vi phạm pháp luật.
Theo điểm c khoản 2 và điểm a khoản 5 Điều 8 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 76/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026):
"2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
c) Phân biệt đối xử về giới trong phân công công việc dẫn đến chênh lệch về thu nhập.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều này."
Trong tình huống trên, Công ty Hưng Thịnh đã phân công công việc cho chị Bùi Thị Thanh Tâm dựa trên định kiến cho rằng phụ nữ không phù hợp với các công việc kỹ thuật hoặc có trách nhiệm cao, dẫn đến việc chị không được hưởng các khoản phụ cấp và tiền làm thêm như lao động nam. Hành vi này thuộc trường hợp phân biệt đối xử về giới trong phân công công việc dẫn đến chênh lệch về thu nhập theo điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP.
Mức phạt tiền trên áp dụng đối với cá nhân, trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Do đó, Công ty có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của chị Bùi Thị Thanh Tâm, bao gồm việc bố trí công việc phù hợp, bảo đảm các quyền, lợi ích về tiền lương, phụ cấp và các chế độ khác theo đúng quy định của pháp luật.
Tình huống 25: Thông báo tuyển dụng ghi "chỉ tuyển nam" có bị xử phạt không?
Công ty Đại Phúc đăng thông báo tuyển dụng vị trí nhân viên kinh doanh với nội dung: "Chỉ tuyển nam, tuổi từ 22 đến 35." Chị Lê Thị Quỳnh Anh có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm phù hợp với vị trí tuyển dụng nhưng không được tiếp nhận hồ sơ vì công ty chỉ tuyển lao động nam.
Cho rằng quyền được tuyển dụng bình đẳng của mình bị xâm phạm, chị Quỳnh Anh đã gửi đơn phản ánh đến Sở Nội vụ. Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định vị trí nhân viên kinh doanh không thuộc trường hợp pháp luật quy định phải tuyển dụng theo giới tính. Việc Công ty Đại Phúc đưa ra điều kiện "chỉ tuyển nam" đã hạn chế cơ hội việc làm của lao động nữ và có dấu hiệu vi phạm quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động.
Hỏi: Hành vi từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế người lao động thuộc một giới tính nhất định bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Pháp luật về bình đẳng giới nghiêm cấm việc từ chối tuyển dụng hoặc hạn chế tuyển dụng người lao động chỉ vì giới tính, trừ trường hợp pháp luật có quy định đặc thù đối với một số công việc nhất định. Người sử dụng lao động phải bảo đảm cơ hội tiếp cận việc làm bình đẳng cho mọi người lao động trên cơ sở năng lực, trình độ và yêu cầu của vị trí tuyển dụng.
Theo điểm d khoản 2 và điểm a khoản 5 Điều 8 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 76/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026):
"2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
d) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế người lao động thuộc một giới tính nhất định.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều này."
Trong tình huống trên, Công ty Đại Phúc đã đăng thông báo tuyển dụng với điều kiện "chỉ tuyển nam" đối với vị trí nhân viên kinh doanh, trong khi công việc này không thuộc trường hợp pháp luật quy định phải tuyển dụng theo giới tính. Việc từ chối tiếp nhận hồ sơ của chị Lê Thị Quỳnh Anh chỉ vì chị là nữ đã hạn chế cơ hội tiếp cận việc làm của người lao động trên cơ sở giới tính, vi phạm nguyên tắc bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động.
Mức phạt tiền nêu trên áp dụng đối với cá nhân, trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Do đó, Công ty Đại Phúc có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm theo quy định của pháp luật.
Tình huống 26. Cản trở con gái đến trường vì cho rằng không cần học cao có bị xử lý không?
Gia đình ông Nguyễn Văn Dũng có hai người con là Nguyễn Văn Nam và Nguyễn Thị Hồng. Sau khi cả hai học hết trung học cơ sở, ông Dũng cho con trai tiếp tục học trung học phổ thông, còn con gái phải nghỉ học để ở nhà phụ giúp việc gia đình. Mặc dù Hồng nhiều lần bày tỏ mong muốn được tiếp tục đi học và có kết quả học tập khá, ông Dũng vẫn kiên quyết từ chối với lý do: "Con gái học nhiều cũng không để làm gì, sau này lấy chồng là được."
Biết sự việc, giáo viên chủ nhiệm và chính quyền địa phương nhiều lần đến vận động nhưng ông Dũng vẫn không đồng ý cho con gái đến trường. Chị Nguyễn Thị Hồng đã đề nghị giáo viên và chính quyền địa phương hỗ trợ để bảo vệ quyền được học tập của mình.
Hỏi: Hành vi không cho người khác đến trường, học tập nâng cao hiểu biết vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào? Người bị xâm phạm quyền học tập cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?
Trả lời: Quyền học tập là quyền cơ bản của mọi công dân và được pháp luật bảo đảm bình đẳng, không phân biệt nam hay nữ. Mọi hành vi cản trở người khác đến trường hoặc học tập nâng cao trình độ chỉ vì giới tính đều là hành vi vi phạm pháp luật.
Theo khoản 1 và điểm a khoản 7 Điều 9 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 76/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026):
"1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi vận động, xúi giục hoặc không cho người khác tới trường, học tập nâng cao hiểu biết vì lý do giới tính.
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn Dũng không cho con gái tiếp tục đi học chỉ vì cho rằng nữ giới không cần học cao. Việc cản trở này hoàn toàn xuất phát từ định kiến giới, không dựa trên điều kiện học tập hay hoàn cảnh thực tế của người học. Hành vi của ông Dũng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP và có thể bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Đồng thời, ông Dũng phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là khôi phục quyền học tập hợp pháp của chị Nguyễn Thị Hồng, tạo điều kiện để chị tiếp tục đến trường theo quy định.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chị Nguyễn Thị Hồng hoặc người thân, giáo viên, nhà trường có thể phản ánh, kiến nghị đến Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan quản lý giáo dục hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kịp thời can thiệp, xử lý hành vi vi phạm. Các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm vận động, bảo vệ quyền được học tập của người học và yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi cản trở, tạo điều kiện để người bị xâm phạm tiếp tục học tập theo quy định của pháp luật.
Tình huống 27. Ép buộc con trai không được học nghề may có bị xử phạt không?
Anh Trần Minh Khang có năng khiếu thiết kế thời trang và đăng ký học nghề may tại một trường cao đẳng. Biết chuyện, ông Phạm Văn Cường là cha của Khang đã nhiều lần yêu cầu con rút hồ sơ với lý do: "Con trai mà đi học may mặc thì mất mặt gia đình, nghề này chỉ dành cho phụ nữ." Ông Cường còn giữ toàn bộ giấy tờ cá nhân và không cho Khang đến trường nhập học.
Mặc dù được nhà trường và người thân nhiều lần giải thích rằng việc lựa chọn ngành nghề học tập là quyền của mỗi cá nhân, ông Cường vẫn kiên quyết không trả lại giấy tờ. Anh Trần Minh Khang đã đề nghị nhà trường và chính quyền địa phương hỗ trợ để bảo vệ quyền học tập của mình.
Hỏi: Hành vi ép buộc hoặc cản trở người khác lựa chọn ngành, nghề học tập vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào? Người bị xâm phạm quyền học tập cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?
Trả lời: Theo khoản 2 và khoản 7 Điều 9 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP:
"2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi ép buộc hoặc cản trở người khác lựa chọn môn học, ngành, nghề học tập, đào tạo vì lý do giới tính."
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này."
Việc ông Phạm Văn Cường giữ giấy tờ, không cho con nhập học chỉ vì cho rằng nghề may chỉ phù hợp với nữ giới là hành vi cản trở người khác lựa chọn nghề học do định kiến giới. Hành vi này có thể bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Đồng thời, ông Cường phải khôi phục quyền học tập hợp pháp của anh Trần Minh Khang, trả lại giấy tờ và tạo điều kiện để anh thực hiện quyền lựa chọn nghề nghiệp.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, anh Trần Minh Khang có thể đề nghị nhà trường, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan quản lý giáo dục hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp, xử lý hành vi cản trở việc học tập. Trường hợp quyền học tập tiếp tục bị xâm phạm, anh có quyền phản ánh, kiến nghị hoặc tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.
Tình huống 28. Ép con gái nghỉ học để lấy chồng sớm có bị xử phạt không?
Chị Hoàng Thị Thu Trà đang học lớp 12 và có nguyện vọng thi đại học. Tuy nhiên, mẹ của Trà là bà Lê Thị Hạnh nhiều lần yêu cầu con nghỉ học để chuẩn bị kết hôn với lý do: "Con gái học cao cũng không cần thiết, lấy chồng sớm sẽ ổn định cuộc sống hơn." Mặc dù giáo viên chủ nhiệm, Ban Giám hiệu nhà trường và người thân nhiều lần khuyên can, phân tích về quyền được học tập của Trà, bà Hạnh vẫn ép buộc con nghỉ học và không cho tiếp tục đến trường.
Lo ngại việc học tập bị gián đoạn, chị Hoàng Thị Thu Trà đã đề nghị giáo viên chủ nhiệm và chính quyền địa phương hỗ trợ để bảo vệ quyền được học tập của mình.
Hỏi: Hành vi ép buộc người khác nghỉ học vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào? Người bị xâm phạm quyền học tập cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?
Trả lời: Quyền học tập là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Mọi cá nhân đều có quyền học tập bình đẳng, không phân biệt nam hay nữ. Việc ép buộc người khác nghỉ học chỉ vì cho rằng một giới tính không cần học cao là hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.
Theo khoản 3 và điểm a khoản 7 Điều 9 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 76/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026):
"3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vận động, ép buộc người khác nghỉ học vì lý do giới tính.
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này."
Trong tình huống trên, bà Lê Thị Hạnh đã nhiều lần ép buộc chị Hoàng Thị Thu Trà nghỉ học chỉ vì cho rằng phụ nữ không cần học cao và nên kết hôn sớm. Hành vi này xuất phát từ định kiến giới, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền được học tập và quyền phát triển của chị Thu Trà. Do đó, hành vi của bà Hạnh thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP và có thể bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Đồng thời, bà Hạnh phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là khôi phục quyền học tập hợp pháp của chị Hoàng Thị Thu Trà, tạo điều kiện để chị tiếp tục học tập theo quy định.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chị Hoàng Thị Thu Trà có thể phản ánh sự việc với nhà trường, giáo viên chủ nhiệm, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan quản lý giáo dục hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được hỗ trợ, can thiệp và xử lý theo quy định pháp luật. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phối hợp vận động gia đình chấm dứt hành vi vi phạm, bảo đảm để người học tiếp tục được đến trường và thực hiện đầy đủ quyền học tập của mình.
Tình huống 29. Vận động nhiều học sinh nữ nghỉ học nghề vì lý do coi thường giới tính có bị xử phạt không?
Trong quá trình tuyển sinh vào một trung tâm giáo dục nghề nghiệp, ông Đỗ Văn Bình đã tổ chức nhiều buổi gặp phụ huynh tại địa phương và tuyên truyền rằng: "Con gái không cần học nghề kỹ thuật, nên nghỉ học để đi làm công nhân hoặc lập gia đình."
Ông Bình còn vận động nhiều phụ huynh không cho con gái tiếp tục theo học nghề cơ khí và điện công nghiệp. Sau đó, nhiều học sinh nữ đã xin rút hồ sơ nhập học dù trước đó đã trúng tuyển.
Hỏi: Hành vi vận động có tổ chức nhiều người nghỉ học vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Mọi công dân đều có quyền bình đẳng trong học tập và lựa chọn ngành nghề đào tạo. Việc tổ chức vận động nhiều người nghỉ học chỉ vì giới tính không chỉ xâm phạm quyền học tập mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện chính sách bình đẳng giới trong giáo dục.
Theo điểm a khoản 4 và khoản 7 Điều 9 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP:
"4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Vận động, ép buộc có tổ chức nhiều người nghỉ học vì lý do giới tính."
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này."
Ông Đỗ Văn Bình không chỉ tác động đến một cá nhân mà còn tổ chức tuyên truyền, vận động nhiều phụ huynh cho con gái nghỉ học vì quan niệm định kiến giới. Hành vi này đã ảnh hưởng đến quyền học tập của nhiều học sinh nữ và làm giảm cơ hội tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của họ. Theo quy định, ông Bình có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và buộc khôi phục quyền học tập hợp pháp của những người bị xâm phạm, tạo điều kiện để các học sinh tiếp tục học tập theo đúng nguyện vọng và quy định của pháp luật.
Tình huống 30. Từ chối tuyển sinh vì học viên đang mang thai
Chị Nguyễn Thị Thanh Huyền đã trúng tuyển lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hành chính do Trung tâm Đào tạo A tổ chức. Trước ngày nhập học, trung tâm yêu cầu học viên bổ sung hồ sơ và biết chị Huyền đang mang thai hơn 5 tháng.
Sau khi xem xét, ông Trần Văn Hòa, Giám đốc Trung tâm, thông báo không tiếp nhận chị Huyền vào khóa học với lý do: "Phụ nữ đang mang thai sẽ khó theo học đầy đủ, ảnh hưởng đến chất lượng lớp học. Khi nào sinh con xong thì đăng ký khóa khác." Mặc dù chị Huyền đáp ứng đầy đủ điều kiện tuyển sinh và cam kết thực hiện đầy đủ nội dung khóa học, trung tâm vẫn từ chối tiếp nhận.
Hỏi: Việc từ chối tuyển sinh đối với người có đủ điều kiện chỉ vì đang mang thai có vi phạm pháp luật về bình đẳng giới hay không?
Trả lời: Việc mang thai, sinh con hoặc nuôi con nhỏ không phải là căn cứ để hạn chế quyền được học tập, đào tạo, bồi dưỡng của phụ nữ. Mọi hành vi từ chối tuyển sinh vì những lý do này đều có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật. Theo điểm b khoản 4 và khoản 7 Điều 9 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định:
"4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Từ chối tuyển sinh đối với người có đủ điều kiện vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ."
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này."
Trong tình huống trên, chị Nguyễn Thị Thanh Huyền đáp ứng đầy đủ điều kiện tham gia khóa đào tạo nhưng bị từ chối tuyển sinh chỉ vì đang mang thai. Đây là hành vi phân biệt đối xử về giới, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền được học tập, bồi dưỡng của công dân.
Mức phạt tiền nêu trên áp dụng đối với cá nhân, trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Theo quy định, Trung tâm Đào tạo A có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Đồng thời, trung tâm phải khôi phục quyền lợi hợp pháp của chị Huyền, tạo điều kiện để chị được tham gia khóa đào tạo theo quy định.
Tình huống 31. Quy định độ tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ có đúng pháp luật không?
Trung tâm Đào tạo nghề B ban hành thông báo tuyển sinh khóa đào tạo lái xe nâng với điều kiện: nam từ 18 đến 40 tuổi, nữ từ 18 đến 30 tuổi. Chị Phạm Thị Ngọc Lan, 35 tuổi, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về sức khỏe và trình độ nhưng không được tiếp nhận hồ sơ chỉ vì vượt quá độ tuổi quy định đối với nữ. Nhiều học viên phản ánh việc quy định độ tuổi khác nhau giữa nam và nữ là không hợp lý.
Hỏi: Việc quy định tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ có bị xử lý theo quy định của pháp luật không?
Trả lời: Mọi quy định về tuyển sinh phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới. Việc đặt ra tiêu chí khác nhau giữa nam và nữ khi không có căn cứ pháp luật là hành vi vi phạm và sẽ bị xử lý.
Theo khoản 5 và khoản 7 Điều 9 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi quy định tuổi đào tạo, tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ."
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc sửa đổi hoặc bãi bỏ các quy định về tuổi đào tạo, tuổi tuyển sinh có sự phân biệt đối xử về giới đối với hành vi quy định tại khoản 5 Điều này."
Trong trường hợp này, Trung tâm Đào tạo nghề B đã quy định độ tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ mà không có căn cứ pháp luật, dẫn đến việc chị Phạm Thị Ngọc Lan bị từ chối cơ hội học tập chỉ vì giới tính.
Mức phạt tiền nêu trên áp dụng đối với cá nhân, trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.  Theo quy định, trung tâm có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; đồng thời phải sửa đổi hoặc bãi bỏ quy định tuyển sinh có sự phân biệt đối xử về giới.
Tình huống 32. Giáo dục hướng nghiệp mang định kiến giới có bị xử lý không?
Trong chương trình hướng nghiệp dành cho học sinh lớp 9 tại Trường Trung học cơ sở Hòa Bình, ông Nguyễn Văn Minh, giáo viên phụ trách, thường xuyên đưa ra quan điểm: "Con trai nên học cơ khí, điện, công nghệ; con gái chỉ nên học may, nấu ăn hoặc chăm sóc trẻ em." Không chỉ dừng ở việc tư vấn, ông Minh còn khuyến khích học sinh lựa chọn ngành nghề theo những quan niệm này và nhiều lần gạt bỏ ý kiến của các nữ sinh muốn theo học ngành kỹ thuật.
Sau khi nhận được phản ánh của phụ huynh, cơ quan quản lý giáo dục tiến hành kiểm tra và xác định nội dung hướng nghiệp đã thể hiện rõ định kiến giới.
Hỏi: Hành vi tổ chức giáo dục hướng nghiệp có nội dung định kiến giới bị của ông Minh có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo khoản 6 Điều 9 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"6. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi tổ chức giáo dục hướng nghiệp, biên soạn, phổ biến sách giáo khoa, giáo trình, chương trình giảng dạy có nội dung định kiến giới."
Khoản 7 Điều 9 quy định:
"7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
c) Buộc sửa đổi, thay thế hoặc đính chính sách giáo khoa, giáo trình, chương trình giảng dạy có nội dung định kiến giới. Nếu không sửa đổi, thay thế hoặc đính chính thì buộc phải tiêu hủy các tài liệu có nội dung định kiến giới đối với hành vi quy định tại khoản 6 Điều này;
d) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại khoản 6 Điều này."
Việc định hướng nghề nghiệp dựa trên quan niệm "nghề của nam", "nghề của nữ" đã hạn chế cơ hội lựa chọn nghề nghiệp của học sinh, trái với nguyên tắc bình đẳng giới trong giáo dục. Theo quy định trên, ông Minh có thể bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; đồng thời phải sửa đổi, thay thế hoặc đính chính nội dung hướng nghiệp mang định kiến giới; nếu không thực hiện thì phải tiêu hủy tài liệu vi phạm và nộp lại số lợi bất hợp pháp (nếu có).
Tình huống 33. Biên soạn giáo trình có nội dung định kiến giới có bị xử lý không?
Nhà xuất bản X đã biên soạn, phát hành bộ giáo trình kỹ năng sống dành cho học sinh trung học. Trong nhiều bài học, giáo trình đưa ra các nội dung như: "Nam giới sinh ra để lãnh đạo, quyết định các công việc lớn", "Phụ nữ phù hợp với nội trợ và chăm sóc gia đình, không nên theo đuổi các nghề đòi hỏi tư duy kỹ thuật." Sau khi giáo trình được đưa vào giảng dạy tại một số cơ sở giáo dục, nhiều giáo viên và phụ huynh phản ánh nội dung trên có biểu hiện định kiến giới, ảnh hưởng đến nhận thức của học sinh.
Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định giáo trình có nhiều nội dung mang tính phân biệt vai trò của nam và nữ trong học tập và nghề nghiệp.
Hỏi: Việc biên soạn, phổ biến giáo trình có nội dung định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Sách giáo khoa, giáo trình và chương trình giảng dạy có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức của người học. Vì vậy, việc biên soạn và phổ biến các tài liệu giáo dục phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới, không truyền bá những quan niệm, định kiến làm hạn chế quyền và cơ hội phát triển của mỗi cá nhân chỉ vì giới tính.
Theo khoản 6 và 7 Điều 9 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"6. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi tổ chức giáo dục hướng nghiệp, biên soạn, phổ biến sách giáo khoa, giáo trình, chương trình giảng dạy có nội dung định kiến giới."
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
c) Buộc sửa đổi, thay thế hoặc đính chính sách giáo khoa, giáo trình, chương trình giảng dạy có nội dung định kiến giới. Nếu không sửa đổi, thay thế hoặc đính chính thì buộc phải tiêu hủy các tài liệu có nội dung định kiến giới đối với hành vi quy định tại khoản 6 Điều này;
d) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại khoản 6 Điều này."
Giáo trình trong tình huống trên đã truyền tải những quan niệm sai lệch về vai trò của nam và nữ, tạo ra định kiến giới trong giáo dục và ảnh hưởng đến việc định hướng nghề nghiệp của học sinh. Mức phạt tiền nêu trên áp dụng đối với cá nhân, trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Do đó, Nhà xuất bản X có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Đồng thời, phải sửa đổi, thay thế hoặc đính chính nội dung vi phạm; trường hợp không thực hiện được thì phải tiêu hủy các tài liệu có nội dung định kiến giới và nộp lại số lợi bất hợp pháp thu được từ việc phát hành, phổ biến giáo trình (nếu có).
Tình huống 34. Chỉ ưu tiên con trai học đại học, bắt con gái nghỉ học đi làm có vi phạm không?
Gia đình ông Phạm Văn Khánh có hai người con là anh Phạm Minh Đức và chị Phạm Thu Hà. Cả hai đều thi đỗ đại học với kết quả học tập tốt. Tuy nhiên, ông Khánh quyết định chỉ cho con trai tiếp tục học vì cho rằng: "Con trai mới cần học cao để lo sự nghiệp, còn con gái học nhiều cũng lấy chồng." Ông yêu cầu chị Hà nghỉ học để đi làm phụ giúp gia đình, trong khi mọi điều kiện kinh tế vẫn đủ để cả hai người con tiếp tục học.
Việc đối xử khác nhau giữa hai người con khiến chị Hà mất cơ hội học tập và phát triển nghề nghiệp.
Hỏi: Hành vi đối xử bất bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Trong gia đình, mọi thành viên đều có quyền được đối xử bình đẳng, không phân biệt nam hay nữ trong học tập, lao động và các cơ hội phát triển. Theo điểm b khoản 1 và khoản 5 Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Đối xử bất bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính."
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu)."
Ông Phạm Văn Khánh đã đối xử khác biệt giữa con trai và con gái chỉ vì định kiến giới, làm ảnh hưởng đến quyền được học tập và phát triển bình đẳng của chị Phạm Thu Hà. Theo quy định, ông Khánh có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và buộc xin lỗi công khai chị Hà, trừ trường hợp chị có đơn không yêu cầu.
Tình huống 35. Đe dọa vợ không được tham gia quyết định bán đất của gia đình có bị xử lý không?
Gia đình ông Lê Văn Bình có một thửa đất là tài sản chung của hộ gia đình. Khi gia đình thống nhất sẽ chuyển nhượng một phần diện tích đất để đầu tư sản xuất, bà Nguyễn Thị Hương đề nghị được tham gia bàn bạc và ký các giấy tờ theo quy định. Cho rằng "đất đai là việc đàn ông quyết", ông Bình liên tục đe dọa nếu bà Hương tham gia ký kết thì sẽ đuổi bà ra khỏi nhà và cắt toàn bộ chi tiêu trong gia đình. Lo sợ bị uy hiếp, bà Hương không dám tham gia việc định đoạt tài sản chung.
Hỏi: Hành vi đe dọa nhằm cản trở thành viên trong gia đình tham gia định đoạt tài sản chung vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 2 và khoản 5 (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính."
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm...
b) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý... trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho người bị xâm phạm;
c) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm..."
Ông Lê Văn Bình đã dùng lời đe dọa và uy hiếp tinh thần để ngăn cản bà Nguyễn Thị Hương thực hiện quyền tham gia định đoạt tài sản chung chỉ vì bà là phụ nữ. Theo quy định, ông Bình có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng; phải xin lỗi công khai, khôi phục quyền lợi hợp pháp của bà Hương và nếu gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần thì phải chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý.
Qua tình huống trên cho thấy, việc tham gia quyết định đối với tài sản chung của hộ gia đình là quyền hợp pháp của các thành viên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và không được bị hạn chế vì lý do giới tính.
Tình huống 36. Ép buộc chỉ phụ nữ phải thực hiện biện pháp tránh thai có bị xử lý không?
Sau khi sinh con thứ hai, gia đình ông Đỗ Văn Cường bàn bạc về việc kế hoạch hóa gia đình. Mặc dù bác sĩ tư vấn cả vợ và chồng đều có thể lựa chọn các biện pháp tránh thai phù hợp, ông Cường vẫn khăng khăng yêu cầu vợ là bà Lê Thị Mai phải thực hiện triệt sản với lý do: "Phụ nữ phải chịu trách nhiệm chuyện sinh đẻ." Khi bà Mai không đồng ý vì lý do sức khỏe, ông Cường nhiều lần gây áp lực, đe dọa cắt toàn bộ chi tiêu sinh hoạt nếu bà không thực hiện theo yêu cầu.
Hỏi: Hành vi áp đặt việc sử dụng biện pháp tránh thai hoặc triệt sản là trách nhiệm của thành viên thuộc một giới nhất định bị xử lý như thế nào? Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà Mai cần làm gì?
Trả lời: Việc lựa chọn biện pháp tránh thai là quyền của mỗi cá nhân và cần được vợ chồng cùng trao đổi, thống nhất trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, phù hợp với điều kiện sức khỏe của mỗi người. Không ai được áp đặt việc sử dụng biện pháp tránh thai hoặc triệt sản là trách nhiệm của riêng nam giới hoặc phụ nữ vì định kiến giới. Theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, sử dụng biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành viên trong gia đình thuộc một giới nhất định."
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm..."
Trong tình huống trên, mặc dù việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình có nhiều biện pháp để vợ chồng cùng lựa chọn, ông Đỗ Văn Cường lại cho rằng việc tránh thai và triệt sản là trách nhiệm riêng của phụ nữ. Không những vậy, ông còn nhiều lần gây áp lực, đe dọa cắt chi tiêu sinh hoạt để buộc bà Lê Thị Mai phải thực hiện triệt sản theo ý mình. Hành vi này thể hiện rõ định kiến giới, xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình.
Do đó, hành vi của ông Cường thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP và có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Đồng thời, ông Cường còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc xin lỗi công khai bà Lê Thị Mai, trừ trường hợp bà Mai có đơn không yêu cầu.
Tình huống 37. Dùng vũ lực ngăn vợ tham gia ký bán tài sản chung của gia đình có bị xử lý không?
Gia đình ông Vũ Văn Nam có một ngôi nhà là tài sản chung của hộ gia đình. Khi thực hiện thủ tục chuyển nhượng nhà, cơ quan công chứng yêu cầu các thành viên có quyền định đoạt phải cùng tham gia ký kết theo quy định. Không muốn vợ tham gia quyết định, ông Nam cho rằng: "Đàn bà không có quyền quyết chuyện nhà đất." Đến ngày đi công chứng, khi bà Phạm Thị Hoa chuẩn bị đến văn phòng công chứng thì ông Nam đã dùng vũ lực giữ bà ở nhà, xô đẩy khiến bà bị thương ở cánh tay và không thể tham gia ký hợp đồng.
Sau sự việc, bà Hoa phải đến cơ sở y tế điều trị.
Hỏi: Hành vi dùng vũ lực cản trở thành viên trong gia đình tham gia định đoạt tài sản chung vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Khoản 3, 4, 5 Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"3. Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực nhằm cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính."
4. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại khoản 3 Điều này.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm...
b) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý...
c) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm..."
Trong tình huống trên, ông Vũ Văn Nam đã sử dụng vũ lực để cản trở bà Phạm Thị Hoa thực hiện quyền tham gia định đoạt tài sản chung của hộ gia đình chỉ vì định kiến giới. Hành vi này không chỉ xâm phạm quyền bình đẳng của bà Hoa mà còn gây thiệt hại về sức khỏe. Theo quy định, ông Nam có thể bị phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; trường hợp có tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm thì có thể bị tịch thu theo quy định. Đồng thời, ông Nam phải xin lỗi công khai bà Hoa (trừ trường hợp bà Hoa có đơn không yêu cầu), khôi phục quyền lợi hợp pháp của bà và chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý do hành vi gây ra.
Qua tình huống trên cho thấy, quyền tham gia quyết định đối với tài sản chung của hộ gia đình là quyền hợp pháp của các thành viên đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Mọi hành vi dùng vũ lực để cản trở quyền này vì lý do giới tính đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Tình huống 38. Chỉ vì là phụ nữ mà không được tham gia kinh doanh
Gia đình ông Trần Văn Bình có một cửa hàng vật liệu xây dựng do hai vợ chồng cùng gây dựng. Sau nhiều năm buôn bán, bà Nguyễn Thị Lan đề xuất mở thêm một cửa hàng tại địa phương khác để tăng thu nhập cho gia đình. Tuy nhiên, ông Bình không đồng ý và yêu cầu bà Lan ở nhà nội trợ với lý do: "Phụ nữ chỉ cần chăm lo việc nhà, chuyện làm ăn để đàn ông quyết định."
Không những vậy, ông Bình còn giữ toàn bộ giấy phép kinh doanh, khóa tài khoản ngân hàng của cửa hàng và cấm bà Lan tiếp xúc với khách hàng, khiến bà không thể tham gia điều hành hoạt động kinh doanh như trước.
Hỏi: Hành vi của ông Bình có vi phạm pháp luật về bình đẳng giới hay không? Có thể bị xử lý thế nào?
Trả lời: Pháp luật bảo đảm nam và nữ có quyền bình đẳng trong lao động, sản xuất, kinh doanh và tạo thu nhập cho gia đình. Mọi hành vi cản trở thành viên trong gia đình thực hiện các hoạt động tạo thu nhập chỉ vì lý do giới tính đều là hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Theo điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Cản trở hoặc không cho thành viên trong gia đình thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì lý do giới tính."
Theo điểm a và điểm c khoản 5 Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP:
"5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu);
c) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1..."
Trong tình huống trên, ông Bình không cản trở bà Lan vì năng lực hay điều kiện kinh doanh mà chỉ vì bà là phụ nữ. Đây là hành vi cản trở thành viên trong gia đình thực hiện hoạt động tạo thu nhập vì lý do giới tính. Ông Bình có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; đồng thời buộc xin lỗi công khai (nếu người bị xâm phạm có yêu cầu) và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của bà Lan trong hoạt động kinh doanh.
Tình huống 39. Chỉ giao toàn bộ việc nhà cho con gái
Gia đình ông Lê Văn Cường có hai người con là Lê Minh Anh và Lê Minh Quân. Mặc dù cả hai đều đang học phổ thông và có thời gian học tập tương đương, nhưng mọi công việc trong gia đình như nấu cơm, giặt quần áo, dọn dẹp nhà cửa, chăm em nhỏ đều do Minh Anh thực hiện. Trong khi đó, Minh Quân không phải làm bất kỳ việc gì vì ông Cường cho rằng: "Con trai không cần làm việc nhà."
Nhiều lần Minh Anh đề nghị được chia sẻ công việc để có thêm thời gian học tập nhưng không được chấp nhận.
Hỏi: Việc đối xử như vậy có vi phạm pháp luật về bình đẳng giới hay không?
Trả lời: Trong gia đình, việc phân công công việc cần dựa trên độ tuổi, sức khỏe, khả năng và điều kiện của từng thành viên, không được phân biệt đối xử giữa nam và nữ vì định kiến giới. Mọi thành viên trong gia đình đều có quyền được đối xử bình đẳng và có trách nhiệm cùng chia sẻ công việc gia đình.
Theo điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Đối xử bất bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu)."
Trong tình huống trên, việc bắt con gái phải làm toàn bộ việc nhà trong khi con trai không phải thực hiện bất kỳ công việc nào chỉ vì khác giới tính là hành vi đối xử bất bình đẳng trong gia đình. Người thực hiện hành vi có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm theo quy định của pháp luật.
Qua tình huống trên cho thấy, việc phân công công việc trong gia đình cần dựa trên độ tuổi, sức khỏe và điều kiện của từng thành viên, không được xuất phát từ định kiến "việc nhà là của phụ nữ" hay "đàn ông không phải làm việc nhà".
Tình huống 40. Xúc phạm nữ giảng viên để cản trở tham gia đề tài nghiên cứu có bị xử lý không?
Viện nghiên cứu A triển khai đề tài khoa học cấp tỉnh về chuyển đổi số trong quản lý hành chính. Qua xét chọn, chị Nguyễn Thị Thu Hà là giảng viên có nhiều công trình nghiên cứu được đề nghị tham gia Ban chủ nhiệm đề tài.
Biết thông tin này, ông Lê Văn Phúc nhiều lần phát biểu trước đồng nghiệp rằng: "Phụ nữ thì chỉ nên dạy học, nghiên cứu khoa học lớn làm sao nổi", "Đừng để một phụ nữ đứng đầu đề tài, mất uy tín đơn vị."
Không dừng lại ở đó, ông Phúc còn nhiều lần dùng những lời lẽ xúc phạm danh dự, hạ thấp năng lực của chị Hà chỉ vì chị là phụ nữ, khiến chị chịu nhiều áp lực, có ý định xin rút khỏi nhóm nghiên cứu.
Hỏi: Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào? Chị Hà cần làm gì để bảo vệ quyền của mình?
Trả lời: Mọi cá nhân đều có quyền bình đẳng trong nghiên cứu khoa học. Việc xúc phạm danh dự, nhân phẩm để cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học vì lý do giới tính là hành vi vi phạm pháp luật.
Theo khoản 1 và 6 Điều 10 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì lý do giới tính."
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu)."
Trong tình huống trên, ông Lê Văn Phúc không góp ý về năng lực chuyên môn mà dùng những lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị Nguyễn Thị Thu Hà chỉ vì định kiến giới nhằm cản trở chị tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học. Ông Phúc có thể bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Đồng thời, ông Phúc phải xin lỗi công khai chị Hà, trừ trường hợp chị có đơn không yêu cầu.
Tình huống 41. Đe dọa nữ nghiên cứu viên rút khỏi đề tài có bị xử lý không?
Anh Vũ Quốc Hưng là Trưởng nhóm nghiên cứu một dự án ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Chị Phạm Thị Minh Châu được lựa chọn tham gia dự án với vai trò phụ trách phân tích dữ liệu. Cho rằng phụ nữ không phù hợp với lĩnh vực công nghệ, ông Trần Văn Quý đã nhiều lần gọi điện đe dọa chị Châu: "Nếu còn tham gia dự án này thì liệu mà chịu trách nhiệm", đồng thời nhắn tin uy hiếp tinh thần khiến chị Châu hoang mang, ảnh hưởng đến công việc.
Hỏi: Hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 2, khoản 6 Điều 10 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì lý do giới tính.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu);
c) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho người bị xâm phạm."
Ông Trần Văn Quý đã nhiều lần uy hiếp tinh thần nhằm buộc chị Phạm Thị Minh Châu từ bỏ việc tham gia nghiên cứu khoa học chỉ vì định kiến giới. Đây là hành vi bị nghiêm cấm. Ông Quý có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; đồng thời phải xin lỗi công khai. Trường hợp hành vi gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tinh thần thì còn phải chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý cho người bị xâm phạm.
Qua tình huống trên cho thấy, mọi hành vi đe dọa hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người khác tham gia nghiên cứu khoa học vì giới tính đều bị pháp luật xử lý nghiêm.
Tình huống 42. Cố tình không cung cấp tài liệu nghiên cứu cho nữ chủ nhiệm đề tài có bị xử lý không?
Sở Khoa học và Công nghệ giao chị Nguyễn Thị Kim Oanh chủ trì đề tài nghiên cứu về nông nghiệp thông minh. Để triển khai nhiệm vụ, chị Oanh có văn bản đề nghị Trung tâm Thông tin Khoa học cung cấp cơ sở dữ liệu và tài liệu chuyên ngành theo quy định.
Mặc dù tài liệu đã có sẵn, ông Hoàng Văn Sơn nhiều lần trì hoãn, không cung cấp hoặc chỉ cung cấp một phần tài liệu với lý do: "Đề tài lớn nên để nam giới làm sẽ hiệu quả hơn."
Việc chậm cung cấp tài liệu khiến tiến độ nghiên cứu bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Hỏi: Hành vi không cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn thông tin, tài liệu nhằm cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Việc tiếp cận thông tin, dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học phải được bảo đảm bình đẳng. Không ai được phép cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học chỉ vì giới tính. Theo điểm b khoản 2, khoản 6 Điều 10 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Không cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định thông tin, tài liệu nhằm cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì lý do giới tính.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 và khoản 4 Điều này."
Trong tình huống trên, việc cố tình trì hoãn và không cung cấp đầy đủ tài liệu nghiên cứu xuất phát từ định kiến giới, làm ảnh hưởng đến quyền tham gia hoạt động khoa học của chị Nguyễn Thị Kim Oanh. Ông Hoàng Văn Sơn có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng và buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của chị Oanh bằng việc cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu theo quy định.
Tình huống 43. Dùng vũ lực cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học, công nghệ có bị xử lý không?
Viện Nghiên cứu Công nghệ sinh học tổ chức tuyển chọn thành viên tham gia đoàn khảo sát thực địa phục vụ đề tài nghiên cứu cấp bộ. Chị Nguyễn Thị Khánh Linh là nghiên cứu viên có nhiều kinh nghiệm nên được phân công tham gia đoàn công tác.
Cho rằng công việc khảo sát ngoài hiện trường chỉ phù hợp với nam giới, ông Phan Văn Lực nhiều lần phản đối việc chị Linh tham gia. Trước ngày đoàn lên đường, ông Lực đã chặn chị Linh tại khu vực làm việc, xô đẩy và dùng vũ lực nhằm buộc chị từ bỏ chuyến công tác. Vụ việc khiến chị Linh bị thương nhẹ, phải đến cơ sở y tế điều trị và không thể tham gia đoàn khảo sát theo kế hoạch.
Hỏi: Hành vi dùng vũ lực cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 3, khoản 5, 6 Điều 10 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định:
"3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Dùng vũ lực cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì lý do giới tính.
5. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
c) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho người bị xâm phạm."
Trong tình huống trên, ông Phan Văn Lực đã sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản chị Nguyễn Thị Khánh Linh tham gia hoạt động nghiên cứu chỉ vì cho rằng phụ nữ không phù hợp với công việc khảo sát thực địa. Đây là hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới trong hoạt động khoa học, công nghệ và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, quyền nghề nghiệp của người bị hại. Theo quy định, ông Lực có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng; tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm (nếu có) có thể bị tịch thu. Trường hợp hành vi gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tinh thần cho chị Linh thì ông Lực còn phải chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý theo quy định.
Tình huống trên cho thấy, mọi hành vi sử dụng vũ lực để cản trở người khác tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì lý do giới tính đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Tình huống 44. Không cho phụ nữ tham gia nhóm nghiên cứu vì định kiến giới có bị xử lý không?
Trường Đại học H chuẩn bị triển khai đề tài nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo trong giáo dục. Chị Lê Thị Minh Anh là giảng viên có trình độ tiến sĩ và nhiều công trình nghiên cứu được đánh giá cao. Tuy nhiên, trong cuộc họp thành lập nhóm nghiên cứu, ông Vũ Đức Thành, Trưởng nhóm, đã loại tên chị Minh Anh khỏi danh sách với lý do: "Đề tài này cần làm việc với cường độ cao, phụ nữ khó theo được nên chỉ bố trí nam giới tham gia."
Mặc dù nhiều thành viên góp ý rằng chị Minh Anh hoàn toàn đủ năng lực chuyên môn, ông Thành vẫn kiên quyết không cho chị tham gia nhóm nghiên cứu.
Hỏi: Hành vi không cho người khác tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm b khoản 3, khoản 6 Điều 10 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Không cho người khác tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì lý do giới tính.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 và khoản 4 Điều này."
Việc ông Vũ Đức Thành loại chị Lê Thị Minh Anh khỏi nhóm nghiên cứu không xuất phát từ năng lực chuyên môn hay yêu cầu của đề tài mà chỉ dựa trên định kiến giới. Hành vi này đã tước bỏ cơ hội tham gia hoạt động khoa học hợp pháp của chị Minh Anh. Theo quy định, ông Thành có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng; đồng thời phải khôi phục quyền lợi hợp pháp của chị Minh Anh, tạo điều kiện để chị được tham gia hoạt động nghiên cứu nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định. Tình huống trên cho thấy, trong hoạt động khoa học và công nghệ, việc lựa chọn thành viên phải căn cứ vào năng lực, trình độ và yêu cầu chuyên môn, không được phân biệt đối xử vì giới tính.
Tình huống 45. Từ chối nữ kỹ sư tham gia khóa đào tạo công nghệ mới có bị xử lý không?
Công ty Cổ phần Công nghệ Hoàng Gia phối hợp với một doanh nghiệp nước ngoài tổ chức khóa đào tạo chuyên sâu về vận hành hệ thống tự động hóa dành cho đội ngũ kỹ sư.
Chị Đặng Thị Hải Yến là kỹ sư có nhiều năm kinh nghiệm, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn tham gia khóa học. Tuy nhiên, khi lập danh sách cử người tham dự, ông Nguyễn Quốc Nam, Giám đốc kỹ thuật, đã loại chị Yến với lý do: "Khóa đào tạo này chỉ ưu tiên nam giới vì sau này còn đi công tác nhiều." Thay vào đó, công ty cử một nam kỹ sư có ít kinh nghiệm hơn tham gia khóa đào tạo.
Sau khi nhận được phản ánh, cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra và xác định việc loại chị Hải Yến hoàn toàn xuất phát từ định kiến giới.
Hỏi: Hành vi từ chối việc tham gia của một giới trong các khóa đào tạo hoặc hoạt động khoa học, công nghệ bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Mọi cá nhân có đủ năng lực và điều kiện đều có quyền bình đẳng trong việc tham gia các khóa đào tạo và hoạt động khoa học, công nghệ. Việc loại trừ một người chỉ vì giới tính không những làm mất cơ hội phát triển của cá nhân mà còn đi ngược lại chủ trương thúc đẩy bình đẳng giới và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo khoản 4, 6 Điều 10 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi từ chối việc tham gia của một giới trong các khóa đào tạo hoặc trong các hoạt động khoa học, công nghệ.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 và khoản 4 Điều này."
Trong tình huống trên, chị Đặng Thị Hải Yến đáp ứng đầy đủ điều kiện tham gia khóa đào tạo nhưng vẫn bị loại chỉ vì là nữ. Đây là hành vi từ chối sự tham gia của một giới trong hoạt động khoa học, công nghệ, vi phạm nguyên tắc bình đẳng giới. Theo quy định, người có hành vi vi phạm có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; đồng thời phải khôi phục quyền lợi hợp pháp của chị Hải Yến, bảo đảm chị được xem xét, tham gia khóa đào tạo và được đối xử bình đẳng như các ứng viên khác.
Tình huống 46. Xúc phạm nữ đạo diễn để cản trở tham gia liên hoan nghệ thuật có bị xử lý không?
Trung tâm Văn hóa tỉnh tổ chức tuyển chọn các tác phẩm tham gia Liên hoan nghệ thuật toàn quốc. Chị Nguyễn Thị Bích Ngọc là đạo diễn trẻ có nhiều tác phẩm được đánh giá cao và được đề cử tham gia liên hoan. Tuy nhiên, ông Trần Văn Hùng, một thành viên trong câu lạc bộ nghệ thuật, nhiều lần công khai phát biểu trước đồng nghiệp: "Đạo diễn nữ thì chỉ hợp làm các chương trình văn nghệ nhỏ, không đủ năng lực chỉ đạo các tác phẩm lớn." Không dừng lại ở đó, ông Hùng còn sử dụng nhiều lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị Bích Ngọc trên mạng xã hội nhằm gây áp lực để chị rút tác phẩm khỏi cuộc thi.
Do bị xúc phạm và chịu nhiều áp lực dư luận, chị Bích Ngọc có ý định xin rút khỏi liên hoan nghệ thuật.
Hỏi: Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở người khác tham gia hoạt động văn hóa vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 1, 5 Điều 11 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở người sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc tham gia hoạt động văn hóa khác, hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu)."
Trong tình huống trên, ông Trần Văn Hùng đã sử dụng những lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị Nguyễn Thị Bích Ngọc chỉ vì cho rằng phụ nữ không đủ năng lực làm đạo diễn. Hành vi này nhằm gây sức ép để chị từ bỏ việc tham gia liên hoan nghệ thuật, thể hiện rõ định kiến giới trong hoạt động văn hóa. Theo quy định, ông Hùng có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng và buộc xin lỗi công khai chị Nguyễn Thị Bích Ngọc, trừ trường hợp chị có đơn không yêu cầu.
Qua tình huống trên cho thấy, mọi cá nhân đều có quyền bình đẳng trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Việc xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở người khác tham gia các hoạt động này vì định kiến giới là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý theo quy định.
Tình huống 47. Đe dọa nữ vận động viên không được tham gia giải đấu có bị xử lý không?
Chị Phạm Thị Thu Giang là vận động viên boxing của tỉnh và được lựa chọn tham gia Giải vô địch quốc gia. Cho rằng boxing là môn thể thao chỉ dành cho nam giới, ông Lê Văn Quang nhiều lần nhắn tin đe dọa: "Nếu còn tiếp tục thi đấu thì liệu mà chịu hậu quả", đồng thời gọi điện uy hiếp tinh thần, yêu cầu chị Trang rút khỏi đội tuyển. Những lời đe dọa kéo dài khiến chị Giang luôn trong tình trạng lo lắng, mất ngủ và ảnh hưởng đến quá trình tập luyện.
Hỏi: Hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người khác tham gia hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm b khoản 1, 5 Điều 11 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc tham gia hoạt động văn hóa khác, hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu);
d) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều này trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho người bị xâm phạm."
Ông Lê Văn Quang đã nhiều lần đe dọa, uy hiếp tinh thần nhằm buộc chị Phạm Thị Thu Giang từ bỏ việc thi đấu chỉ vì định kiến giới. Hành vi này không chỉ xâm phạm quyền bình đẳng giới mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tinh thần của người bị hại. Theo quy định, ông Quang có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng; đồng thời phải xin lỗi công khai. Nếu hành vi gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tinh thần, ông Quang còn phải chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý cho chị Giang theo quy định.
Qua tình huống trên cho thấy, mọi công dân đều có quyền bình đẳng trong việc tham gia hoạt động thể dục, thể thao. Mọi hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người khác chỉ vì giới tính đều bị xử lý nghiêm.
Tình huống 48. Dùng vũ lực ngăn cản nữ nghệ sĩ biểu diễn có bị xử lý không?
Lễ hội văn hóa truyền thống của Xuân Minh tổ chức chương trình biểu diễn nghệ thuật dân gian. Chị Đỗ Thị Lan Anh là nghệ sĩ trẻ được Ban tổ chức mời biểu diễn tiết mục trống hội – một tiết mục trước đây chủ yếu do nam giới đảm nhiệm. Cho rằng phụ nữ không nên biểu diễn tiết mục này, ông Hoàng Văn Tài đã lớn tiếng phản đối. Trước giờ biểu diễn, ông Tài xô đẩy, giật dùi trống và dùng vũ lực ngăn cản chị Lan Anh lên sân khấu. Hành vi của ông khiến chị Lan Anh bị xây xát ở tay, phải sơ cứu tại cơ sở y tế và chương trình biểu diễn bị gián đoạn.
Hỏi: Hành vi dùng vũ lực cản trở người khác tham gia hoạt động văn hóa vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 2, khoản 4, 5 Điều 11 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Dùng vũ lực cản trở người sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc tham gia hoạt động văn hóa khác, hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới.
4. Hình thức xử phạt bổ sung:
b) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm a và b khoản 2 Điều này;
d) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều này trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho người bị xâm phạm."
Việc ông Hoàng Văn Tài sử dụng vũ lực để ngăn cản chị Đỗ Thị Lan Anh biểu diễn chỉ vì cho rằng phụ nữ không phù hợp với tiết mục trống hội là hành vi cản trở quyền tham gia hoạt động văn hóa vì định kiến giới. Theo quy định, ông Tài có thể bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng; tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm (nếu có) có thể bị tịch thu. Đồng thời, ông Tài phải khôi phục quyền lợi hợp pháp của chị Lan Anh, bảo đảm chị được tiếp tục tham gia biểu diễn; nếu hành vi gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tinh thần thì còn phải chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý.
Tình huống 49. Không cho phụ nữ tham gia biểu diễn nghệ thuật vì định kiến giới có bị xử lý không?
Đoàn Nghệ thuật dân gian huyện Y tổ chức tuyển chọn diễn viên tham gia biểu diễn tại Lễ hội Văn hóa các dân tộc. Chị Nguyễn Thị Thu Hiền là nghệ sĩ có nhiều năm kinh nghiệm biểu diễn hát then, đàn tính và đáp ứng đầy đủ các tiêu chí tuyển chọn.
Tuy nhiên, khi lập danh sách biểu diễn, ông Đặng Văn Hải, Trưởng đoàn, đã gạch tên chị Hiền với lý do: "Tiết mục khai mạc cần tạo khí thế nên chỉ nên để nam giới biểu diễn." Mặc dù nhiều thành viên trong đoàn góp ý chị Hiền là người có chuyên môn tốt và phù hợp với chương trình, ông Hải vẫn kiên quyết không cho chị tham gia.
Hỏi: Hành vi không cho người khác tham gia hoạt động văn hóa vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Việc lựa chọn người tham gia hoạt động văn hóa phải dựa trên năng lực, trình độ và yêu cầu chuyên môn, không được phân biệt đối xử vì giới tính. Theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 11 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Không cho người khác sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc tham gia hoạt động văn hóa khác, hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm a và b khoản 2 Điều này."
Trong tình huống trên, ông Đặng Văn Hải đã loại chị Nguyễn Thị Thu Hiền khỏi chương trình biểu diễn không phải vì năng lực chuyên môn mà chỉ xuất phát từ định kiến giới. Hành vi này đã tước bỏ cơ hội tham gia hoạt động văn hóa hợp pháp của chị Hiền. Theo quy định, ông Hải có thể bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng; đồng thời phải khôi phục quyền lợi hợp pháp của chị Hiền, tạo điều kiện để chị được tham gia biểu diễn nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Tình huống 50. Xuất bản truyện tranh cổ vũ định kiến giới có bị xử lý không?
Nhà xuất bản Ánh Dương phát hành bộ truyện tranh dành cho thiếu nhi với số lượng lớn. Trong nhiều tập truyện có các nội dung như: "Con trai sinh ra để lãnh đạo, quyết định mọi việc", "Con gái chỉ nên ở nhà chăm sóc gia đình, không cần học hành nhiều", "Nghề kỹ sư chỉ dành cho nam giới". Bộ truyện nhanh chóng được phát hành rộng rãi tại nhiều nhà sách và trường học. Sau khi nhận được phản ánh của phụ huynh và giáo viên, cơ quan quản lý nhà nước tiến hành kiểm tra và xác định nội dung truyện có nhiều chi tiết cổ vũ định kiến giới, tuyên truyền phân biệt đối xử giữa nam và nữ.
Hỏi: Hành vi xuất bản tác phẩm có nội dung cổ vũ, tuyên truyền phân biệt đối xử về giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 3, khoản 4 và 5 Điều 11 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Sáng tác, lưu hành, xuất bản hoặc cho phép xuất bản các tác phẩm, văn hóa phẩm có nội dung cổ vũ, tuyên truyền phân biệt đối xử về giới, định kiến giới dưới bất kỳ thể loại, hình thức nào.
4. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi lưu hành, xuất bản hoặc cho phép xuất bản quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
c) Buộc tháo dỡ, sửa đổi, thay thế hoặc đính chính các tác phẩm, văn hóa phẩm có nội dung định kiến giới, cổ vũ, tuyên truyền phân biệt đối xử về giới; nếu không tháo dỡ, sửa đổi, thay thế hoặc đính chính thì buộc tiêu hủy các tác phẩm, văn hóa phẩm có nội dung định kiến giới, cổ vũ, tuyên truyền phân biệt đối xử về giới đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 3 Điều này."
Nhà xuất bản đã phát hành tác phẩm chứa nội dung cổ vũ định kiến giới, làm ảnh hưởng đến nhận thức của người đọc, đặc biệt là trẻ em. Đây là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật về bình đẳng giới.
Mức phạt tiền trên áp dụng đối với cá nhân, trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Do đó, Nhà xuất bản Ánh Dương có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; đồng thời có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi xuất bản hoặc cho phép xuất bản tác phẩm vi phạm. Ngoài ra, còn phải tháo dỡ, sửa đổi, thay thế hoặc đính chính nội dung; nếu không thực hiện thì buộc tiêu hủy các tác phẩm, văn hóa phẩm vi phạm. Qua tình huống trên cho thấy, mọi tác phẩm văn hóa phải góp phần xây dựng nhận thức đúng đắn về bình đẳng giới, không được cổ vũ hay tuyên truyền các quan điểm phân biệt đối xử giữa nam và nữ.
Tình huống 51. Truyền bá hủ tục "trọng nam khinh nữ" trong lễ hội có bị xử lý không?
Trong lễ hội truyền thống tại xã M, ông Nguyễn Văn Cường, người chủ trì một số nghi lễ dân gian, thường xuyên tuyên truyền trước đông đảo người dân rằng: "Con trai mới có quyền nối dõi, gánh vác việc lớn của gia đình; con gái không cần học cao, sau này chỉ lấy chồng." Không chỉ phát biểu trong lễ hội, ông Cường còn in các tờ rơi có nội dung tương tự để phát cho người dân và vận động các gia đình thực hiện theo những quan niệm này.
Nhiều người dân phản ánh việc tuyên truyền như trên đã tạo ra tư tưởng phân biệt đối xử giữa con trai và con gái trong cộng đồng.
Hỏi: Hành vi truyền bá tư tưởng, phong tục, tập quán lạc hậu mang tính phân biệt đối xử về giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm b khoản 3 Điều 11 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Truyền bá tư tưởng, phong tục, tập quán lạc hậu mang tính phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn Cường đã lợi dụng hoạt động văn hóa truyền thống để tuyên truyền những tư tưởng "trọng nam khinh nữ", làm ảnh hưởng đến nhận thức của cộng đồng và đi ngược nguyên tắc bình đẳng giới. Theo quy định, ông Cường có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Qua tình huống trên cho thấy, việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc cần loại bỏ các hủ tục và quan niệm lạc hậu mang tính phân biệt đối xử về giới. Mọi hình thức truyền bá định kiến giới đều có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 52. Làm phim quảng cáo tuyên truyền định kiến giới có bị xử lý không?
Công ty Truyền thông Sao Việt sản xuất và phát hành một đoạn phim quảng cáo trên các nền tảng mạng xã hội với nội dung: "Đàn ông thành công thì lo việc lớn, phụ nữ giỏi nhất là ở nhà chăm sóc chồng con." Đoạn quảng cáo liên tục lặp lại hình ảnh nam giới giữ vai trò lãnh đạo, còn phụ nữ chỉ làm công việc nội trợ và không phù hợp với các vị trí quản lý. Sau khi quảng cáo được phát sóng rộng rãi, nhiều tổ chức và cá nhân phản ánh nội dung có tính cổ vũ định kiến giới, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức xã hội.
Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định quảng cáo có nội dung tuyên truyền phân biệt đối xử về giới.
Hỏi: Hành vi phát hành tác phẩm có nội dung cổ vũ định kiến giới dưới hình thức phim quảng cáo bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 3, khoản 4, 5 Điều 11 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Điều 4 Nghị định 76/2026/NĐ-CP):
"3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Sáng tác, lưu hành, xuất bản hoặc cho phép xuất bản các tác phẩm, văn hóa phẩm có nội dung cổ vũ, tuyên truyền phân biệt đối xử về giới, định kiến giới dưới bất kỳ thể loại, hình thức nào.
4. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi lưu hành, xuất bản hoặc cho phép xuất bản quy định tại điểm a khoản 3 Điều này."
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
c) Buộc tháo dỡ, sửa đổi, thay thế hoặc đính chính các tác phẩm, văn hóa phẩm có nội dung định kiến giới, cổ vũ, tuyên truyền phân biệt đối xử về giới; nếu không tháo dỡ, sửa đổi, thay thế hoặc đính chính thì buộc tiêu hủy các tác phẩm, văn hóa phẩm có nội dung định kiến giới, cổ vũ, tuyên truyền phân biệt đối xử về giới đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 3 Điều này."
Trong tình huống này, đoạn phim quảng cáo là một sản phẩm văn hóa được phát hành rộng rãi nhưng chứa nội dung cổ vũ định kiến giới, làm củng cố những quan niệm sai lệch về vai trò của nam và nữ trong xã hội. Theo quy định, tổ chức vi phạm có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi phát hành sản phẩm vi phạm. Đồng thời, phải tháo gỡ hoặc sửa đổi nội dung quảng cáo; nếu không thực hiện thì buộc tiêu hủy sản phẩm vi phạm theo quy định. Qua tình huống trên cho thấy, các sản phẩm truyền thông, văn hóa và quảng cáo có tác động lớn đến nhận thức của xã hội. Vì vậy, việc sáng tác, phát hành các tác phẩm cần bảo đảm tôn trọng nguyên tắc bình đẳng giới, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ và không duy trì các định kiến giới.
Tình huống 53. Xúi giục phụ nữ không tham gia truyền thông về sức khỏe sinh sản có bị xử lý không?
Trung tâm Y tế H phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ tổ chức buổi truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản và phòng, chống ung thư cổ tử cung.
Trước ngày tổ chức, bà Nguyễn Thị Hạnh đã nhiều lần nói với các chị em trong thôn: "Mấy buổi tuyên truyền đó chẳng có ích gì. Phụ nữ chỉ cần lo việc gia đình, không cần tìm hiểu mấy kiến thức ấy." Bà Hạnh còn khuyên nhiều người không nên tham dự vì cho rằng việc tìm hiểu kiến thức sức khỏe sinh sản là không cần thiết đối với phụ nữ. Do nghe theo lời bà Hạnh, nhiều người đã không đến tham dự buổi truyền thông.
Hỏi: Hành vi xúi giục người khác không tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 12 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định:
"1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi xúi giục người khác không tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế vì định kiến giới."
Trong tình huống trên, bà Nguyễn Thị Hạnh đã vận động, xúi giục nhiều người không tham gia hoạt động truyền thông về chăm sóc sức khỏe chỉ vì định kiến giới. Hành vi này làm hạn chế cơ hội tiếp cận kiến thức và dịch vụ y tế của người khác. Theo quy định, bà Hạnh có thể bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Việc tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe và truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản là quyền của mỗi người. Mọi hành vi xúi giục người khác từ bỏ quyền này vì định kiến giới đều vi phạm pháp luật.
Tình huống 54. Xúc phạm nam giới khi tham gia lớp học chăm sóc trẻ sơ sinh có bị xử lý không?
Bệnh viện Đa khoa tỉnh tổ chức lớp hướng dẫn chăm sóc trẻ sơ sinh dành cho các cặp vợ chồng chuẩn bị sinh con. Anh Trần Quốc Bảo đăng ký tham gia đầy đủ các buổi học để có thêm kiến thức chăm sóc vợ và con sau sinh. Tuy nhiên, trong lớp học, ông Phạm Văn Dũng nhiều lần cười cợt và nói trước mọi người: "Đàn ông mà đi học chăm con thì mất mặt", "Việc chăm con là của phụ nữ."
Những lời nói này khiến anh Bảo cảm thấy bị xúc phạm và ngại tiếp tục tham gia lớp học.
Hỏi: Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người tham gia hoạt động giáo dục sức khỏe vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 2 và khoản 7 Điều 12 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế vì định kiến giới.
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu)."
Trong tình huống trên, ông Phạm Văn Dũng đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của anh Trần Quốc Bảo chỉ vì định kiến cho rằng việc chăm sóc con nhỏ là trách nhiệm của phụ nữ. Hành vi này làm ảnh hưởng đến quyền bình đẳng trong việc tiếp cận kiến thức chăm sóc sức khỏe. Theo quy định, ông Dũng có thể bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng và buộc xin lỗi công khai anh Bảo, trừ trường hợp anh Bảo có đơn không yêu cầu. Cả nam và nữ đều có quyền bình đẳng trong việc tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe và chăm sóc gia đình. Không ai được xúc phạm người khác chỉ vì định kiến giới.
Tình huống 55. Cố tình không cấp tài liệu truyền thông sức khỏe cho nam giới có bị xử lý không?
Trung tâm Y tế M triển khai chương trình truyền thông về phòng, chống bệnh không lây nhiễm và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người dân. Anh Nguyễn Đức Minh đăng ký tham gia chương trình và đề nghị được cấp bộ tài liệu hướng dẫn theo quy định. Tuy nhiên, bà Lê Thị Mai, phụ trách phát tài liệu, nhiều lần trì hoãn và từ chối cung cấp với lý do: "Tài liệu này chủ yếu dành cho phụ nữ, nam giới không cần." Việc không được cung cấp tài liệu khiến anh Minh không thể nghiên cứu trước nội dung chương trình và gặp nhiều khó khăn trong quá trình tham gia.
Hỏi: Hành vi trì hoãn hoặc không cung cấp đầy đủ tài liệu cho người tham gia hoạt động giáo dục sức khỏe vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm b khoản 2, khoản 7 Điều 12 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Trì hoãn, không cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định các tài liệu cho người tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế vì định kiến giới.
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều này."
Trong tình huống trên, bà Lê Thị Mai đã cố tình không cung cấp tài liệu cho anh Nguyễn Đức Minh chỉ vì định kiến giới. Hành vi này đã hạn chế quyền tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động giáo dục sức khỏe của công dân. Theo quy định, bà Mai có thể bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng; đồng thời phải khôi phục quyền lợi hợp pháp của anh Minh bằng việc cung cấp đầy đủ tài liệu theo quy định. Qua tình huống trên cho thấy, việc tiếp cận thông tin và tài liệu phục vụ chăm sóc sức khỏe là quyền bình đẳng của mọi công dân, không phụ thuộc vào giới tính.
Tình huống 56. Không cho nam giới tham gia lớp truyền thông sức khỏe sinh sản có bị xử lý không?
Trạm Y tế xã T tổ chức lớp truyền thông về sức khỏe sinh sản và kỹ năng chăm sóc phụ nữ trong thời kỳ mang thai dành cho các cặp vợ chồng chuẩn bị sinh con. Anh Trần Minh Quân cùng vợ đến đăng ký tham gia. Tuy nhiên, bà Vũ Thị Lan, người phụ trách lớp học, từ chối tiếp nhận anh Quân với lý do: "Đây là lớp dành cho phụ nữ, đàn ông không cần học." Mặc dù anh Quân giải thích muốn có thêm kiến thức để chăm sóc vợ trong quá trình mang thai và sau sinh, bà Lan vẫn không cho anh tham gia.
Hỏi: Hành vi cản trở hoặc không cho người khác tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe, truyền thông về chăm sóc sức khỏe vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 3, khoản 7 Điều 12 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Cản trở hoặc không cho người khác tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế vì định kiến giới.
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều này."
Trong tình huống trên, bà Vũ Thị Lan đã từ chối cho anh Hoàng Minh Quân tham gia lớp truyền thông chỉ vì định kiến cho rằng chăm sóc sức khỏe sinh sản là việc của phụ nữ. Đây là hành vi cản trở người khác tham gia hoạt động giáo dục sức khỏe vì lý do giới tính. Theo quy định, bà Lan có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; đồng thời phải khôi phục quyền lợi hợp pháp của anh Quân, tạo điều kiện để anh được tham gia lớp truyền thông theo quy định.
Qua tình huống trên cho thấy, chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc gia đình là trách nhiệm chung của cả nam và nữ. Việc cản trở một người tham gia các hoạt động y tế chỉ vì giới tính là hành vi vi phạm pháp luật và làm giảm hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Tình huống 57. Đe dọa người tham gia truyền thông về sức khỏe sinh sản vì định kiến giới có bị xử lý không?
Trung tâm Y tế X phối hợp với Đoàn Thanh niên tổ chức lớp truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản và phòng, chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục dành cho thanh niên.
Anh Nguyễn Văn Thành đăng ký tham gia đầy đủ các buổi học để trang bị kiến thức chuẩn bị kết hôn. Biết việc này, ông Trịnh Văn Long nhiều lần chế giễu và nhắn tin đe dọa: "Đàn ông mà đi học mấy lớp này thì xấu hổ lắm. Nếu còn đến lớp thì đừng trách." Ông Long còn gọi điện uy hiếp, yêu cầu anh Thành phải nghỉ học vì cho rằng việc tìm hiểu kiến thức sức khỏe sinh sản là "chuyện của phụ nữ".
Do liên tục bị đe dọa, anh Thành lo lắng, mất ngủ và có ý định không tiếp tục tham gia chương trình.
Hỏi: Hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần người tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm b khoản 3, khoản 7 Điều 12 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định:
"3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần người tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế vì định kiến giới.
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu);
c) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 3 và khoản 4 Điều này trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho người bị xâm phạm."
Trong tình huống trên, ông Trịnh Văn Long đã nhiều lần uy hiếp tinh thần và đe dọa anh Nguyễn Văn Thành nhằm buộc anh từ bỏ việc tham gia hoạt động truyền thông về sức khỏe sinh sản chỉ vì định kiến giới. Hành vi này không chỉ xâm phạm quyền được tiếp cận thông tin về chăm sóc sức khỏe mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tinh thần của người bị hại.
Theo quy định, ông Long có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; đồng thời phải xin lỗi công khai anh Thành, trừ trường hợp anh Thành có đơn không yêu cầu. Nếu hành vi gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tinh thần thì ông Long còn phải chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý cho anh Thành theo quy định.
Tình huống 58. Dùng vũ lực ngăn cản người khác tham gia hoạt động y tế vì định kiến giới có bị xử lý không?
Bệnh viện Phụ sản tỉnh tổ chức lớp hướng dẫn chăm sóc mẹ và bé trước sinh dành cho các cặp vợ chồng. Anh Lê Quốc Khánh chủ động đăng ký tham gia cùng vợ để học kỹ năng chăm sóc thai phụ và trẻ sơ sinh.
Trong khi hai vợ chồng đang làm thủ tục vào lớp học, ông Phạm Văn Dũng cho rằng: "Đàn ông mà đi học mấy việc này thì không ra dáng đàn ông." Sau khi lời khuyên không được chấp nhận, ông Dũng đã kéo anh Khánh ra khỏi khu vực lớp học, xô đẩy và dùng vũ lực ngăn cản anh tham gia chương trình. Hậu quả, anh Khánh bị ngã, xây xát ở tay và phải được nhân viên y tế sơ cứu.
Sự việc khiến lớp học phải tạm dừng để xử lý, ảnh hưởng đến hoạt động của cơ sở y tế và quyền tham gia chương trình của anh Khánh.
Hỏi: Hành vi dùng vũ lực cản trở người khác tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế vì định kiến giới bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế không chỉ bảo đảm quyền được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà còn bảo vệ mọi cá nhân khỏi các hành vi cản trở, đe dọa hoặc dùng vũ lực vì định kiến giới. Việc tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe là quyền của mọi công dân và cần được tôn trọng, bảo vệ theo quy định của pháp luật. Theo khoản 4, 6, 7 Điều 12 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định:
"4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực cản trở người khác tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế vì định kiến giới.
6. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này.
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều này;
c) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 3 và khoản 4 Điều này trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho người bị xâm phạm."
Trong tình huống trên, ông Phạm Văn Dũng đã sử dụng vũ lực để ngăn cản anh Lê Quốc Khánh tham gia lớp học về chăm sóc sức khỏe sinh sản chỉ vì quan niệm sai lệch rằng đây là công việc của phụ nữ. Hành vi này xâm phạm quyền được tiếp cận thông tin, kiến thức về chăm sóc sức khỏe của công dân và gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người bị hại. Theo quy định, ông Dũng có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Trường hợp có tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm thì có thể bị tịch thu theo quy định. Đồng thời, ông Dũng phải khôi phục quyền lợi hợp pháp của anh Khánh, bảo đảm anh được tiếp tục tham gia chương trình truyền thông về chăm sóc sức khỏe. Nếu hành vi gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tinh thần, ông Dũng còn phải chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý cho anh Khánh.
Tình huống 59. Không cho vợ bán hàng để có thu nhập vì "phụ nữ chỉ nên ở nhà" có bị xử lý không?
Gia đình ông Nguyễn Văn Hòa có cửa hàng tạp hóa nhỏ. Sau nhiều năm chăm sóc con cái, bà Trần Thị Lan muốn mở thêm quầy bán nông sản tại chợ để tăng thu nhập cho gia đình. Bà đã tìm được nguồn hàng ổn định và được Ban quản lý chợ đồng ý bố trí điểm bán. Tuy nhiên, ông Hòa kiên quyết phản đối với lý do: "Phụ nữ chỉ nên ở nhà lo cơm nước, kiếm tiền là việc của đàn ông." Ông nhiều lần giữ giấy tờ cá nhân, không cho bà Lan sử dụng tiền của gia đình để nhập hàng, đồng thời cấm bà ra chợ kinh doanh.
Việc bị ngăn cản khiến bà Lan không thể thực hiện hoạt động tạo thu nhập mặc dù hoàn toàn có đủ điều kiện.
Hỏi: Hành vi cản trở thành viên trong gia đình thực hiện hoạt động tạo thu nhập vì lý do giới tính bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Mọi thành viên trong gia đình đều có quyền bình đẳng trong lao động và tạo thu nhập. Không ai được cản trở quyền này chỉ vì định kiến giới.
Theo điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Cản trở hoặc không cho thành viên trong gia đình thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì lý do giới tính."
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu);
c) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều này."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn Hòa đã ngăn cản bà Trần Thị Lan tham gia hoạt động tạo thu nhập chỉ vì cho rằng phụ nữ không nên làm kinh tế. Đây là hành vi cản trở thành viên trong gia đình thực hiện hoạt động tạo thu nhập vì lý do giới tính. Theo quy định, ông Hòa có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; đồng thời phải xin lỗi công khai bà Lan (trừ trường hợp bà Lan có đơn không yêu cầu) và khôi phục quyền lợi hợp pháp của bà, tạo điều kiện để bà được thực hiện hoạt động kinh doanh theo quy định.
Tình huống 60. Ngăn cản vợ quyết định tài sản chung bằng cách đe dọa
Vợ chồng ông Nguyễn Quốc Hùng có một thửa đất là tài sản chung của hộ gia đình. Khi gia đình có nhu cầu bán đất để lấy tiền chữa bệnh cho mẹ, bà Phạm Thị Hương đề nghị cùng tham gia ký kết hợp đồng chuyển nhượng theo quy định.
Ông Hùng không đồng ý và lớn tiếng đe dọa: "Nếu cô dám ký giấy tờ thì đừng trách tôi." Đồng thời, ông còn nhiều lần nhắn tin đe dọa, gây áp lực tinh thần buộc bà Hương từ bỏ quyền tham gia quyết định đối với tài sản chung.
Hỏi: Hành vi của ông Hùng có bị xử phạt theo quy định của pháp luật hay không?
Trả lời: Nam và nữ có quyền bình đẳng trong việc quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản chung của gia đình. Mọi hành vi đe dọa, uy hiếp hoặc cản trở thành viên trong gia đình thực hiện quyền hợp pháp của mình vì lý do giới tính đều có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Theo điểm a khoản 2 Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định:
"2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính."
Theo điểm a, b và c khoản 5 Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định về biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
“a) Buộc xin lỗi công khai người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không yêu cầu);
b) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho người bị xâm phạm;
c) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều này."
Trong tình huống trên, bà Hương có đầy đủ quyền tham gia định đoạt tài sản chung của hộ gia đình theo quy định của pháp luật. Việc ông Hùng sử dụng lời nói đe dọa, uy hiếp tinh thần để buộc bà từ bỏ quyền này chỉ vì cho rằng "đàn ông mới có quyền quyết định tài sản" là hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.
Ông Hùng có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng; đồng thời buộc xin lỗi công khai, khôi phục quyền lợi hợp pháp của bà Hương và phải chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý nếu hành vi đe dọa gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của bà.
Tình huống 61: Tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án
Tháng 8/2026, Tòa án nhân dân có thẩm quyền ban hành bản án buộc ông Nguyễn Văn Hùng phải thanh toán cho bà Trần Thị Mai số tiền 2 tỷ đồng theo hợp đồng vay tài sản. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Chi cục Thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án và tiến hành xác minh điều kiện thi hành án.
Qua xác minh, Chấp hành viên xác định ông Hùng đang sở hữu một căn nhà, một xe ô tô và một thửa đất đứng tên mình. Khi được thông báo về việc cơ quan thi hành án sẽ tiến hành kê biên tài sản nếu không tự nguyện thi hành án, ông Hùng đã nhanh chóng làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con trai và chuyển nhượng chiếc xe ô tô cho em gái với mục đích tránh bị kê biên.
Qua xác minh, cơ quan thi hành án xác định các giao dịch trên được thực hiện sau khi bản án có hiệu lực và nhằm mục đích tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
Hỏi: Hành vi của ông Nguyễn Văn Hùng bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời: Theo điểm a khoản 5 và điểm a khoản 8 Điều 65 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 của Chính phủ quy định:
"5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản;
8. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4, điểm a và điểm b khoản 5 Điều này."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn Hùng biết rõ mình có nghĩa vụ thi hành án nhưng vẫn thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản cho người thân nhằm tránh việc kê biên của cơ quan thi hành án. Đây là hành vi tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Theo quy định, ông Hùng có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, ông Hùng còn bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với tài sản đã tẩu tán để bảo đảm việc tổ chức thi hành án theo quy định.
Qua tình huống trên cho thấy, mọi hành vi chuyển nhượng, tặng cho hoặc che giấu tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án đều là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm.
Tình huống 62: Cố tình không kê khai đầy đủ tài sản khi cơ quan thi hành án yêu cầu
Ông Phạm Văn Quân là người phải thi hành án theo bản án của Tòa án với số tiền hơn 600 triệu đồng. Sau khi ra quyết định thi hành án, Chấp hành viên nhiều lần yêu cầu ông Quân kê khai toàn bộ tài sản, thu nhập và điều kiện thi hành án. Trong bản kê khai gửi cơ quan thi hành án, ông Quân chỉ khai một chiếc xe máy cũ và cho rằng bản thân không còn tài sản nào khác.
Tuy nhiên, qua xác minh tại cơ quan đăng ký đất đai và ngân hàng, Chấp hành viên phát hiện ông Quân còn đứng tên một thửa đất và có hai sổ tiết kiệm với số dư hàng trăm triệu đồng nhưng cố tình không kê khai.
Hỏi: Ông Phạm Văn Quân có bị xử phạt vi phạm hành chính hay không?
Trả lời: Theo điểm c khoản 2 Điều 65 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 của Chính phủ quy định:
"2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
c) Không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, không chính xác tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khi người có thẩm quyền thi hành án yêu cầu;”
Trong tình huống trên, mặc dù được yêu cầu kê khai trung thực về tài sản và điều kiện thi hành án, ông Quân đã cố tình che giấu tài sản của mình nhằm gây khó khăn cho việc tổ chức thi hành án. Hành vi này thuộc trường hợp kê khai không đầy đủ, không chính xác tài sản, thu nhập và điều kiện thi hành án theo quy định của pháp luật. Ông Quân có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Qua tình huống trên cho thấy, việc kê khai trung thực tài sản là nghĩa vụ của người phải thi hành án. Mọi hành vi che giấu, khai báo không đúng sự thật đều có thể bị xử phạt vi phạm hành chính và làm kéo dài thời gian giải quyết vụ việc.
Tình huống 63: Tự ý phá niêm phong tài sản đã bị kê biên
Để bảo đảm thi hành bản án về tranh chấp hợp đồng kinh tế, Chi cục Thi hành án dân sự đã tiến hành kê biên và niêm phong toàn bộ hệ thống máy cắt, máy ép gỗ tại xưởng sản xuất của Công ty TNHH Minh Phát.
Một tuần sau, lợi dụng thời điểm không có lực lượng chức năng, Giám đốc công ty là ông Lê Văn Thành đã chỉ đạo nhân viên cắt bỏ niêm phong, đưa hai máy cắt gỗ ra ngoài bán cho một cơ sở khác nhằm lấy tiền trả nợ ngân hàng.
Khi Chấp hành viên quay lại kiểm tra, phát hiện niêm phong đã bị phá và tài sản kê biên không còn nguyên trạng.
Hỏi: Hành vi của ông Lê Văn Thành bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Sau khi tài sản đã bị kê biên và niêm phong, người phải thi hành án và các tổ chức, cá nhân có liên quan phải có trách nhiệm bảo quản, không được tự ý tháo dỡ, phá hủy hoặc làm thay đổi hiện trạng tài sản. Mọi hành vi cản trở hoạt động thi hành án dân sự đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Theo điểm b khoản 4 Điều 65 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 của Chính phủ quy định:
"4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
b) Phá hủy niêm phong tài sản đã kê biên;”
Trong tình huống trên, tài sản đã được cơ quan thi hành án kê biên và niêm phong hợp pháp. Việc ông Lê Văn Thành tự ý chỉ đạo phá niêm phong để đưa tài sản ra khỏi nơi bảo quản đã trực tiếp xâm phạm hoạt động thi hành án dân sự. Đây là hành vi phá hủy niêm phong tài sản đã kê biên và có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo quy định.
Trường hợp việc phá niêm phong còn dẫn đến việc tẩu tán, hủy hoại hoặc chuyển nhượng tài sản đã kê biên thì tùy tính chất, mức độ vi phạm, người vi phạm còn có thể bị xử lý đối với các hành vi tương ứng hoặc bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Tình huống 64: Tiết lộ thông tin để người phải thi hành án rút tiền khỏi tài khoản
Công ty Cổ phần Hoàng Gia là bên phải thi hành án theo bản án của Tòa án với số tiền hơn 5 tỷ đồng. Qua xác minh, Chấp hành viên phát hiện doanh nghiệp này có số dư lớn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần A nên đã ban hành quyết định phong tỏa tài khoản để bảo đảm thi hành án.
Trước thời điểm quyết định phong tỏa được thực hiện, bà Nguyễn Thị Lan là nhân viên ngân hàng được giao tiếp nhận văn bản đã gọi điện thông báo cho Giám đốc Công ty Hoàng Gia biết tài khoản sắp bị phong tỏa. Ngay trong chiều hôm đó, doanh nghiệp đã chuyển toàn bộ số tiền sang một tài khoản khác tại ngân hàng khác.
Khi quyết định phong tỏa được thực hiện, tài khoản không còn số dư, khiến việc thi hành án gặp nhiều khó khăn, quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Hỏi: Bà Nguyễn Thị Lan có bị xử lý vi phạm hành chính không?
Trả lời: Mọi thông tin liên quan đến việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án phải được quản lý chặt chẽ. Cá nhân lợi dụng vị trí công tác để tiết lộ thông tin cho người phải thi hành án nhằm giúp họ tẩu tán tài sản không chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính mà tùy tính chất, mức độ còn có thể bị xem xét trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Theo điểm g khoản 5 Điều 65 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 của Chính phủ quy định:
"5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
g) Tiết lộ thông tin để người phải thi hành án chuyển, rút tiền khỏi tài khoản làm ảnh hưởng đến quá trình thi hành án."
Trong tình huống trên, bà Nguyễn Thị Lan biết rõ cơ quan thi hành án đang thực hiện thủ tục phong tỏa tài khoản để bảo đảm thi hành bản án nhưng vẫn cố ý thông báo trước cho người phải thi hành án. Hành vi này đã tạo điều kiện để doanh nghiệp chuyển toàn bộ tiền khỏi tài khoản, gây cản trở hoạt động thi hành án và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người được thi hành án.
Đây là hành vi "tiết lộ thông tin để người phải thi hành án chuyển, rút tiền khỏi tài khoản làm ảnh hưởng đến quá trình thi hành án". Theo quy định, bà Nguyễn Thị Lan có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Tình huống 65: Không chấp hành quyết định phong tỏa tài khoản của cơ quan thi hành án
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố X đang tổ chức thi hành bản án buộc Công ty TNHH Minh Phúc thanh toán cho đối tác số tiền hơn 12 tỷ đồng. Qua xác minh, Chấp hành viên xác định doanh nghiệp đang có hơn 8 tỷ đồng trong tài khoản mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần B.
Ngày 15/9/2026, Chấp hành viên đã ban hành quyết định phong tỏa tài khoản và gửi trực tiếp đến Ngân hàng B theo đúng quy định của pháp luật.
Mặc dù đã tiếp nhận đầy đủ quyết định và biết rõ nghĩa vụ phải thực hiện ngay, nhưng vì muốn giữ quan hệ với khách hàng lớn, ông Trần Quốc Dũng - Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng B đã chỉ đạo cấp dưới tạm thời chưa phong tỏa tài khoản, tạo điều kiện để Công ty Minh Phúc chuyển toàn bộ số tiền sang ngân hàng khác.
Khi cơ quan thi hành án kiểm tra việc thực hiện quyết định, tài khoản của công ty không còn số dư, khiến việc thi hành án bị đình trệ và người được thi hành án không thu hồi được khoản tiền theo bản án.
Hỏi: Việc Ngân hàng B không thực hiện quyết định phong tỏa tài khoản của cơ quan thi hành án bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Các tổ chức tín dụng và tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm nghiêm túc chấp hành các quyết định của cơ quan thi hành án dân sự. Việc chậm trễ hoặc cố tình không thực hiện quyết định phong tỏa tài khoản không chỉ làm ảnh hưởng đến hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án mà còn xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án và sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 7 Điều 65 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 của Chính phủ quy định:
"7. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc phong tỏa tài khoản, tài sản của người phải thi hành án."
Trong tình huống trên, Ngân hàng B đã nhận được quyết định phong tỏa tài khoản của người có thẩm quyền thi hành án nhưng không thực hiện theo quy định, tạo điều kiện cho người phải thi hành án chuyển toàn bộ tiền khỏi tài khoản. Hành vi này làm mất hiệu quả của biện pháp bảo đảm thi hành án, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.
Theo quy định, hành vi không thực hiện quyết định phong tỏa tài khoản của người có thẩm quyền thi hành án có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như của cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Như vậy, Ngân hàng B có thể bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.
Tình huống 66: Chậm ban hành hoặc ban hành không đầy đủ nội dung Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí bị xử phạt như thế nào?
Trong đợt kiểm tra công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí năm 2025 tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn, Đoàn kiểm tra phát hiện nhiều đơn vị chưa thực hiện đúng quy định về xây dựng Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí.
Cụ thể:
- Tại Cơ quan A, mặc dù pháp luật quy định hằng năm phải ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí đúng thời hạn, nhưng đơn vị này chỉ ban hành Chương trình sau thời hạn quy định 20 ngày.
- Tại Cơ quan B, Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí được ban hành đúng thời hạn, tuy nhiên qua kiểm tra, Đoàn kiểm tra xác định Chương trình không bảo đảm đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật, thiếu các chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện.
- Tại Cơ quan C, Đoàn kiểm tra xác định trong cả năm 2025 đơn vị không ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí mặc dù thuộc đối tượng phải xây dựng theo quy định.
Hỏi: Các hành vi nêu trên bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Khoản 1, 2, 3 Điều 5 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 của Chính phủ quy định:
1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi chậm ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí so với thời hạn quy định dưới 30 ngày.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí không đảm bảo đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật.
3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí hoặc ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định từ 30 ngày trở lên.
Trên đây là mức phạt tiền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Như vậy, các cơ quan trên có thể bị xử lý như sau:
- Đối với Cơ quan A: ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí chậm 20 ngày so với thời hạn quy định, có thể bị phạt cảnh cáo.
- Đối với Cơ quan B: ban hành Chương trình nhưng nội dung không đầy đủ theo quy định, có thể bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
- Đối với Cơ quan C: không ban hành Chương trình hoặc ban hành chậm từ 30 ngày trở lên, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Ngoài ra, khoản 4 Điều 5 quy định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng quy định đối với hành vi trên.
Như vậy, các cơ quan, tổ chức, đơn vị cần chủ động xây dựng và ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí đúng thời hạn, bảo đảm đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật. Việc không ban hành, ban hành chậm hoặc ban hành chương trình không đầy đủ nội dung không chỉ ảnh hưởng đến công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí mà còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tình huống 67: Tổ chức thực hiện không đúng tiến độ nhiệm vụ tiết kiệm, chống lãng phí bị xử phạt như thế nào?
Thực hiện Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí đã được ban hành, một cơ quan nhà nước đề ra nhiệm vụ hoàn thành việc rà soát, sắp xếp và sử dụng hiệu quả tài sản công trong thời hạn 06 tháng.
Tuy nhiên, mặc dù đã đến thời hạn phải hoàn thành, cơ quan này không thực hiện đúng tiến độ đã đề ra. Việc triển khai nhiệm vụ bị chậm trễ kéo dài mà không có lý do chính đáng, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu, yêu cầu về tiết kiệm, chống lãng phí đã được ban hành.
Hỏi: Hành vi tổ chức thực hiện không đúng tiến độ nhiệm vụ tiết kiệm, chống lãng phí bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 của Chính phủ quy định: “1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi tổ chức thực hiện không đúng tiến độ các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí.
Trong trường hợp này, cơ quan nhà nước đã được giao nhiệm vụ rà soát, sắp xếp và sử dụng hiệu quả tài sản công trong thời hạn 06 tháng. Tuy nhiên, đến thời hạn phải hoàn thành, cơ quan mới chỉ thực hiện một phần công việc và không hoàn thành đúng tiến độ đã đề ra.
Như vậy, hành vi của cơ quan này là tổ chức thực hiện không đúng tiến độ nhiệm vụ tiết kiệm, chống lãng phí đã được ban hành. Đây là hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP và bị phạt cảnh cáo.
Tình huống 68: Không tổ chức thực hiện hoặc không phân công trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ tiết kiệm, chống lãng phí bị xử phạt như thế nào?
Thực hiện Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí đã được ban hành, Cơ quan X xác định nhiều nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản công.
Tuy nhiên, sau khi Chương trình được ban hành, Cơ quan X không tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí đã đề ra. Đồng thời, Cơ quan X cũng không phân công trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị, bộ phận, cá nhân có liên quan để tổ chức thực hiện.
Hỏi: Hành vi của Cơ quan X có vi phạm pháp luật không? Có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Khoản 3 Điều 6 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 của Chính phủ quy định:
“3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí;
b) Không phân công trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí.”
Trong tình huống trên, Cơ quan X đã không tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí đã được ban hành. Đồng thời, Cơ quan X cũng không phân công trách nhiệm cho các đơn vị, bộ phận, cá nhân có liên quan để tổ chức thực hiện.
Trên đây là mức phạt tiền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Như vậy, hành vi của Cơ quan X thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP và bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Tình huống 69: Báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí chậm dưới 15 ngày bị xử phạt như thế nào?
Sở M có trách nhiệm báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí trong thời hạn nhất định. Tuy nhiên, do chậm tổng hợp số liệu và hoàn thiện báo cáo, Sở M đã gửi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí chậm 10 ngày so với thời hạn quy định.
Hỏi: Hành vi của Sở M có vi phạm pháp luật không? Bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 của Chính phủ quy định:
“1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định dưới 15 ngày.”
Trong tình huống trên, Sở M có trách nhiệm báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí đúng thời hạn. Tuy nhiên, Sở M đã gửi báo cáo chậm 10 ngày so với thời hạn quy định. Như vậy, hành vi của Sở M là báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định dưới 15 ngày, thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP. Do đó, Sở M có thể bị phạt cảnh cáo.
Qua tình huống trên, các cơ quan, tổ chức, đơn vị cần chủ động tổng hợp số liệu, xây dựng và gửi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí đúng thời hạn quy định, bảo đảm công tác theo dõi, đánh giá và quản lý nhà nước về tiết kiệm, chống lãng phí được thực hiện kịp thời, đầy đủ.
Tình huống 70: Chậm báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí bị xử phạt như thế nào?
Cuối năm 2026, Ủy ban nhân dân xã Hòa Bình được yêu cầu tổng hợp và gửi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí theo thời hạn quy định. Đây là báo cáo quan trọng để cơ quan cấp trên tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện công tác tiết kiệm, chống lãng phí của các cơ quan, đơn vị trong năm.
Do các bộ phận chuyên môn gửi số liệu không đúng thời hạn, đồng thời công chức được giao tổng hợp báo cáo không chủ động đôn đốc, Ủy ban nhân dân xã Hòa Bình đã không gửi báo cáo đúng thời hạn. Sau khi nhận được văn bản nhắc nhở của cơ quan cấp trên, Ủy ban nhân dân xã mới hoàn thiện và gửi báo cáo, chậm 20 ngày so với thời hạn quy định.
Tại địa phương khác, Ủy ban nhân dân xã Bình Minh mặc dù đã được yêu cầu thực hiện báo cáo nhưng không gửi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí.
Trong khi đó, Ủy ban nhân dân xã Tân Phú chỉ gửi báo cáo sau khi đã chậm 35 ngày so với thời hạn quy định.
Hỏi: Trong tình huống trên, Ủy ban nhân dân các xã đã vi phạm những quy định nào về báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí? Các hành vi đó có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 của Chính phủ quy định:
“2. Phạt tiền đối với hành vi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí không đúng thời hạn quy định:
a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định từ 15 ngày đến dưới 30 ngày;
b) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí hoặc báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định từ 30 ngày trở lên.”
Trên đây là mức phạt tiền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
- Đối với Ủy ban nhân dân xã Hòa Bình: Việc chậm gửi báo cáo 20 ngày thuộc trường hợp báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí chậm từ 15 ngày đến dưới 30 ngày. Do đó, Ủy ban nhân dân xã Hòa Bình có thể bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
- Đối với Ủy ban nhân dân xã Bình Minh: Việc không thực hiện báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7. Do đó, Ủy ban nhân dân xã Bình Minh có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Đối với Ủy ban nhân dân xã Tân Phú: Việc gửi báo cáo chậm 35 ngày thuộc trường hợp báo cáo chậm so với thời hạn quy định từ 30 ngày trở lên. Do đó, Ủy ban nhân dân xã Tân Phú có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Ngoài ra, Ủy ban nhân dân xã Tân Phú và xã Bình Minh còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng quy định.
Tình huống 71: Báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí không đầy đủ nội dung bị xử phạt như thế nào?
Cuối năm 2026, UBND xã Xuân Hòa được giao tổng hợp và báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định. Do bộ phận chuyên môn không rà soát đầy đủ các yêu cầu về nội dung báo cáo, báo cáo được gửi đi chỉ phản ánh một số kết quả chung, thiếu nhiều nội dung và số liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.
Sau khi tiếp nhận, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và yêu cầu UBND xã Xuân Hòa giải trình về những nội dung còn thiếu.
Hỏi: Hành vi của UBND xã Xuân Hòa có vi phạm pháp luật không và bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 của Chính phủ:
“3. Phạt tiền đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí không đảm bảo đầy đủ nội dung, yêu cầu theo quy định của pháp luật;
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng quy định đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này;”
Trên đây là mức phạt tiền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
UBND xã Xuân Hòa đã gửi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí nhưng báo cáo không bảo đảm đầy đủ nội dung, yêu cầu theo quy định của pháp luật. Đây là hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 Điều 7 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP. Do đó, UBND xã Xuân Hòa có thể bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và bị buộc báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng quy định.
Qua tình huống trên, các cơ quan, tổ chức, đơn vị cần chủ động nghiên cứu đầy đủ yêu cầu về nội dung báo cáo, tổ chức tổng hợp đầy đủ các nội dung, số liệu trước khi gửi báo cáo, tránh tình trạng báo cáo sơ sài, thiếu thông tin làm ảnh hưởng đến công tác tổng hợp, đánh giá kết quả tiết kiệm, chống lãng phí.
Tình huống 72: Cố ý báo cáo không chính xác, không trung thực về kết quả tiết kiệm, chống lãng phí bị xử phạt như thế nào?
Cuối năm 2026, Cơ quan Y tổ chức tổng kết công tác tiết kiệm, chống lãng phí. Theo chỉ tiêu được giao, trong năm, Cơ quan Y phải thực hiện tiết kiệm 800 triệu đồng.
Khi tổng hợp kết quả, bộ phận chuyên môn xác định số tiền thực tế Cơ quan Y tiết kiệm được chỉ là 500 triệu đồng, thấp hơn chỉ tiêu đề ra. Một số cán bộ cho rằng nếu báo cáo đúng số liệu thực tế, kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí của Cơ quan Y sẽ bị đánh giá không đạt yêu cầu.
Vì muốn báo cáo kết quả của đơn vị “đẹp” hơn, ông Phạm Văn Quang là Giám đốc của cơ quan đã điều chỉnh số liệu trong báo cáo, nâng số tiền tiết kiệm thực tế từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng. Báo cáo sau đó được gửi đến cơ quan có thẩm quyền.
Trong quá trình kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền tiến hành đối chiếu số liệu báo cáo với chứng từ kế toán, sổ sách và hồ sơ liên quan. Kết quả cho thấy số tiền tiết kiệm thực tế chỉ là 500 triệu đồng, không phải 1 tỷ đồng như báo cáo của Cơ quan Y.
Hỏi: Hành vi của ông Phạm Văn Quang bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí phải bảo đảm chính xác, trung thực và phản ánh đúng kết quả thực tế. Việc cố ý “làm đẹp” số liệu, thổi phồng kết quả tiết kiệm để đạt thành tích hoặc tránh bị đánh giá không đạt yêu cầu là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Theo điểm b khoản 3 và điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 của Chính phủ:
“3. Phạt tiền đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cố ý báo cáo không chính xác, không trung thực về kết quả, số liệu liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí.”
“4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc cải chính thông tin báo cáo về kết quả, số liệu liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 3 Điều này”
Trong tình huống trên, ông Phạm Văn Quang biết rõ số tiền tiết kiệm thực tế chỉ là 500 triệu đồng nhưng vẫn cố ý điều chỉnh, báo cáo số tiền tiết kiệm là 1 tỷ đồng nhằm làm cho kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí của đơn vị tốt hơn thực tế. Như vậy, ông Phạm Văn Quang có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và bị buộc cải chính thông tin báo cáo về kết quả, số liệu liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí.
Tình huống 73: Không cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu khi kiểm tra tiết kiệm, chống lãng phí
UBND xã A được cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra việc chấp hành và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí.
Trước khi tiến hành kiểm tra, đoàn kiểm tra đã gửi văn bản yêu cầu UBND xã A chuẩn bị và cung cấp các hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản công trong thời kỳ kiểm tra.
Tuy nhiên, khi đoàn kiểm tra làm việc, UBND xã A chỉ cung cấp một phần hồ sơ. Một số tài liệu được yêu cầu không được cung cấp, một số tài liệu cung cấp không đầy đủ và có số liệu chưa thống nhất với các hồ sơ liên quan. Mặc dù đoàn kiểm tra đã yêu cầu bổ sung, làm rõ nhưng UBND xã A vẫn chậm cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng.
Hỏi: Hành vi này bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 của Chính phủ:
“Điều 10. Cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong kiểm tra việc chấp hành, tổ chức thực hiện quy định pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
1. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây.
a) Không cung cấp hoặc cung cấp hồ sơ, tài liệu không đầy đủ, kịp thời, chính xác theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra;
2. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc cung cấp đầy đủ, chính xác hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;”
Trên đây là mức phạt tiền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Trong tình huống trên, UBND xã A đã được cơ quan kiểm tra yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu phục vụ hoạt động kiểm tra. Tuy nhiên, UBND xã A không cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các tài liệu theo yêu cầu. Việc cung cấp hồ sơ, tài liệu không đầy đủ hoặc chậm trễ có thể khiến đoàn kiểm tra không có đủ căn cứ để xác định chính xác tình hình quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản và các nguồn lực khác; đồng thời gây khó khăn cho việc phát hiện, đánh giá và xử lý các hành vi lãng phí nếu có.
Do đó, hành vi của UBND xã A thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 10 và có thể bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Ngoài hình thức xử phạt, UBND xã A còn bị buộc cung cấp đầy đủ, chính xác hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra.
Tình huống 74: Không chấp hành đầy đủ kết luận kiểm tra về tiết kiệm, chống lãng phí bị xử lý như thế nào?
Sau khi kiểm tra công tác quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản công tại Trung tâm Đ, cơ quan có thẩm quyền ban hành kết luận kiểm tra.
Kết luận yêu cầu Trung tâm Đ thực hiện một số nội dung, trong đó có việc rà soát lại một số khoản chi, khắc phục những tồn tại trong quản lý tài sản công và báo cáo kết quả thực hiện trong thời hạn nhất định.
Tuy nhiên, sau khi nhận được kết luận, Trung tâm Đ chỉ thực hiện một phần nội dung. Một số yêu cầu quan trọng không được thực hiện, một số nội dung được thực hiện không đầy đủ. Mặc dù đã hết thời hạn, Trung tâm Đ vẫn chưa hoàn thành các yêu cầu trong kết luận kiểm tra.
Hỏi: Hành vi của Trung tâm Đ có vi phạm pháp luật không và bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo điểm c khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP:
“Điều 10. Cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong kiểm tra việc chấp hành, tổ chức thực hiện quy định pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
1. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây.
c) Không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ quyết định, yêu cầu, kết luận kiểm tra;
2. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc chấp hành đầy đủ quyết định, yêu cầu, kết luận kiểm tra đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.”
Trên đây là mức phạt tiền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Kết luận kiểm tra là cơ sở để yêu cầu cơ quan, tổ chức được kiểm tra khắc phục những tồn tại, hạn chế và thực hiện các yêu cầu đã được xác định sau kiểm tra. Trong tình huống trên, Trung tâm Đ chỉ thực hiện một phần kết luận kiểm tra, bỏ sót một số nội dung phải thực hiện. Như vậy, Trung tâm Đ có thể bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Đồng thời, Trung tâm Đ còn bị buộc chấp hành đầy đủ quyết định, yêu cầu, kết luận kiểm tra theo quy định.
Qua tình huống trên cho thấy, việc kiểm tra không kết thúc khi đoàn kiểm tra ban hành kết luận. Các cơ quan, tổ chức được kiểm tra có trách nhiệm nghiêm túc thực hiện đầy đủ các yêu cầu, kiến nghị và kết luận đã được ban hành. Việc chỉ thực hiện một phần hoặc lựa chọn thực hiện những nội dung thuận lợi, bỏ qua những nội dung còn lại không được coi là chấp hành đầy đủ kết luận kiểm tra.
Tình huống 75: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Trong quá trình thực hiện kế hoạch kiểm tra công tác tiết kiệm, chống lãng phí trên địa bàn, đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra Sở H.
Qua kiểm tra, đoàn kiểm tra phát hiện Sở H có nhiều thiếu sót, vi phạm trong việc tổ chức thực hiện công tác tiết kiệm, chống lãng phí. Căn cứ vào tính chất, mức độ của từng hành vi, tổng mức phạt tiền dự kiến đối với các hành vi vi phạm không quá 15.000.000 đồng. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng đoàn kiểm tra không có quyền xử phạt và đề nghị chuyển toàn bộ vụ việc lên cơ quan cấp Trung ương vì cho rằng các hành vi vi phạm liên quan đến việc quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản công.
Hỏi: Trong trường hợp này, ai có thẩm quyền xử phạt Sở H? Người có thẩm quyền xử phạt có thể áp dụng những biện pháp nào để buộc Sở H khắc phục các vi phạm?
Trả lời: Điều 13 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 của Chính phủ quy định:
Điều 13. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:
1. Phạt cảnh cáo.
2. Phạt tiền đến 15.000.000 đồng.
3. Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định này.”
Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP quy định các biện pháp khắc phục hậu quả, cụ thể như sau:
“5. Các biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng quy định;
b) Buộc báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng quy định;
c) Buộc cải chính thông tin báo cáo về kết quả, số liệu liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí;
d) Buộc cập nhật thông tin, dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí;
đ) Buộc cập nhật lại dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí;
e) Buộc công khai về tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng quy định;
g) Buộc cải chính nội dung công khai về tiết kiệm, chống lãng phí;
h) Buộc cung cấp đầy đủ, chính xác hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra;
i) Buộc chấp hành đầy đủ quyết định, yêu cầu, kết luận kiểm tra.”
Với mức phạt tiền thuộc phạm vi đến 15.000.000 đồng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 13 Nghị định số 265/2026/NĐ-CP. Do đó, có ý kiến cho rằng mọi vi phạm liên quan đến ngân sách và tài sản công đều phải chuyển lên cơ quan Trung ương là không có cơ sở. Thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào quy định về thẩm quyền xử phạt của Nghị định, trong đó có mức tiền phạt và loại biện pháp khắc phục hậu quả mà người có thẩm quyền được áp dụng.
Qua tình huống trên cho thấy, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí không chỉ nhằm xác định và xử lý hành vi vi phạm bằng một khoản tiền phạt. Quan trọng hơn, người có thẩm quyền còn phải áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc cơ quan, tổ chức vi phạm khắc phục những tồn tại, hoàn thành nghĩa vụ bị bỏ sót và đưa hoạt động quản lý, sử dụng các nguồn lực trở lại đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, khi xác định thẩm quyền xử phạt, cần đồng thời xem xét hành vi vi phạm, mức phạt tiền, loại biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền cụ thể của người ra quyết định xử phạt; không chỉ căn cứ vào lĩnh vực quản lý hoặc giá trị tài sản, ngân sách có liên quan.
Tình huống 76. Điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng chở hàng hóa có thu tiền
Anh Minh là chủ sở hữu xe ô tô tải 1,5 tấn, đăng ký sử dụng để phục vụ nhu cầu cá nhân và không đăng ký kinh doanh vận tải hàng hóa. Thông qua mạng xã hội, anh Minh nhận vận chuyển đồ nội thất từ thành phố Thái Nguyên đến thành phố Bắc Ninh và thỏa thuận thu 2.500.000 đồng tiền cước vận chuyển. Trong quá trình kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định anh Minh điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng đã nhận chở hàng hóa và thu tiền từ khách hàng.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Minh bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm e khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"“8. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:”
e) Điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng chở hàng hóa trên xe có thu tiền."
Trong tình huống trên, xe ô tô do anh Minh điều khiển không được sử dụng để kinh doanh vận tải hàng hóa. Tuy nhiên, anh Minh đã nhận vận chuyển bộ bàn ghế cho người khác và thỏa thuận thu 2.500.000 đồng tiền vận chuyển. Việc anh Minh sử dụng xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa để chở hàng cho khách và thu tiền đã thể hiện đầy đủ dấu hiệu của hành vi điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng chở hàng hóa trên xe có thu tiền.
Do đó, hành vi của anh Minh thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Minh bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng.
Tình huống 77. Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách
Anh Hùng điều khiển xe khách 29 chỗ chạy tuyến cố định Thái Nguyên - Hà Nội. Trong quá trình kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện phương tiện không được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách mặc dù đây là loại xe thuộc đối tượng bắt buộc phải lắp theo quy định.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Hùng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm k khoản 7 Điều 26 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"7. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức kinh doanh vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
k) Sử dụng xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu trên xe trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách trên xe ô tô;"
Trong tình huống trên, xe do anh Hùng điều khiển là xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách 29 chỗ, thuộc đối tượng phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định. Tuy nhiên, phương tiện không được lắp thiết bị này khi tham gia giao thông. Hành vi của anh Hùng thuộc trường hợp sử dụng xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định.
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Hùng bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Tình huống 78. Điều khiển xe có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu
Anh Tuấn điều khiển xe khách 16 chỗ kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định Hà Nội - Lào Cai. Xe đã được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định, tuy nhiên trong quá trình hoạt động, thiết bị bị hỏng bộ nhớ nên không ghi và không lưu trữ được dữ liệu hình ảnh trên xe. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định thiết bị không đáp ứng yêu cầu ghi, lưu trữ dữ liệu theo quy định và lập biên bản vi phạm.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Tuấn bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm k khoản 7 Điều 26 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"7. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức kinh doanh vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
k) Sử dụng xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu trên xe trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách trên xe ô tô;"
Trong tình huống trên, xe khách do anh Tuấn điều khiển đã được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách. Tuy nhiên, thiết bị không ghi và không lưu trữ được dữ liệu trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định. Vì vậy, phương tiện không đáp ứng yêu cầu về hoạt động của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách. Hành vi của anh Tuấn thuộc trường hợp có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu trên xe trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định.
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Tuấn bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Tình huống 79. Làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách trên xe ô tô
Anh Minh là lái xe của Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Long, được giao điều khiển xe khách 34 chỗ chạy tuyến cố định Hải Phòng - Hà Nội. Để che giấu việc đón, trả khách không đúng nơi quy định, anh Minh đã tự ý can thiệp vào thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách làm sai lệch dữ liệu hình ảnh được lưu trữ trên xe. Qua kiểm tra dữ liệu của thiết bị, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện dữ liệu lưu trữ không phản ánh đúng quá trình hoạt động thực tế của phương tiện và xác định dữ liệu đã bị làm sai lệch.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Minh bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm k khoản 7 Điều 26 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"7. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức kinh doanh vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
k) Sử dụng xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu trên xe trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách trên xe ô tô;"
Trong tình huống trên, xe khách do anh Minh điều khiển đã được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định. Tuy nhiên, anh Minh đã tự ý can thiệp làm sai lệch dữ liệu của thiết bị, khiến dữ liệu hình ảnh được lưu trữ không phản ánh đúng quá trình hoạt động của phương tiện. Hành vi này làm mất giá trị giám sát của thiết bị và thuộc trường hợp làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách trên xe ô tô theo quy định tại điểm k khoản 7 Điều 26 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Minh bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Tình huống 80. Không thực hiện việc cung cấp, cập nhật, truyền dẫn, lưu trữ, quản lý dữ liệu từ thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách
Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Long khai thác tuyến xe khách cố định Hà Nội - Hải Phòng bằng xe ô tô khách 45 chỗ. Mặc dù các xe đều được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định, nhưng để tiết kiệm chi phí, công ty không thực hiện việc truyền dẫn và lưu trữ dữ liệu hình ảnh từ thiết bị về hệ thống quản lý theo quy định. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng xác định dữ liệu từ thiết bị không được cung cấp, cập nhật, truyền dẫn và lưu trữ đầy đủ theo quy định, nên lập biên bản vi phạm đối với đơn vị kinh doanh vận tải.
Hỏi: Trong tình huống trên, Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Long bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm l khoản 7 Điều 26 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức kinh doanh vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
l) Không thực hiện việc cung cấp, cập nhật, truyền dẫn, lưu trữ, quản lý thông tin, dữ liệu thu thập từ thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách lắp trên xe ô tô theo quy định."
Trong tình huống trên, các xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách của Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Long đã được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định. Tuy nhiên, doanh nghiệp không thực hiện việc cung cấp, cập nhật, truyền dẫn và lưu trữ dữ liệu thu thập từ thiết bị theo quy định của pháp luật. Việc không thực hiện đầy đủ các yêu cầu về quản lý dữ liệu làm ảnh hưởng đến công tác giám sát hoạt động kinh doanh vận tải và khả năng kiểm tra, xử lý vi phạm của cơ quan có thẩm quyền.
Do đó, hành vi của Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Long thuộc trường hợp không thực hiện việc cung cấp, cập nhật, truyền dẫn, lưu trữ, quản lý thông tin, dữ liệu thu thập từ thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách lắp trên xe ô tô theo quy định, quy định tại điểm l khoản 7 Điều 26 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, đối chiếu theo quy định, Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Long bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng.
Tình huống 81. Sử dụng xe hợp đồng để bán vé, thu tiền và chạy theo hành trình, lịch trình cố định
Công ty TNHH Vận tải Minh Phát đăng ký kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng bằng xe ô tô 16 chỗ. Công ty ký hợp đồng vận chuyển với một nhóm khách từ thành phố Thái Nguyên đi thành phố Hà Nội vào ngày 20/9/2026.
Tuy nhiên, ngoài những người có tên trong hợp đồng đã ký, công ty tiếp tục đăng thông tin trên mạng xã hội để nhận đặt chỗ của từng hành khách khác. Mỗi hành khách được thu 200.000 đồng và không được bổ sung vào hợp đồng vận tải. Đồng thời, công ty tổ chức cho xe xuất phát hằng ngày vào lúc 06 giờ 30 phút tại một địa điểm cố định, đi theo cùng một hành trình và trả khách tại các điểm đã được ấn định trước. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng xác định công ty đã sử dụng xe kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng để xác nhận đặt chỗ, thu tiền của từng hành khách ngoài hợp đồng đã ký và tổ chức hoạt động theo hành trình, lịch trình cố định.
Hỏi: Trong tình huống trên, Công ty TNHH Vận tải Minh Phát bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm d khoản 8 Điều 26 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“8. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 20.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng đối với tổ chức kinh doanh vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
d) Sử dụng xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng mà xác nhận đặt chỗ cho từng hành khách đi xe ngoài hợp đồng đã ký kết hoặc bán vé, thu tiền ngoài hợp đồng đã ký kết; ấn định hành trình, lịch trình cố định để phục vụ cho nhiều hành khách hoặc nhiều người thuê vận tải khác nhau.”
Trong tình huống trên, Công ty TNHH Vận tải Minh Phát sử dụng xe ô tô đăng ký kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng. Tuy nhiên, ngoài số hành khách thuộc hợp đồng vận tải đã ký, công ty còn nhận đặt chỗ và thu 200.000 đồng của từng hành khách khác mà không đưa những người này vào hợp đồng vận tải.
Bên cạnh đó, công ty còn bố trí xe xuất phát hằng ngày vào một giờ cố định, tại một địa điểm cố định và vận chuyển hành khách theo hành trình, các điểm trả khách đã được xác định trước. Như vậy, phương tiện tuy hoạt động dưới hình thức xe hợp đồng nhưng thực tế được tổ chức tương tự hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định, phục vụ nhiều hành khách khác nhau.
Hành vi của Công ty TNHH Vận tải Minh Phát thuộc các trường hợp: xác nhận đặt chỗ cho từng hành khách đi xe ngoài hợp đồng đã ký kết; thu tiền ngoài hợp đồng đã ký kết; ấn định hành trình, lịch trình cố định để phục vụ nhiều hành khách khác nhau, quy định tại điểm d khoản 8 Điều 26 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP. Như vậy, đối chiếu theo quy định, Công ty TNHH Vận tải Minh Phát là tổ chức kinh doanh vận tải nên bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng.
Tình huống 82. Chở xe được cứu hộ vượt quá khối lượng cho phép chuyên chở của xe cứu hộ
Anh Hùng là lái xe cứu hộ giao thông đường bộ, được điều động đến hỗ trợ một xe tải bị hư hỏng động cơ trên tuyến Quốc lộ 1. Anh Hùng sử dụng xe cứu hộ loại sàn trượt để đưa toàn bộ xe tải bị hư hỏng lên sàn xe và chở về xưởng sửa chữa. Trong quá trình kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định khối lượng của xe tải được chở là 6.500 kg, trong khi khối lượng cho phép chuyên chở của xe cứu hộ được ghi trong Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường chỉ là 5.000 kg. Như vậy, xe cứu hộ đã chở xe được cứu hộ vượt quá 1.500 kg so với khối lượng cho phép chuyên chở.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Hùng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Khoản 3a Điều 29 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“3a. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Điều khiển xe ô tô cứu hộ giao thông đường bộ chở xe được cứu hộ mà vượt quá khối lượng cho phép chuyên chở của xe cứu hộ; kéo theo xe được cứu hộ mà vượt quá khối lượng cho phép kéo theo của xe cứu hộ được ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe;
Trong tình huống trên, anh Hùng điều khiển xe ô tô cứu hộ loại sàn trượt và đưa toàn bộ xe tải bị hư hỏng lên sàn xe để chuyên chở. Đây là trường hợp xe cứu hộ chở xe được cứu hộ, không phải kéo theo xe được cứu hộ.
Khối lượng của xe tải được chở là 6.500 kg, trong khi xe cứu hộ chỉ được phép chuyên chở tối đa 5.000 kg theo Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Như vậy, khối lượng xe được cứu hộ đã vượt quá khối lượng cho phép chuyên chở của xe cứu hộ.
Hành vi của anh Hùng thuộc trường hợp điều khiển xe ô tô cứu hộ giao thông đường bộ chở xe được cứu hộ mà vượt quá khối lượng cho phép chuyên chở của xe cứu hộ, quy định tại điểm a khoản 3a Điều 29 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Hùng bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Đồng thời, căn cứ khoản 4 Điều 29 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 10 Nghị định 238/2026/NĐ-CP, ngoài hình thức xử phạt tiền, anh Hùng bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 83. Kéo theo xe được cứu hộ vượt quá khối lượng cho phép kéo theo của xe cứu hộ
Anh Tuấn điều khiển xe ô tô cứu hộ giao thông đường bộ đến hỗ trợ một xe khách 29 chỗ bị hỏng hệ thống truyền động trên đường cao tốc. Do xe khách không thể tự di chuyển, anh Tuấn sử dụng bộ phận nâng bánh trước của xe cứu hộ để kéo xe khách về cơ sở sửa chữa. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định xe khách được kéo có khối lượng 8.000 kg, trong khi khối lượng cho phép kéo theo của xe cứu hộ được ghi trong Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường chỉ là 6.000 kg.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Tuấn bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Khoản 3a Điều 29 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“3a. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Điều khiển xe ô tô cứu hộ giao thông đường bộ chở xe được cứu hộ mà vượt quá khối lượng cho phép chuyên chở của xe cứu hộ; kéo theo xe được cứu hộ mà vượt quá khối lượng cho phép kéo theo của xe cứu hộ được ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe;
Trong tình huống trên, anh Tuấn không đưa toàn bộ xe khách lên sàn xe cứu hộ mà sử dụng bộ phận nâng bánh để kéo xe khách di chuyển trên đường. Do đó, đây là trường hợp xe cứu hộ kéo theo xe được cứu hộ.
Theo Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, xe cứu hộ chỉ được phép kéo theo phương tiện có khối lượng tối đa 6.000 kg. Tuy nhiên, anh Tuấn đã sử dụng xe cứu hộ để kéo xe khách có khối lượng 8.000 kg, vượt quá 2.000 kg so với khối lượng cho phép kéo theo.
Hành vi của anh Tuấn thuộc trường hợp điều khiển xe ô tô cứu hộ giao thông đường bộ kéo theo xe được cứu hộ mà vượt quá khối lượng cho phép kéo theo của xe cứu hộ được ghi trong Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe, quy định tại điểm a khoản 3a Điều 29 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Tuấn bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Đồng thời, căn cứ khoản 4 Điều 29 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 10 Nghị định 238/2026/NĐ-CP, ngoài hình thức xử phạt tiền, anh Tuấn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 84. Sử dụng xe cứu hộ kéo theo xe không đúng đối tượng được cứu hộ
Anh Minh điều khiển xe ô tô cứu hộ giao thông đường bộ của một cơ sở sửa chữa ô tô. Một khách hàng thuê anh Minh vận chuyển chiếc xe ô tô con mới mua từ đại lý về nhà do chưa muốn trực tiếp điều khiển phương tiện trên đường. Mặc dù chiếc xe ô tô con vẫn hoạt động bình thường, không bị hư hỏng hoặc gặp sự cố, anh Minh vẫn sử dụng bộ phận nâng bánh của xe cứu hộ để kéo chiếc xe này đi trên đường. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định chiếc xe được kéo không phải là phương tiện bị hư hỏng, bị sự cố nên không thuộc đối tượng được xe cứu hộ hỗ trợ di chuyển theo quy định.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Minh bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Khoản 1 Điều 54 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định:
“1. Xe cứu hộ giao thông đường bộ là xe ô tô chuyên dùng có trang bị dụng cụ, thiết bị dùng để cứu hộ, hỗ trợ di chuyển hoặc chuyên chở các phương tiện giao thông đường bộ bị hư hỏng, bị sự cố.”
Khoản 3a Điều 29 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“3a. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Điều khiển xe ô tô cứu hộ giao thông đường bộ kéo theo xe không đúng đối tượng được cứu hộ theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.”
Trong tình huống trên, chiếc xe ô tô con được anh Minh kéo vẫn hoạt động bình thường, không bị hư hỏng hoặc gặp sự cố. Theo khoản 1 Điều 54 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xe cứu hộ giao thông đường bộ được sử dụng để cứu hộ, hỗ trợ di chuyển hoặc chuyên chở phương tiện giao thông đường bộ bị hư hỏng, bị sự cố.
Do chiếc xe ô tô con không bị hư hỏng, không gặp sự cố nên không thuộc đối tượng được cứu hộ theo quy định. Việc anh Minh sử dụng xe ô tô cứu hộ để kéo chiếc xe này nhằm thực hiện yêu cầu vận chuyển thông thường của khách hàng là sử dụng xe cứu hộ không đúng chức năng và kéo theo xe không đúng đối tượng được cứu hộ.
Hành vi của anh Minh thuộc trường hợp điều khiển xe ô tô cứu hộ giao thông đường bộ kéo theo xe không đúng đối tượng được cứu hộ theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, quy định tại điểm b khoản 3a Điều 29 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Minh bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Đồng thời, căn cứ khoản 4 Điều 29 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 10 Nghị định 238/2026/NĐ-CP, ngoài hình thức xử phạt tiền, anh Minh bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 85. Đưa xe ô tô đầu kéo có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng thiết bị không hoạt động
Công ty TNHH vận tải Minh Thành là chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 29H-123.45. Công ty điều động xe do anh Nam điều khiển để vận chuyển hàng hóa từ Hà Nội đi Hải Phòng. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện xe đã được lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định. Tuy nhiên, tại thời điểm kiểm tra, thiết bị không hoạt động, không ghi nhận và truyền được dữ liệu hành trình của phương tiện. Mặc dù biết thiết bị giám sát hành trình không hoạt động, Công ty vẫn đưa xe tham gia giao thông.
Hỏi: Trong tình huống trên, Công ty TNHH vận tải Minh Thành bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“9a. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Đưa xe không lắp thiết bị giám sát hành trình của xe hoặc có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng không hoạt động, không đúng quy chuẩn theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô;”.
Trong tình huống trên, Công ty TNHH vận tải Minh Thành là tổ chức, đồng thời là chủ xe ô tô đầu kéo. Mặc dù xe đã được lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng tại thời điểm phương tiện tham gia giao thông, thiết bị không hoạt động, không ghi nhận và truyền được dữ liệu hành trình theo quy định.
Việc Công ty vẫn đưa xe tham gia giao thông trong khi thiết bị giám sát hành trình không hoạt động thuộc trường hợp “có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng không hoạt động” quy định tại điểm a khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, trong trường hợp này chủ thể vi phạm là tổ chức là chủ xe ô tô đầu kéo, đối chiếu theo quy định, Công ty TNHH vận tải Minh Thành bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng về hành vi đưa xe ô tô đầu kéo có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng thiết bị không hoạt động.
Tình huống 86. Đưa xe ô tô đầu kéo không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe
Công ty TNHH Vận tải Hoàng Long là tổ chức, chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 29H-456.78. Ngày 05/3/2028, Công ty điều động xe do anh Nam điều khiển để vận chuyển hàng hóa từ Hà Nội đi Hải Phòng. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện xe ô tô đầu kéo của Công ty không được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định. Mặc dù phương tiện không có thiết bị này, Công ty vẫn đưa xe tham gia giao thông.
Hỏi: Trong tình huống trên, Công ty TNHH Vận tải Hoàng Long bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“9a. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Đưa xe không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô.”
Trong tình huống trên, Công ty TNHH Vận tải Hoàng Long là tổ chức, đồng thời là chủ xe ô tô đầu kéo. Xe ô tô đầu kéo được Công ty đưa tham gia giao thông nhưng không được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe.
Hành vi này thuộc trường hợp “đưa xe không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe” quy định tại điểm b khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty TNHH Vận tải Hoàng Long bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng về hành vi đưa xe ô tô đầu kéo không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe.
Tình huống 87. Đưa xe ô tô đầu kéo có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu
Công ty cổ phần Logistics Thành Công là tổ chức, chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo. Công ty điều động xe vận chuyển hàng hóa từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Bình Dương. Xe đã được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe. Tuy nhiên, qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện thiết bị vẫn được lắp trên xe nhưng không ghi và không lưu trữ được dữ liệu hình ảnh người lái xe trong quá trình phương tiện tham gia giao thông. Công ty vẫn đưa phương tiện tham gia giao thông mà chưa khắc phục tình trạng trên.
Hỏi: Trong tình huống trên, Công ty cổ phần Logistics Thành Công bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“9a. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Đưa xe không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô.”
Trong tình huống trên, Công ty là tổ chức và là chủ xe ô tô đầu kéo. Phương tiện đã được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng thiết bị không ghi, không lưu trữ được dữ liệu theo quy định.
Như vậy, hành vi của Công ty thuộc trường hợp “có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu theo quy định” tại điểm b khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty cổ phần Logistics Thành Công bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng về hành vi đưa xe ô tô đầu kéo có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu theo quy định.
Tình huống 88. Đưa xe ô tô đầu kéo có thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng làm sai lệch dữ liệu
Công ty TNHH Vận tải Bắc Nam là tổ chức, chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo. Công ty điều động xe vận chuyển hàng hóa từ Hà Nội đi Ninh Bình. Xe được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định. Qua kiểm tra dữ liệu của thiết bị, lực lượng chức năng phát hiện dữ liệu hình ảnh người lái xe đã bị can thiệp, chỉnh sửa, không phản ánh đúng hình ảnh được thiết bị ghi nhận trong quá trình phương tiện tham gia giao thông. Kết quả kiểm tra kỹ thuật xác định dữ liệu lưu trữ trên thiết bị đã bị làm sai lệch trước khi phương tiện được đưa đi vận chuyển.
Hỏi: Trong tình huống trên, Công ty TNHH Vận tải Bắc Nam bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“9a. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Đưa xe không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô.
Trong tình huống trên, Công ty TNHH Vận tải Bắc Nam là chủ sở hữu của xe ô tô đầu kéo. Xe đã được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng dữ liệu hình ảnh được lưu trữ trên thiết bị đã bị can thiệp, làm sai lệch, không phản ánh đúng dữ liệu được ghi nhận trong quá trình phương tiện tham gia giao thông.
Hành vi của Công ty thuộc trường hợp “làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô” quy định tại điểm b khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty TNHH Vận tải Bắc Nam bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng về hành vi đưa xe ô tô đầu kéo có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng làm sai lệch dữ liệu của thiết bị.
Tình huống 89. Giao xe cho người làm công thực hiện hành vi chở người có thu tiền bằng xe ô tô không kinh doanh vận tải
Công ty TNHH Minh Thành là chủ sở hữu một xe ô tô 07 chỗ, không đăng ký kinh doanh vận tải hành khách. Công ty giao xe cho anh Nam là người làm công của Công ty sử dụng để phục vụ công việc. Trong quá trình sử dụng xe, anh Nam nhận chở 04 người từ Hà Nội đi Hải Phòng và thu tiền của mỗi người 300.000 đồng. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định đây là xe ô tô không kinh doanh vận tải hành khách nhưng anh Nam đã sử dụng xe để chở người có thu tiền. Công ty TNHH Minh Thành biết việc anh Nam sử dụng xe để chở khách nhưng vẫn giao và để anh Nam tiếp tục sử dụng phương tiện.
Hỏi: Trong tình huống trên, Công ty TNHH Minh Thành bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Khoản 11 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP được bổ sung điểm e quy định:
11. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 20.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
e) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 8a Điều 20 của Nghị định này.”
Khoản 8a Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại được bổ sung bởi khoản 3 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“8a. Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hành khách nhưng chở người có thu tiền hoặc ký hợp đồng, nhận đặt chỗ để chở người trên xe.”
Trong tình huống trên, anh Nam là người làm công của Công ty TNHH Minh Thành, đã sử dụng xe ô tô không kinh doanh vận tải hành khách để chở người có thu tiền. Hành vi của anh Nam thuộc trường hợp quy định tại khoản 8a Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung bởi khoản 3 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Đối với Công ty TNHH Minh Thành, Công ty là tổ chức, chủ xe ô tô và đã giao phương tiện cho anh Nam là người làm công sử dụng. Việc Công ty giao phương tiện cho người làm công thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 8a Điều 20 thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 11 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty TNHH Minh Thành bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng.
Tình huống 90. Giao xe cho người làm công chở công-ten-nơ không bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật
Công ty TNHH Vận tải Thành Công là tổ chức, chủ sở hữu một xe đầu kéo và sơ mi rơ moóc chuyên vận chuyển công-ten-nơ. Ngày 20/8/2026, Công ty giao xe cho anh Nam là lái xe của Công ty để vận chuyển một công-ten-nơ từ cảng Hải Phòng về kho hàng tại Hưng Yên. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện công-ten-nơ được chở trên sơ mi rơ moóc không bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định. Công ty là chủ xe và đã giao phương tiện cho anh Nam thực hiện việc vận chuyển.
Hỏi: Trong tình huống trên, Công ty TNHH Vận tải Thành Công bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm e khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP, quy định:
“13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
e) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này.”
Điểm c khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
“c) Chở công-ten-nơ trên xe (kể cả sơ mi rơ moóc) không bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật của công-ten-nơ theo quy định.”
Trong tình huống trên, anh Nam là người làm công của Công ty và được Công ty giao phương tiện để thực hiện việc vận chuyển hàng hóa. Công-ten-nơ được chở trên sơ mi rơ moóc không bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, nên hành vi của anh Nam thuộc điểm c khoản 8 Điều 21.
Công ty TNHH Vận tải Thành Công là tổ chức, chủ xe, đã giao phương tiện cho người làm công thực hiện hành vi vi phạm thuộc điểm c khoản 8 Điều 21. Do đó, Công ty thuộc trường hợp bị xử phạt theo điểm e khoản 13 Điều 32.
Như vậy, Công ty TNHH Vận tải Thành Công bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng về hành vi giao phương tiện cho người làm công thực hiện hành vi chở công-ten-nơ không bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định.
Tình huống 91. Giao phương tiện cho người làm công chở thiết bị vượt quá chiều dài được ghi trong giấy chứng nhận kiểm định
Công ty TNHH Vận tải Thành Công là tổ chức, chủ sở hữu một xe đầu kéo kéo theo sơ mi rơ moóc. Ngày 20/8/2026, Công ty giao phương tiện cho anh Nam là người làm công của Công ty điều khiển để vận chuyển một thiết bị có hình dạng thùng từ Hải Phòng về Hà Nội. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định thiết bị được chở trên sơ mi rơ moóc có chiều dài vượt quá chiều dài toàn bộ được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc. Công ty là chủ xe và đã giao phương tiện cho anh Nam thực hiện việc vận chuyển.
Hỏi: Trong tình huống trên, Công ty TNHH Vận tải Thành Công bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm e khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
e) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này.”
Điểm d khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“d) Chở thiết bị có hình dạng thùng hoặc có hình dạng như công-ten-nơ (không phải công-ten-nơ) vượt quá chiều dài toàn bộ được ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của rơ moóc, sơ mi rơ moóc; chở loại hàng không đúng với thông tin ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của rơ moóc, sơ mi rơ moóc;”
Trong tình huống trên, Công ty TNHH Vận tải Thành Công là tổ chức, chủ xe, đồng thời đã giao phương tiện cho người làm công là anh Nam điều khiển để thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 8 Điều 21.
Như vậy, hành vi của Công ty thuộc trường hợp giao phương tiện cho người làm công thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 8 Điều 21, quy định tại điểm e khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty TNHH Vận tải Thành Công bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng về hành vi giao phương tiện cho người làm công thực hiện hành vi chở thiết bị có hình dạng thùng, không phải công-ten-nơ, vượt quá chiều dài toàn bộ được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc.
Tình huống 92. Giao phương tiện cho người điều khiển chở loại hàng không đúng với thông tin ghi trong giấy chứng nhận kiểm định
Công ty TNHH Vận tải Hoàng Nam là tổ chức, chủ sở hữu một xe đầu kéo kéo theo sơ mi rơ moóc. Trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc ghi thông tin về loại hàng được phép vận chuyển là hàng hóa thông thường. Công ty giao phương tiện cho anh Minh là người làm công của Công ty điều khiển để vận chuyển một lô hàng hóa chất đóng trong các thùng chứa chuyên dụng từ Hải Phòng về Hà Nội. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định loại hàng được vận chuyển không đúng với thông tin về loại hàng ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc.
Hỏi: Trong tình huống trên, Công ty TNHH Vận tải Hoàng Nam bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm e khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
e) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này.”
Điểm d khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“d) Chở thiết bị có hình dạng thùng hoặc có hình dạng như công-ten-nơ (không phải công-ten-nơ) vượt quá chiều dài toàn bộ được ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của rơ moóc, sơ mi rơ moóc; chở loại hàng không đúng với thông tin ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của rơ moóc, sơ mi rơ moóc;”
Trong tình huống trên, theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc, phương tiện chỉ được vận chuyển hàng hóa thông thường, nhưng lại giao phương tiện cho anh Minh sử dụng để chở hóa chất đóng trong các thùng chứa chuyên dụng. Như vậy, loại hàng được vận chuyển không đúng với thông tin về loại hàng ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định của sơ mi rơ moóc.
Hành vi của Công ty thuộc trường hợp giao phương tiện cho người làm công thực hiện hành vi chở loại hàng không đúng với thông tin ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 13 Điều 32 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty TNHH Vận tải Hoàng Nam bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng về hành vi giao phương tiện cho người làm công thực hiện hành vi chở loại hàng không đúng với thông tin ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc.
Tình huống 93. Giao phương tiện cho người điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng chở hàng hóa trên xe có thu tiền
Công ty TNHH Thương mại Minh Phát là tổ chức, chủ sở hữu một xe ô tô tải, không đăng ký kinh doanh vận tải hàng hóa. Công ty giao xe cho anh Nam là người làm công của Công ty điều khiển để vận chuyển hàng hóa phục vụ hoạt động của doanh nghiệp. Ngày 20/8/2026, ngoài số hàng hóa của Công ty, anh Nam nhận vận chuyển thêm một lô hàng của một khách hàng khác từ Hà Nội đi Bắc Ninh và thỏa thuận với khách hàng thu 2.000.000 đồng tiền vận chuyển. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định xe ô tô trên không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng đang chở hàng hóa có thu tiền.
Hỏi: Trong tình huống trên, Công ty TNHH Thương mại Minh Phát bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm e khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
e) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này.”
Điểm e khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP được bổ sung tại điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“e, Điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng chở hàng hóa trên xe có thu tiền.”
Trong tình huống trên, Công ty TNHH Thương mại Minh Phát là tổ chức, chủ sở hữu xe ô tô, đã giao phương tiện cho anh Nam là người làm công điều khiển. Trong quá trình sử dụng phương tiện được giao, anh Nam đã thực hiện hành vi điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng chở hàng hóa trên xe có thu tiền theo quy định tại điểm e khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, Công ty TNHH Thương mại Minh Phát đã có hành vi giao phương tiện cho người làm công thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm e khoản 8 Điều 21, thuộc trường hợp bị xử phạt theo điểm e khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty TNHH Thương mại Minh Phát bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng.
Tình huống 94. Chủ xe trực tiếp điều khiển phương tiện chở công-ten-nơ không bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật
Ông Nguyễn Văn Minh là chủ sở hữu một xe đầu kéo và sơ mi rơ moóc, trực tiếp điều khiển phương tiện để vận chuyển công-ten-nơ từ cảng Hải Phòng về Hà Nội. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện công-ten-nơ được chở trên sơ mi rơ moóc không bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật của công-ten-nơ theo quy định. Ông Minh là chủ xe và cũng là người trực tiếp điều khiển phương tiện tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn Minh bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung điểm e tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
e) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này.”
Điểm c khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
“c) Chở công-ten-nơ trên xe (kể cả sơ mi rơ moóc) không bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật của công-ten-nơ theo quy định;”
Trong trường hợp này, ông Minh không giao phương tiện cho người khác mà trực tiếp điều khiển phương tiện và thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 8 Điều 21. Do đó, hành vi của ông Minh thuộc trường hợp chủ xe trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm e khoản 13 Điều 32.
Như vậy, ông Nguyễn Văn Minh bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng về hành vi trực tiếp điều khiển phương tiện chở công-ten-nơ không bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định. Ngoài ra theo quy định tại điểm c khoản 21 điều 32 Nghị định 168/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 điều 11 Nghị định 238/2026/NĐ-CP ông Minh là chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện nên ông còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm.
Tình huống 95. Chủ xe trực tiếp điều khiển phương tiện chở thiết bị vượt quá chiều dài được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định
Ông Nguyễn Văn Trường là chủ sở hữu một xe đầu kéo kéo theo sơ mi rơ moóc. Ông Trường trực tiếp điều khiển phương tiện vận chuyển một thiết bị có hình dạng thùng từ thành phố Hải Phòng về thành phố Hà Nội. Khi phương tiện đang lưu thông trên Quốc lộ 5, lực lượng Cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra. Qua đo kiểm và đối chiếu với Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc, lực lượng chức năng xác định thiết bị được vận chuyển có hình dạng thùng (không phải công-ten-nơ) và có chiều dài vượt quá chiều dài toàn bộ được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn Trường bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm;".
Điểm e khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
e) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này.".
Điểm d khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"d) Chở thiết bị có hình dạng thùng hoặc có hình dạng như công-ten-nơ (không phải công-ten-nơ) vượt quá chiều dài toàn bộ được ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của rơ moóc, sơ mi rơ moóc..."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn Trường là chủ sở hữu phương tiện và trực tiếp điều khiển xe vận chuyển thiết bị có hình dạng thùng (không phải công-ten-nơ) vượt quá chiều dài toàn bộ được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc. Hành vi của ông Trường thuộc trường hợp trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 8 Điều 21.
Như vậy, ông Nguyễn Văn Trường bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng theo điểm e khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP. Ngoài ra ông Minh là chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện nên ông còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm.
Tình huống 96. Chủ xe trực tiếp điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng chở hàng hóa có thu tiền
Ông Nguyễn Văn Nam là chủ sở hữu một xe ô tô tải không kinh doanh vận tải hàng hóa. Ngày 25/8/2026, ông Nam trực tiếp điều khiển xe vận chuyển hàng hóa phục vụ hoạt động kinh doanh của gia đình từ thành phố Hà Nội đến tỉnh Bắc Ninh. Trên đường đi, ông Nam nhận vận chuyển thêm một lô hàng của một cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng và thỏa thuận thu 2.000.000 đồng tiền vận chuyển. Khi phương tiện đang lưu thông trên Quốc lộ 1, lực lượng Cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra và xác định xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng đang chở hàng hóa có thu tiền.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn Nam bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm;".
Điểm e khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
e) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c, điểm d, điểm e khoản 8 Điều 21 của Nghị định này.".
Điểm e khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"e) Điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng chở hàng hóa trên xe có thu tiền."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn Nam là chủ sở hữu phương tiện và trực tiếp điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa. Mặc dù phương tiện không đăng ký kinh doanh vận tải hàng hóa, nhưng ông Nam đã nhận vận chuyển hàng hóa cho người khác và thỏa thuận thu tiền vận chuyển. Hành vi này thuộc trường hợp điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hàng hóa nhưng chở hàng hóa trên xe có thu tiền, quy định tại điểm e khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do ông Nam là chủ xe và trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm, nên thuộc trường hợp bị xử phạt theo điểm e khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, ông Nguyễn Văn Nam bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng. Trường hợp ông Nam có giấy phép lái xe thì còn bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe theo quy định tại điểm c khoản 21 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP được bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Tình huống 97. Chủ xe trực tiếp điều khiển xe chở hàng vượt quá trọng tải cho phép
Ông Nguyễn Văn A là chủ sở hữu xe ô tô tải. Ông A trực tiếp điều khiển xe chở vật liệu xây dựng tham gia giao thông. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định xe chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe là 70%.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn A bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm;".
Điểm a khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
" 13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm b khoản 6 Điều 21 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm b khoản 6 Điều 21 của Nghị định này;"
Điểm a khoản 6 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"a) Điều khiển xe (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 50% đến 100%;"
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn A là chủ sở hữu xe và trực tiếp điều khiển phương tiện chở hàng vượt trọng tải cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 50% đến 100%, thuộc hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 6 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, hành vi của ông Nguyễn Văn A thuộc trường hợp chủ phương tiện trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, ông Nguyễn Văn A bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe theo quy định tại điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 98. Chủ xe trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng có kích thước vượt quá giấy phép lưu hành
Ông Nguyễn Văn B là chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng. Ngày 18/8/2026, ông B trực tiếp điều khiển xe chở một kiện hàng siêu trường. Xe có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng. Tuy nhiên, qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định kích thước bao ngoài của xe sau khi xếp hàng vượt quá kích thước được ghi trong giấy phép lưu hành.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn B bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm;".
Điểm b khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Nghị định này."
Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"2. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi chở hàng siêu trường, siêu trọng có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng kích thước bao ngoài của xe (sau khi đã xếp hàng lên xe) vượt quá quy định trong giấy phép lưu hành."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn B là chủ sở hữu phương tiện và trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng kích thước bao ngoài của xe sau khi xếp hàng vượt quá quy định trong giấy phép lưu hành, thuộc hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, hành vi của ông Nguyễn Văn B thuộc trường hợp chủ phương tiện trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP .
Như vậy, ông Nguyễn Văn B bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng theo điểm b khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe theo điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 99. Chủ xe trực tiếp điều khiển xe vận chuyển máy móc không chằng buộc theo quy định
Ông Nguyễn Văn C là chủ sở hữu xe ô tô tải. Ông C trực tiếp điều khiển xe vận chuyển một máy xúc công trình đến công trường xây dựng. Trong quá trình lưu thông, lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra và xác định máy xúc được chở trên xe không được chằng buộc theo đúng quy định, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông. Trường hợp này không thuộc diện vận chuyển máy móc khổ lớn (quá khổ) trên phương tiện chuyên dùng có giấy phép lưu hành đường bộ.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn C bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm;".
Điểm đ khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
đ) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 10 Điều 21 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 10 Điều 21 của Nghị định này."
Điểm a khoản 10 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"10. Phạt tiền từ 18.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Vận chuyển hàng hóa là phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị kỹ thuật, hàng dạng trụ không chằng buộc hoặc chằng buộc không theo quy định (trừ việc vận chuyển máy móc khổ lớn (quá khổ) trên phương tiện chuyên dùng và phải có giấy phép lưu hành trên đường bộ)."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn C là chủ sở hữu phương tiện và trực tiếp điều khiển xe vận chuyển máy móc nhưng không chằng buộc theo đúng quy định, thuộc hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 10 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, hành vi của ông Nguyễn Văn C thuộc trường hợp chủ phương tiện trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, ông Nguyễn Văn C bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng theo điểm đ khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe theo điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 100. Chủ xe trực tiếp điều khiển xe vận chuyển máy móc không chằng buộc theo quy định
Ông Nguyễn Văn C là chủ sở hữu xe ô tô tải. Ngày 22/8/2026, ông C trực tiếp điều khiển xe vận chuyển một máy xúc công trình đến công trường xây dựng. Trong quá trình lưu thông, lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra và xác định máy xúc được chở trên xe không được chằng buộc theo đúng quy định, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông. Trường hợp này không thuộc diện vận chuyển máy móc khổ lớn (quá khổ) trên phương tiện chuyên dùng có giấy phép lưu hành đường bộ.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn C bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm a khoản 10 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"10. Phạt tiền từ 18.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Vận chuyển hàng hóa là phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị kỹ thuật, hàng dạng trụ không chằng buộc hoặc chằng buộc không theo quy định (trừ việc vận chuyển máy móc khổ lớn (quá khổ) trên phương tiện chuyên dùng và phải có giấy phép lưu hành trên đường bộ)."
Điểm đ khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
đ) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 10 Điều 21 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 10 Điều 21 của Nghị định này."
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn C là chủ sở hữu phương tiện và trực tiếp điều khiển xe vận chuyển máy móc nhưng không chằng buộc theo đúng quy định, thuộc hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 10 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, hành vi của ông Nguyễn Văn C thuộc trường hợp chủ phương tiện trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, ông Nguyễn Văn C bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng theo điểm đ khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe theo điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 101. Chủ xe trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng không có giấy phép lưu hành
Ông Nguyễn Văn D là chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo chuyên vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng. Ngày 25/8/2026, ông D trực tiếp điều khiển xe chở một cấu kiện thép siêu trường lưu thông trên đường. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định phương tiện vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng nhưng không có giấy phép lưu hành theo quy định.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn D bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm a khoản 3 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"a) Chở hàng siêu trường, siêu trọng không có giấy phép lưu hành hoặc có giấy phép lưu hành nhưng đã hết giá trị sử dụng hoặc sử dụng giấy phép lưu hành không do cơ quan có thẩm quyền cấp;"
Điểm a khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"14. Phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 56.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 Điều 22 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 Điều 22 của Nghị định này."
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn D là chủ sở hữu phương tiện và trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng không có giấy phép lưu hành, thuộc hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, hành vi của ông Nguyễn Văn D thuộc trường hợp chủ phương tiện trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, ông Nguyễn Văn D bị phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng theo điểm a khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe theo điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 102. Chủ xe trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng vượt quá tổng trọng lượng ghi trong giấy phép lưu hành
Ông Nguyễn Văn E là chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo chuyên vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng. Ngày 28/8/2026, ông E trực tiếp điều khiển xe vận chuyển một thiết bị công nghiệp. Phương tiện có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng. Tuy nhiên, qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định tổng trọng lượng của xe sau khi xếp hàng vượt quá mức được phép ghi trong giấy phép lưu hành.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn E bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm b khoản 3 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"b) Chở hàng siêu trường, siêu trọng có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng tổng trọng lượng (sau khi đã xếp hàng lên xe) vượt quá quy định trong giấy phép lưu hành;"
Điểm b khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"14. Phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 56.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 22 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 22 của Nghị định này."
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn E là chủ sở hữu phương tiện và trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng tổng trọng lượng của xe sau khi xếp hàng vượt quá quy định trong giấy phép lưu hành, thuộc hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, hành vi của ông Nguyễn Văn E thuộc trường hợp chủ phương tiện trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, ông Nguyễn Văn E bị phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng theo điểm b khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe theo điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 103. Chủ xe trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng đi không đúng tuyến đường ghi trong giấy phép lưu hành
Ông Nguyễn Văn F là chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo chuyên vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng. Ngày 02/8/2026, ông F trực tiếp điều khiển xe chở một thiết bị công nghiệp có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng. Theo giấy phép lưu hành, phương tiện được phép lưu thông theo tuyến Quốc lộ 1A. Tuy nhiên, để rút ngắn quãng đường, ông F điều khiển xe đi vào một tuyến đường khác không được ghi trong giấy phép lưu hành. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện hành vi vi phạm.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn F bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm c khoản 3 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"c) Chở hàng siêu trường, siêu trọng có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng đi không đúng tuyến đường quy định trong giấy phép lưu hành;"
Điểm c khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"14. Phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 56.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
c) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 3 Điều 22 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 3 Điều 22 của Nghị định này."
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn F là chủ sở hữu phương tiện và trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng đi không đúng tuyến đường quy định trong giấy phép lưu hành, thuộc hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 3 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, hành vi của ông Nguyễn Văn F thuộc trường hợp chủ phương tiện trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, ông Nguyễn Văn F bị phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng theo điểm c khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe theo điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 104. Chủ xe trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng không đúng loại hàng ghi trong giấy phép lưu hành
Ông Nguyễn Văn G là chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo chuyên vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng. Ngày 05/9/2026, ông G trực tiếp điều khiển xe vận chuyển một cấu kiện bê tông siêu trường. Phương tiện có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng, tuy nhiên giấy phép chỉ cho phép vận chuyển thiết bị công nghiệp. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định phương tiện chở không đúng loại hàng được ghi trong giấy phép lưu hành.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn G bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm d khoản 3 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"d) Chở hàng siêu trường, siêu trọng có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng chở không đúng loại hàng quy định trong giấy phép lưu hành."
Điểm d khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"14. Phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 56.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
d) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 3 Điều 22 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 3 Điều 22 của Nghị định này."
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn G là chủ sở hữu phương tiện và trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng chở không đúng loại hàng quy định trong giấy phép lưu hành, thuộc hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 3 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, hành vi của ông Nguyễn Văn G thuộc trường hợp chủ phương tiện trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, ông Nguyễn Văn G bị phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng theo điểm d khoản 14 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe theo điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 105. Chủ xe trực tiếp điều khiển xe có tổng trọng lượng vượt quá tải trọng cho phép của đường bộ trên 50%
Ông Nguyễn Văn H là chủ sở hữu xe ô tô tải. Ngày 10/9/2026, ông H trực tiếp điều khiển xe chở vật liệu xây dựng lưu thông trên một tuyến đường bộ có quy định về tải trọng khai thác. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) của xe, bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, vượt quá tải trọng cho phép của đường bộ là 65%. Ông H không xuất trình được giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn H bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm a khoản 5 Điều 34 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"a) Điều khiển xe mà tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của đường bộ trên 50%, trừ trường hợp có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng;"
Điểm a khoản 16 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"16. Phạt tiền từ 65.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 130.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô khi thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 34 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 34 của Nghị định này."
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm."
Trong tình huống trên, ông Nguyễn Văn H là chủ sở hữu phương tiện và trực tiếp điều khiển xe có tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) vượt quá tải trọng cho phép của đường bộ trên 50%, đồng thời không thuộc trường hợp có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng, thuộc hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 34 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, hành vi của ông Nguyễn Văn H thuộc trường hợp chủ phương tiện trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 16 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, ông Nguyễn Văn H bị phạt tiền từ 65.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng theo điểm a khoản 16 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe theo điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 106. Chủ xe trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng có kích thước vượt quá quy định trong giấy phép lưu hành
Công ty TNHH Minh Phát là chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo chuyên chở hàng siêu trường, siêu trọng. Ngày 1/8/2026, ông Trần Văn M là Giám đốc công ty trực tiếp điều khiển xe vận chuyển thiết bị công nghiệp theo giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định kích thước bao ngoài của xe sau khi đã xếp hàng vượt quá kích thước được ghi trong giấy phép lưu hành.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông Trần Văn M bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"2. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi chở hàng siêu trường, siêu trọng có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng kích thước bao ngoài của xe (sau khi đã xếp hàng lên xe) vượt quá quy định trong giấy phép lưu hành."
Điểm b khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
"13. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Nghị định này;"
Điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm e khoản 13; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 14; điểm a khoản 16 Điều này trong trường hợp chủ phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện còn bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm;"
Trong tình huống trên, ông Trần Văn M là chủ phương tiện và trực tiếp điều khiển xe chở hàng siêu trường, siêu trọng có giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng kích thước bao ngoài của xe sau khi xếp hàng vượt quá quy định trong giấy phép lưu hành, thuộc hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, hành vi của ông Trần Văn M thuộc trường hợp chủ phương tiện trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, ông Trần Văn M bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng theo điểm b khoản 13 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe theo điểm c khoản 21 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 107. Đưa xe cứu hộ không có dụng cụ, thiết bị chuyên dùng tham gia giao thông
Công ty TNHH Cứu hộ Thành Công là tổ chức, chủ sở hữu một xe ô tô cứu hộ giao thông đường bộ. Mặc dù xe chưa được trang bị đầy đủ các dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ theo quy định, Công ty vẫn đưa xe ra đường để thực hiện nhiệm vụ cứu hộ phương tiện bị hư hỏng. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định xe cứu hộ của Công ty không có dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ theo quy định nhưng vẫn được đưa vào tham gia giao thông.
Hỏi: Công ty TNHH Cứu hộ Thành Công bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm o khoản 7 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
“7. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc), xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
o) Đưa xe cứu hộ giao thông đường bộ không có dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ theo quy định tham gia giao thông.
Điểm l khoản 19 Điều 32, được sửa đổi, bổ sung theo khoản 4 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“l) Thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm o khoản 7, khoản 9a Điều này buộc lắp đặt dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ, thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe trên xe theo đúng quy định.”
Điểm o khoản 7 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định:
“o) Đưa xe cứu hộ giao thông đường bộ không có dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ theo quy định tham gia giao thông.”
Trong tình huống trên, Công ty TNHH Cứu hộ Thành Công đã đưa xe cứu hộ giao thông đường bộ không có đầy đủ dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ theo quy định tham gia giao thông. Do đó, hành vi của Công ty thuộc trường hợp quy định tại điểm o khoản 7 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty TNHH Cứu hộ Thành Công bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng về hành vi đưa xe cứu hộ giao thông đường bộ không có dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ theo quy định tham gia giao thông; đồng thời buộc lắp đặt dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ trên xe theo đúng quy định.
Tình huống 108. Đưa xe ô tô đầu kéo không lắp thiết bị giám sát hành trình tham gia giao thông
Công ty TNHH Vận tải Minh Phát là tổ chức, chủ sở hữu một xe ô tô đầu kéo. Mặc dù phương tiện thuộc đối tượng phải lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định, Công ty vẫn đưa xe tham gia vận chuyển hàng hóa khi chưa lắp thiết bị này. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định xe không được lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định.
Hỏi: Công ty TNHH Vận tải Minh Phát bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm a khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"9a. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Đưa xe không lắp thiết bị giám sát hành trình của xe hoặc có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng không hoạt động, không đúng quy chuẩn theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô."
Điểm l khoản 19 Điều 32, được sửa đổi, bổ sung theo khoản 4 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"l) Thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm o khoản 7, khoản 9a Điều này buộc lắp đặt dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ, thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe trên xe theo đúng quy định."
Trong tình huống trên, Công ty TNHH Vận tải Minh Phát đã đưa xe ô tô đầu kéo không lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định tham gia giao thông. Do đó, hành vi của Công ty thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty TNHH Vận tải Minh Phát bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng theo điểm a khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và buộc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình theo đúng quy định theo điểm l khoản 19 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 109. Đưa xe ô tô đầu kéo có thiết bị giám sát hành trình nhưng không hoạt động tham gia giao thông
Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Long là tổ chức, chủ sở hữu một xe ô tô đầu kéo. Xe đã được lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng do thiết bị bị hỏng, không hoạt động, Công ty vẫn đưa xe tham gia vận chuyển hàng hóa. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định thiết bị giám sát hành trình trên xe không hoạt động theo quy định.
Hỏi: Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Long bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm l khoản 19 Điều 32, được sửa đổi, bổ sung theo khoản 4 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"l) Thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm o khoản 7, khoản 9a Điều này buộc lắp đặt dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ, thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe trên xe theo đúng quy định."
Điểm a khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"9a. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Đưa xe không lắp thiết bị giám sát hành trình của xe hoặc có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng không hoạt động, không đúng quy chuẩn theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô."
Trong tình huống trên, Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Long đã đưa xe ô tô đầu kéo có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng thiết bị không hoạt động tham gia giao thông. Do đó, hành vi của Công ty thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Long bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng theo điểm a khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và buộc bảo đảm thiết bị giám sát hành trình hoạt động đúng quy định theo điểm l khoản 19 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Tình huống 110. Đưa xe ô tô đầu kéo không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe tham gia giao thông
Công ty TNHH Logistics An Phú là tổ chức, chủ sở hữu một xe ô tô đầu kéo. Mặc dù phương tiện thuộc đối tượng phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định, Công ty vẫn đưa xe tham gia giao thông khi chưa lắp thiết bị này. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định xe không được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định.
Hỏi: Công ty TNHH Logistics An Phú bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm l khoản 19 Điều 32, được sửa đổi, bổ sung theo khoản 4 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"l) Thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm o khoản 7, khoản 9a Điều này buộc lắp đặt dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ, thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe trên xe theo đúng quy định."
Điểm b khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"9a. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
"b) Đưa xe không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, Công ty TNHH Logistics An Phú đã đưa xe ô tô đầu kéo không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định tham gia giao thông. Do đó, hành vi của Công ty thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty TNHH Logistics An Phú bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng theo điểm b khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và buộc lắp đặt thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo đúng quy định theo điểm l khoản 19 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây