40 Tình huống tuyên truyền pháp luật

Thứ năm - 06/08/2026 06:08 11 0
Tình huống 1:
Tháng 6/2026, bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1975, cư trú tại xã X, tỉnh Y, mặc dù gia đình không bị thiệt hại do thiên tai, không thuộc diện thiếu đói hoặc gặp khó khăn đột xuất, nhưng đã làm giả giấy xác nhận của trưởng thôn về việc gia đình bị tốc mái nhà do mưa bão và kê khai không đúng sự thật trong hồ sơ đề nghị hưởng trợ giúp xã hội khẩn cấp. Trên cơ sở hồ sơ giả mạo, bà A đã được UBND xã giải quyết và nhận số tiền 1.500.000 đồng tiền trợ giúp xã hội khẩn cấp. Qua công tác kiểm tra, cơ quan chức năng xác định hồ sơ của bà A là giả mạo, việc kê khai hoàn toàn không đúng thực tế. Hành vi của bà A có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 1, điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về khai hưởng chính sách trợ giúp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán người) quy định:
“1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân có hành vi giả mạo, gian dối để được hưởng trợ giúp xã hội khẩn cấp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.
“4. Hình thức phạt bổ sung:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm a, điểm b, điểm c khoản 3 Điều này;”.
Đối với tình huống trên bà Nguyễn Thị A có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền: 750.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà Nguyễn Thị A trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng giảm nhẹ
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP buộc bà Nguyễn Thị A phải nộp lại số lợi bất hợp pháp (1.500.000 đồng) có được do thực hiện hành vi vi phạm trên.
Tình huống 2:
Tháng 7/2026, bà Trần Thị B, 24 tuổi, cư trú tại xã X, tỉnh Y, mặc dù chưa từng là nạn nhân của hành vi mua bán người nhưng đã câu kết với một người quen để làm giả giấy xác nhận là nạn nhân bị mua bán người. Trên cơ sở hồ sơ giả mạo, bà B nộp hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết chế độ hỗ trợ đối với nạn nhân bị mua bán người. Sau khi hồ sơ được chấp thuận, bà B được nhận trợ cấp khó khăn ban đầu theo quy định. Qua công tác thanh tra, kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện giấy xác nhận là giả, bà B không thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ. Hành vi của bà B có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 2, điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về khai hưởng chính sách trợ giúp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán người) quy định:
“2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi giả mạo, gian dối là nạn nhân bị mua bán người để được hưởng một trong các chính sách hỗ trợ sau: học văn hóa, học nghề hoặc trợ cấp khó khăn ban đầu nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.”.
….
“4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm a, điểm b, điểm c khoản 3 Điều này;”.
Đối với tình huống trên bà Trần Thị B có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 2.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà Trần Thị B trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP buộc bà Trần Thị B phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm trên.
Tình huống 3:
Ông Nguyễn Văn A, 68 tuổi, có nơi ở ổn định và đang được các con trực tiếp chăm sóc. Do muốn được sinh hoạt miễn phí tại cơ sở bảo trợ xã hội, ông A đã tự khai báo gian dối rằng mình là người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa và không có người có nghĩa vụ, quyền phụng dưỡng. Để hợp thức hóa hồ sơ, ông A cung cấp các thông tin không đúng sự thật và nhờ người quen xác nhận sai về hoàn cảnh của mình. Trên cơ sở hồ sơ này, cơ sở chăm sóc người cao tuổi đã tiếp nhận ông A vào chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau đợt kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chức năng xác định ông A có hành vi khai báo gian dối để được tiếp nhận vào cơ sở chăm sóc người cao tuổi. Hành vi của ông A có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm d khoản 3, điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về khai hưởng chính sách trợ giúp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán người) quy định:
“3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
d) Khai báo gian dối để được tiếp nhận vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở hỗ trợ nạn nhân.”.

“4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc dừng chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở hỗ trợ nạn nhân đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.”
Đối với tình huống trên ông Nguyễn Văn A có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông A (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 7 của Nghị định số 98/2026/NĐ-CP như sau: Buộc dừng chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở hỗ trợ nạn nhân đối với hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn A.
Tình huống 4:
Chị Nguyễn Thị A, là người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán người, được Trung tâm Hỗ trợ nạn nhân tỉnh X tiếp nhận để tư vấn tâm lý và hỗ trợ các thủ tục theo quy định. Trong thời gian chị A lưu trú tại trung tâm, ông Trần Văn B, là nhân viên bảo vệ của cơ sở, thường xuyên có lời nói xúc phạm, miệt thị trước nhiều người như: "Đó là người bị bán nên mới ra nông nỗi này", "Loại người như vậy không đáng được giúp đỡ". Ngoài ra, ông B còn nhiều lần ngăn cản chị A sử dụng khu sinh hoạt chung, yêu cầu chị ăn riêng và không tiếp xúc với những người khác tại cơ sở. Sự việc khiến chị A mặc cảm, hoảng loạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý và quá trình phục hồi. Qua xác minh, cơ quan có thẩm quyền kết luận ông B có hành vi xúc phạm, kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán người. Hành vi của chị A có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm c khoản 1, điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về hỗ trợ nạn nhân bị mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán) quy định:
“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
c) Xúc phạm; kỳ thị; phân biệt đối xử đối với nạn nhân bị mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân.
….
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc xin lỗi nạn nhân bị mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán, người thân thích của họ, người làm chứng, người tố giác, báo tin, tố cáo, khai báo hoặc người ngăn chặn hành vi khi có yêu cầu đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này.”.
Đối với tình huống trên ông Trần Văn B có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Trần Văn B (trường hợp không có tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 8 của Nghị định số 98/2026/NĐ-CP như sau: Buộc ông B xin lỗi chị Nguyễn Thị A là người đang được xác địnhh là nạn nhân bị mua bán người.
Tình huống 5:
Tháng 7 năm 2026, chị Nguyễn Thị A được Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp nhận và đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán người theo quy định của pháp luật. Trong quá trình xác minh vụ việc, chị A đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng giúp cơ quan điều tra làm rõ hành vi của các đối tượng liên quan. Biết chị A hợp tác với cơ quan chức năng, ông Nguyễn Văn H, là người có quan hệ quen biết với một đối tượng trong đường dây mua bán người, nhiều lần gọi điện và nhắn tin cho chị A với nội dung: "Nếu còn tiếp tục khai báo thì gia đình mày sẽ không yên", đồng thời dọa sẽ gây thương tích cho em trai của chị A nếu chị tiếp tục làm chứng. Không chỉ vậy, ông B còn đến nơi làm việc của chị A để đe dọa, yêu cầu chị rút lại lời khai và không tiếp tục hợp tác với cơ quan điều tra. Qua xác minh, cơ quan có thẩm quyền kết luận ông Nguyễn Văn H đã có hành vi đe dọa người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán người và người thân thích của họ nhằm cản trở việc giải quyết vụ việc. Hành vi của ông H có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 2, điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về hỗ trợ nạn nhân bị mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán) quy định:
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đe dọa nạn nhân bị mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, người thân thích của họ, người làm chứng, người tố giác, báo tin, tố cáo, khai báo hoặc người ngăn chặn hành vi quy định tại Điều 3 Luật Phòng, chống mua bán người nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
….
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc xin lỗi nạn nhân bị mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán, người thân thích của họ, người làm chứng, người tố giác, báo tin, tố cáo, khai báo hoặc người ngăn chặn hành vi khi có yêu cầu đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này.”.
Đối với tình huống trên ông Nguyễn Văn H có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông H (trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài hình thức xử phạt chính, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP như sau: Buộc ông H xin lỗi chị Nguyễn Thị A là người đang được xác địnhh là nạn nhân bị mua bán người.
Tình huống 6:
Tháng 6 năm 2026, chị Nguyễn Thị A được xác định là nạn nhân bị mua bán người và đang được Trung tâm Hỗ trợ nạn nhân tỉnh X hỗ trợ tâm lý, chăm sóc sức khỏe và tư vấn tái hòa nhập cộng đồng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, ông Trần Văn B, là nhân viên của trung tâm, đã tự ý sử dụng điện thoại cá nhân chụp ảnh hồ sơ của chị A. Sau đó, ông B đăng tải lên tài khoản mạng xã hội cá nhân nội dung giới thiệu về một trường hợp "giải cứu nạn nhân bị mua bán người", kèm theo ảnh chân dung của chị A, họ tên, năm sinh, quê quán, số điện thoại, hình thức bị mua bán và một phần hồ sơ tiếp nhận. Ông B không xin ý kiến và cũng không được chị A đồng ý bằng bất kỳ hình thức nào trước khi đăng tải các thông tin trên. Sau khi bài viết được chia sẻ rộng rãi, chị A bị nhiều người nhận diện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, tâm lý và quá trình tái hòa nhập cộng đồng. Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định ông B đã tự ý tiết lộ thông tin cá nhân của nạn nhân bị mua bán người. Hành vi này của ông B có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 3, khoản 4 Điều 8 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về hỗ trợ nạn nhân bị mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán) quy định:
“3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin về tên, tuổi, số điện thoại, tài khoản mạng xã hội, địa chỉ, nơi ở, nơi làm việc, quê quán, hình thức bị mua bán, sức khỏe, hình ảnh, hồ sơ của nạn nhân bị mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân khi chưa được sự đồng ý của họ nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp việc tiết lộ thông tin là cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người bị tiết lộ hoặc pháp luật có quy định khác.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc thu hồi, xóa, gỡ bỏ các thông tin, hình ảnh, hồ sơ của nạn nhân bị mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Buộc xin lỗi nạn nhân bị mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán, người thân thích của họ, người làm chứng, người tố giác, báo tin, tố cáo, khai báo hoặc người ngăn chặn hành vi khi có yêu cầu đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này.”
 Đối với tình huống trên ông Trần Văn B có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông B (mức phạt tiền áp dụng trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP như sau:
+ Buộc ông B thu hồi, xóa, gỡ bỏ các thông tin, hình ảnh, hồ sơ của chị A, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân;
+ Buộc ông B xin lỗi chị A là người đang được xác địnhh là nạn nhân bị mua bán người.
Tình huống 7:
Bà Nguyễn Thị A, 62 tuổi, là người khuyết tật đặc biệt nặng, không còn khả năng tự chăm sóc bản thân. Theo quyết định của UBND xã X, bà A được giao cho ông Trần Văn B (là cháu ruột) đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng và được hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định của Nhà nước. Trong quá trình chăm sóc, do bực tức vì bà A thường xuyên đau ốm và cần nhiều thời gian chăm sóc, ông B nhiều lần không cho bà A ăn đúng bữa, có ngày chỉ cho ăn một bữa; không cho uống nước trong nhiều giờ để "rèn tính tự lập". Ngoài ra, ông B còn thường xuyên không hỗ trợ bà A vệ sinh cá nhân, để bà phải nằm trong tình trạng mất vệ sinh nhiều giờ liền. Hàng xóm phát hiện sự việc và phản ánh đến UBND xã. Qua xác minh, cơ quan chức năng kết luận ông B đã có hành vi bắt nhịn ăn, hạn chế uống nước và không bảo đảm vệ sinh cá nhân đối với người được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng. Hành vi của ông B có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm a khoản 1, điểm b khoản 4 Điều 9 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng của người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em tại cộng đồng) quy định:
1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đứng ra nhận nuôi dưỡng, chăm sóc thực hiện một trong các hành vi sau đối với đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
a) Bắt nhịn ăn; bắt nhịn uống; không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân;

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho đối tượng bị ảnh hưởng sức khỏe do hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều này.”
Đối với tình huống trên ông Trần Văn B có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Trần Văn B (mức phạt áp dụng trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả:
Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 9 của Nghị định số 98/2026/NĐ-CP như sau: Buộc ông B phải chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho bà A là đối tượng bị ảnh hưởng sức khỏe do hành vi vi phạm của ông B gây ra.
Tình huống 8:
Ông Nguyễn Văn A, 76 tuổi, là người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa và được UBND xã X giao cho bà Trần Thị B là người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng theo quy định của pháp luật. Sau một thời gian chăm sóc, do cho rằng ông A thường xuyên đau ốm, đi lại khó khăn và làm tăng chi phí sinh hoạt, bà B thường xuyên có lời nói lăng mạ như: "Ông chỉ là gánh nặng", "Sống cũng chỉ làm khổ con cháu". Không những vậy, bà B còn nhiều lần quát mắng, chửi bới, không cho ông A ăn cùng mâm với các thành viên trong gia đình, bố trí ông ở khu vực sinh hoạt tách biệt và đối xử lạnh nhạt, thiếu tôn trọng. Hàng xóm nhiều lần chứng kiến sự việc và phản ánh đến UBND xã. Qua xác minh, cơ quan chức năng kết luận bà B đã có hành vi lăng mạ, xúc phạm, ngược đãi và phân biệt đối xử đối với người cao tuổi được giao chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng. Hành vi của bà B có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại Điểm c khoản 1, điểm b khoản 4 Điều 9 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng của người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em tại cộng đồng) quy định:
1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đứng ra nhận nuôi dưỡng, chăm sóc thực hiện một trong các hành vi sau đối với đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
c) Lăng mạ, ngược đãi, xúc phạm, hành hạ, phân biệt đối xử đối với đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho đối tượng bị ảnh hưởng sức khỏe do hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều này.”
Đối với tình huống trên bà Trần Thị B có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà B (mức phạt áp dụng đối với trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 9 của Nghị định số 98/2026/NĐ-CP như sau: Buộc bà B phải chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho bà A là đối tượng bị ảnh hưởng sức khỏe do hành vi vi phạm của ông A gây ra.
Tình huống 9:
Bà Nguyễn Thị A, 82 tuổi, là người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa, được UBND xã X quyết định giao cho ông Trần Văn B là người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng và được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Trong thời gian đầu, ông B thực hiện đầy đủ việc chăm sóc. Tuy nhiên, sau đó ông B thường xuyên đi làm xa, để bà A ở nhà một mình trong nhiều ngày mà không bố trí người chăm sóc thay thế. Bà A không được chuẩn bị thức ăn, không có người hỗ trợ uống thuốc, nhiều lần phải nhờ hàng xóm giúp đỡ. Có thời điểm, bà A bị ngã trong nhà nhưng không được phát hiện kịp thời vì ông B không về chăm sóc trong nhiều ngày. Sau khi nhận được phản ánh của người dân, UBND xã phối hợp với cơ quan chuyên môn kiểm tra, xác minh và kết luận ông B đã bỏ mặc người được giao chăm sóc, không thực hiện đầy đủ trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định. Hành vi của ông B có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm a khoản 2, điểm a khoản 4 Điều 9 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng của người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em tại cộng đồng) quy định:
“2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện một trong các hành vi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sau:
a) Lợi dụng việc nhận chăm sóc, nuôi dưỡng để trục lợi;

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.”.
Đối với tình huống trên ông Trần Văn B có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 25.000.000 đồng đối với  hành vi vi phạm của ông Trần Văn B (mức phạt tiền áp dụng đối với trường hợp cá nhân vi phạm không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 9 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP: Buộc nộp ông B phải nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp là số tiền được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Tình huống 10:
Cháu Nguyễn Văn B, 13 tuổi, là trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ, được UBND xã X giao cho ông Trần Văn A đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng theo quy định của pháp luật. Thay vì tạo điều kiện cho cháu B học tập và sinh hoạt bình thường, ông A thường xuyên yêu cầu cháu B làm việc tại cơ sở thu mua phế liệu của gia đình. Hằng ngày, cháu B phải khuân vác các bao phế liệu nặng từ 20 đến 30 kg, tháo dỡ các thiết bị điện tử cũ có chứa hóa chất và cắt kim loại bằng máy cắt cầm tay mà không được trang bị phương tiện bảo hộ lao động. Mặc dù cháu B nhiều lần xin nghỉ vì mệt mỏi và bị thương ở tay, ông A vẫn ép buộc tiếp tục làm việc, nếu không sẽ không cho ăn và không cho đi học. Qua kiểm tra, UBND xã phối hợp với cơ quan chuyên môn xác định công việc mà ông A giao cho anh B là công việc nặng nhọc, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn lao động và ảnh hưởng đến sức khỏe. Hành vi của ông A có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm b khoản 2, khoản 4  Điều 9 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng của người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em tại cộng đồng) quy định:
“2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện một trong các hành vi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sau:
..
b) Ép buộc đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;
b) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho đối tượng bị ảnh hưởng sức khỏe do hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều này.”.
Đối với tình huống trên ông Trần Văn A có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông A (mức phạt tiền đối với cá nhân vi phạm hành chính trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP:
+ Buộc ông A phải nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp có được do cháu B lao động và làm việc tại cơ sở thu mua phế liệu của ông A;
+ Buộc ông A chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cháu B bị ảnh hưởng sức khỏe do hành vi vi phạm của ông A gây ra.
Tình huống 11:
Em Nguyễn Văn A, 13 tuổi, là trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ, thuộc đối tượng bảo trợ xã hội và được UBND xã X giao cho ông Trần Văn B là cậu ruột đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chăm sóc, ông B thường xuyên đưa em A đi cùng đến các khu chợ và bến xe để bán hàng rong. Nhận thấy em A còn nhỏ tuổi, dễ tạo lòng thương cảm, ông B nhiều lần hướng dẫn em giả vờ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để xin tiền người đi đường. Không dừng lại ở đó, ông B còn nhiều lần xúi giục em A lợi dụng lúc đông người để lấy trộm hàng hóa có giá trị nhỏ tại các quầy hàng với lý do "nếu bị phát hiện thì chỉ bị nhắc nhở vì còn nhỏ". Một lần, em A thực hiện theo lời ông B và lấy một số đồ dùng có giá trị thấp tại một cửa hàng tạp hóa. Hành vi được chủ cửa hàng phát hiện và báo cơ quan chức năng. Qua xác minh, cơ quan có thẩm quyền xác định ông B đã nhiều lần dụ dỗ, lôi kéo em A thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi của ông B có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
 Tại điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 9 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng của người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em tại cộng đồng) quy định:
”3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện một trong các hành vi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sau:
a) Dụ dỗ, lôi kéo đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;
b) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho đối tượng bị ảnh hưởng sức khỏe do hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều này.”
Đối với tình huống trên ông Trần Văn B có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 35.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông B (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP:
+ Buộc ông B phải nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp có được do dụ dỗ cháu A thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật;
+ Buộc ông B chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cháu A nếu bị ảnh hưởng sức khỏe do hành vi vi phạm của ông B gây ra.
Tình huống 13:
Em Lê Văn A, 13 tuổi, là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, thuộc diện được hưởng chính sách bảo trợ xã hội và được UBND xã X giao cho ông Nguyễn Văn B (là người thân trong gia đình) đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng em A, do muốn có thêm tiền chi tiêu cá nhân, ông B nhiều lần ép buộc em A đi bán hàng tại các khu vực công cộng nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký theo quy định. Khi em A không đồng ý, ông B đe dọa sẽ không cho ăn uống, không cho tiếp tục đi học và buộc em phải làm theo yêu cầu. Ngoài ra, ông B còn ép em A lấy trộm một số vật dụng có giá trị nhỏ tại các cửa hàng gần nhà để mang về cho ông sử dụng. Do sợ bị đánh mắng và bỏ rơi, em A đã thực hiện theo yêu cầu của ông B. Sau khi nhận được phản ánh của người dân, UBND xã X phối hợp với cơ quan chức năng tiến hành xác minh. Kết quả xác định ông Nguyễn Văn B đã có hành vi ép buộc đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi của ông B có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 9 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng của người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em tại cộng đồng) quy định:
“3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện một trong các hành vi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sau:
b) Ép buộc đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;
b) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho đối tượng bị ảnh hưởng sức khỏe do hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều này.”.
Đối với tình huống trên ông Nguyễn Văn B có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 35.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông B (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm hành chính trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Nghị định 98/2026/NĐ-CP:
+ Buộc ông B phải nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp có được do ép buộc cháu A thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật;
+ Buộc ông B chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cháu A nếu bị ảnh hưởng sức khỏe do hành vi vi phạm của ông B gây ra.
Tình huống 14:
Trung tâm Hỗ trợ và Chăm sóc người khuyết tật X là cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập được cấp phép hoạt động theo quy định. Trung tâm đang tiếp nhận, chăm sóc, nuôi dưỡng 35 người khuyết tật thuộc nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Theo quy định, cơ sở phải lập và lưu trữ đầy đủ hồ sơ của từng đối tượng được tiếp nhận, bao gồm hồ sơ cá nhân, giấy tờ xác định hoàn cảnh, quyết định tiếp nhận, kế hoạch chăm sóc, hồ sơ theo dõi sức khỏe và các tài liệu liên quan trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc. Trong quá trình kiểm tra định kỳ của cơ quan quản lý nhà nước, đoàn kiểm tra phát hiện Trung tâm còn thiếu hồ sơ của một số đối tượng đang được chăm sóc. Cụ thể: Một số hồ sơ không có giấy tờ xác định hoàn cảnh của đối tượng; một số trường hợp không có hồ sơ theo dõi quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng; một số tài liệu tiếp nhận đối tượng chưa được cập nhật, bổ sung đầy đủ theo quy định. Đại diện Trung tâm giải trình do thay đổi nhân sự quản lý hồ sơ nên việc lưu trữ còn thiếu sót. Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định Trung tâm đã có hành vi không lưu trữ đầy đủ hồ sơ, giấy tờ của đối tượng được tiếp nhận nuôi dưỡng, chăm sóc theo quy định của pháp luật. Hành vi của Trung tâm Hỗ trợ và Chăm sóc người khuyết tật X có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm về hoạt động của các loại hình cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở hỗ trợ nạn nhân, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em (gọi tắt là Cơ sở) quy định:
“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với Cơ sở lưu trữ không đầy đủ các loại hồ sơ, giấy tờ của đối tượng được tiếp nhận nuôi dưỡng, chăm sóc theo quy định của pháp luật.
Đối với tình huống trên Trung tâm Hỗ trợ và Chăm sóc người khuyết tật X có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 1.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Trung tâm Hỗ trợ và Chăm sóc người khuyết tật X (mức phạt áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP trong trường hợp không có tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ).
-Ngoài hình thức xử phạt chính, Nghị định số 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều này.
Tình huống 15:
Trung tâm Nuôi dưỡng và Chăm sóc người cao tuổi H là cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động. Hiện nay, Trung tâm đang tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng 45 người cao tuổi thuộc diện được hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Theo quy định, định kỳ hằng năm, Trung tâm phải thực hiện chế độ báo cáo về tình hình tổ chức hoạt động, số lượng đối tượng đang được tiếp nhận, kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng, tình hình nhân sự, cơ sở vật chất và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động gửi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, trong năm 2026, mặc dù đã được cơ quan quản lý nhà nước nhắc nhở, Trung tâm Nuôi dưỡng và Chăm sóc người cao tuổi H vẫn không thực hiện việc gửi báo cáo định kỳ theo quy định. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định Trung tâm không có văn bản báo cáo định kỳ về tình hình hoạt động của cơ sở theo yêu cầu. Đại diện Trung tâm giải trình nguyên nhân do thay đổi người phụ trách hành chính, dẫn đến việc bỏ sót nghĩa vụ báo cáo. Hành vi của Trung tâm Nuôi dưỡng và Chăm sóc người cao tuổi H có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm về hoạt động của các loại hình cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở hỗ trợ nạn nhân, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em (gọi tắt là Cơ sở) quy định:
“2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với Cơ sở thực hiện một trong các hành vi sau:
a) Không báo cáo định kỳ về tình hình hoạt động của Cơ sở theo quy định của pháp luật;”.
Đối với tình huống trên Trung tâm Nuôi dưỡng và Chăm sóc người cao tuổi H có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 3.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Trung tâm Nuôi dưỡng và Chăm sóc người cao tuổi H (mức phạt áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ).
- Ngoài hình thức xử phạt chính, Nghị định số 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 2 Điều này.
Tình huống 16:
Trung tâm Bảo trợ xã hội và Chăm sóc trẻ em X là cơ sở trợ giúp xã hội được cấp phép hoạt động, đang tiếp nhận, quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng 60 đối tượng, trong đó có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật và người cao tuổi thuộc diện được hưởng chính sách trợ giúp xã hội. Theo quy định, Trung tâm có trách nhiệm bảo đảm cấp phát đầy đủ các vật dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân thường ngày cho đối tượng được chăm sóc như: chăn, màn, chiếu, quần áo mùa hè, quần áo mùa đông, quần áo lót, khăn mặt, giày, dép, bàn chải đánh răng, thuốc chữa bệnh thông thường, đồ dùng vệ sinh cá nhân hằng tháng đối với đối tượng nữ, sách vở, đồ dùng học tập đối với đối tượng đang đi học và các vật dụng cần thiết khác theo quy định. Tuy nhiên, qua công tác kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện Trung tâm đã không thực hiện đầy đủ việc cấp phát đồ dùng sinh hoạt cho các đối tượng. Cụ thể: Một số trẻ em đang đi học không được cấp đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập theo quy định; đối tượng nữ không được cấp đầy đủ vật dụng vệ sinh cá nhân hằng tháng. Đại diện Trung tâm giải trình do khó khăn trong việc mua sắm, quản lý vật tư và nguồn kinh phí hạn chế nên chưa bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn cấp phát. Qua xác minh, cơ quan có thẩm quyền kết luận Trung tâm đã thực hiện hành vi cấp không đầy đủ hoặc cấp không bảo đảm chất lượng các vật dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân thường ngày của đối tượng được chăm sóc. Hành vi của Trung tâm Bảo trợ xã hội và Chăm sóc trẻ em X có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
 Tại điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm về hoạt động của các loại hình cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở hỗ trợ nạn nhân, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em (gọi tắt là Cơ sở) quy định:
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với Cơ sở thực hiện một trong các hành vi sau:
b) Cấp không đủ hoặc cấp không bảo đảm chất lượng một trong số các vật dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân thường ngày gồm: chăn, màn, chiếu, quần áo mùa hè, quần áo mùa đông, quần áo lót, khăn mặt, giày, dép, bàn chải đánh răng, thuốc chữa bệnh thông thường; vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với đối tượng là nữ, sách vở, đồ dùng học tập đối với đối tượng đang đi học và các đồ dùng khác theo quy định của pháp luật.”.
Đối với tình huống trên Trung tâm Bảo trợ xã hội và Chăm sóc trẻ em X có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 3.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Trung tâm Bảo trợ xã hội và Chăm sóc trẻ em X (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Ngoài hình thức xử phạt chính, Nghị định số 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 2 Điều này.
Tình huống 17:
Trung tâm Chăm sóc và Nuôi dưỡng người khuyết tật H là cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập được cấp phép hoạt động, hiện đang tiếp nhận, chăm sóc và nuôi dưỡng 50 người khuyết tật có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Theo quy định, trong quá trình hoạt động, Trung tâm phải bảo đảm các điều kiện về môi trường, y tế, cơ sở vật chất và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng, phục hồi chức năng và bảo vệ quyền lợi của người được tiếp nhận. Trong đợt kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước, đoàn kiểm tra phát hiện: Khu vệ sinh chung không được bố trí phù hợp với người khuyết tật vận động, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn.Mặc dù đã được cơ quan chuyên môn nhắc nhở khắc phục nhưng Trung tâm chưa thực hiện đầy đủ các yêu cầu bảo đảm điều kiện hoạt động. Qua xác minh, cơ quan có thẩm quyền kết luận Trung tâm Chăm sóc và Nuôi dưỡng người khuyết tật H đã có hành vi không bảo đảm một trong các điều kiện về môi trường, y tế, cơ sở vật chất, nhân sự theo quy định của pháp luật. Hành vi của Trung tâm Chăm sóc và Nuôi dưỡng người khuyết tật H có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm c khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 10 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm về hoạt động của các loại hình cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở hỗ trợ nạn nhân, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em (gọi tắt là Cơ sở) quy định:
“3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với Cơ sở thực hiện một trong các hành vi sau:

c) Không bảo đảm một trong các điều kiện về môi trường, y tế, cơ sở vật chất, nhân sự;”.
Đối với tình huống trên Trung tâm Chăm sóc và Nuôi dưỡng người khuyết tật H có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Trung tâm Chăm sóc và Nuôi dưỡng người khuyết tật H (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, cơ sở vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 10 Nghị định này:  Buộc Trung tâm Chăm sóc và Nuôi dưỡng người khuyết tật H phải sửa chữa, bổ sung, bảo đảm cơ sở vật chất, nhân sự đảm bảo theo quy định.
Tình huống 18:
Trung tâm Cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em và Hỗ trợ xã hội M là cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động. Trung tâm đang thực hiện việc tiếp nhận, tư vấn, hỗ trợ, chăm sóc và cung cấp các dịch vụ bảo vệ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị xâm hại, trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bỏ rơi. Theo quy định, trong quá trình cung cấp dịch vụ, Trung tâm phải thực hiện đúng quy trình chuyên môn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, bao gồm các bước: tiếp nhận thông tin, đánh giá mức độ nguy cơ, lập kế hoạch hỗ trợ, tổ chức can thiệp, theo dõi, đánh giá kết quả và lưu trữ hồ sơ theo quy định. Trong quá trình kiểm tra hoạt động của Trung tâm, cơ quan chức năng phát hiện một số trường hợp trẻ em được tiếp nhận hỗ trợ nhưng Trung tâm không thực hiện đầy đủ quy trình cung cấp dịch vụ. Cụ thể: Không thực hiện đầy đủ việc đánh giá mức độ nguy cơ đối với trẻ em trước khi xây dựng phương án hỗ trợ. Đại diện Trung tâm giải trình do số lượng trẻ em cần hỗ trợ tăng cao, nhân viên chuyên môn còn thiếu nên việc thực hiện quy trình chưa đầy đủ. Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định Trung tâm Cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em và Hỗ trợ xã hội M đã có hành vi không tuân thủ quy trình cung cấp dịch vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Hành vi của Trung tâm có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm d khoản 3 Điều 10 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm về hoạt động của các loại hình cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở hỗ trợ nạn nhân, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em (gọi tắt là Cơ sở) quy định:
“3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với Cơ sở thực hiện một trong các hành vi sau:
d) Không tuân thủ quy trình cung cấp dịch vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.”.
Đối với tình huống trên Trung tâm Cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em và Hỗ trợ xã hội M có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Trung tâm Cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em và Hỗ trợ xã hội M (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Ngoài hình thức xử phạt chính, Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 3 Điều 10 Nghị định này.
Tình huống 19:
Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội X được cơ quan có thẩm quyền lựa chọn thực hiện nhiệm vụ chi trả các chế độ chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Y, bao gồm: trợ cấp xã hội hằng tháng, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng và hỗ trợ chi phí mai táng cho các đối tượng thụ hưởng. Theo hợp đồng cung cấp dịch vụ chi trả, Công ty có trách nhiệm tiếp nhận kinh phí, tổ chức chi trả đầy đủ, đúng thời gian, đúng đối tượng và đúng mức hưởng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong tháng 6 năm 2026, qua phản ánh của một số đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội, UBND huyện Y tiến hành kiểm tra hoạt động chi trả của Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội X và phát hiện: Một số người khuyết tật đặc biệt nặng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng bị thiếu một phần kinh phí khi nhận tiền Công ty không thông báo rõ lý do việc chi trả thiếu cho người hưởng chính sách. Qua xác minh, cơ quan chức năng xác định Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội X đã thực hiện việc chi trả chế độ chính sách không đúng mức quy định cho các đối tượng thụ hưởng. Số tiền chi trả thiếu chưa được hoàn trả đầy đủ tại thời điểm kiểm tra. Hành vi của Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội X có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 11 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm của tổ chức dịch vụ chi trả) quy định:
“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Chi trả trợ cấp xã hội hằng tháng, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng, hỗ trợ chi phí mai táng (gọi chung là chế độ chính sách) không đủ mức cho đối tượng theo quy định của pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc chi trả chế độ chính sách đúng quy định cho đối tượng đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”.
Đối với tình huống trên Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội X có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội X (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, tổ chức dịch vụ chi trả phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định này: Buộc Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội X chi trả đầy đủ số tiền còn thiếu cho các đối tượng thụ hưởng theo đúng mức hưởng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Tình huống 20:
Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội P được cơ quan có thẩm quyền ký hợp đồng thực hiện việc chi trả các chế độ chính sách trên địa bàn xã M, bao gồm: trợ cấp xã hội hằng tháng, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng và các khoản hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật. Theo trách nhiệm được giao, Công ty phải tổ chức chi trả đúng đối tượng, đúng mức hưởng và đúng thời hạn theo lịch chi trả do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Trong tháng 7 năm 2026, theo kế hoạch, Công ty phải hoàn thành việc chi trả trợ cấp xã hội hằng tháng cho các đối tượng thụ hưởng trước ngày 10 của tháng. Tuy nhiên, do việc bố trí nhân sự không hợp lý và chậm thực hiện thủ tục đối chiếu danh sách, Công ty đã tổ chức chi trả chậm 20 ngày so với thời hạn quy định. Trong thời gian chậm chi trả, nhiều người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng bảo trợ xã hội gặp khó khăn trong việc bảo đảm các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu. Một số đối tượng đã phản ánh sự việc đến UBND xã M. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội P đã không thực hiện đúng thời hạn chi trả chế độ chính sách cho các đối tượng được hưởng. Việc chậm chi trả không xuất phát từ nguyên nhân khách quan bất khả kháng và chưa gây hậu quả đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi của ông A có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 11 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm của tổ chức dịch vụ chi trả) quy định:
“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
b) Chi trả chế độ chính sách không đúng thời hạn cho đối tượng theo quy định của pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc chi trả chế độ chính sách đúng quy định cho đối tượng đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”.
Đối với tình huống trên Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội P có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội P (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, tổ chức dịch vụ chi trả phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định này: Buộc Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội P phải thực hiện chi trả đúng quy định cho đối tượng theo đúng thời hạn, mức hưởng theo quy định.
Tình huống 21:
Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội K được cơ quan có thẩm quyền lựa chọn làm tổ chức dịch vụ chi trả các chế độ chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Z. Theo nhiệm vụ được giao, Công ty có trách nhiệm tiếp nhận kinh phí từ cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chi trả đầy đủ, đúng đối tượng, đúng mức và đúng thời gian các chế độ gồm: trợ cấp xã hội hằng tháng, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng và các khoản hỗ trợ khác theo quy định. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội K đã nhận đủ kinh phí chi trả trợ cấp xã hội tháng 7 năm 2026 cho các đối tượng trên địa bàn xã N. Tuy nhiên, sau khi nhận kinh phí, Công ty không tổ chức chi trả cho 15 đối tượng thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội theo danh sách đã được phê duyệt. Qua thời gian chi trả theo quy định, một số người cao tuổi, người khuyết tật và người thuộc diện bảo trợ xã hội không nhận được khoản trợ cấp của mình đã phản ánh sự việc đến UBND xã N. Cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, xác minh và phát hiện: Công ty không thực hiện việc chi trả cho các đối tượng theo quy định do không có căn cứ xác định hành vi chiếm đoạt hoặc gây hậu quả đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi của Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội K có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm a khoản 2, khỏn 3 Điều 11 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm của tổ chức dịch vụ chi trả) quy định:
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Không chi trả chế độ chính sách cho đối tượng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc chi trả chế độ chính sách đúng quy định cho đối tượng đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”.
Đối với tình huống trên Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội K có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội K ( (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội K phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định này. Buộc chi trả đầy đủ chế độ chính sách cho các đối tượng được hưởng theo đúng quy định.
Tình huống 22:
Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội T được cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn thực hiện nhiệm vụ chi trả các chế độ chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn xã A, bao gồm: trợ cấp xã hội hằng tháng, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng và các khoản hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật. Theo trách nhiệm được giao, Công ty phải căn cứ đúng danh sách đối tượng được hưởng chế độ chính sách do cơ quan quản lý nhà nước cung cấp để thực hiện chi trả đúng người, đúng mức và đúng thời gian quy định. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chi trả trợ cấp xã hội tháng 7 năm 2026, nhân viên của Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội T đã xảy ra sai sót trong việc đối chiếu danh sách. Do nhầm lẫn thông tin giữa hai người có tên gần giống nhau, Công ty đã chi trả khoản trợ cấp xã hội hằng tháng của bà Nguyễn Thị B (người có tên trong danh sách được hưởng) cho ông Nguyễn Văn C (người không thuộc diện được hưởng chính sách). Sau khi phát hiện sự việc, bà B phản ánh đến UBND xã A. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định: Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội T đã thực hiện chi trả nhầm đối tượng số tiền chi trả sai chưa gây hậu quả nghiêm trọng và chưa có căn cứ xác định hành vi chiếm đoạt hoặc gian dối nhằm trục lợi. Hành vi của Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội T có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 11 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm của tổ chức dịch vụ chi trả) quy định:
“2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
b) Chi trả chế độ chính sách không đúng đối tượng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc chi trả chế độ chính sách đúng quy định cho đối tượng đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”.
Đối với tình huống trên Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội T có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội T (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, Công ty Dịch vụ chi trả an sinh xã hội T phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định này. Buộc thu hồi khoản tiền đã chi trả không đúng đối tượng theo quy định của pháp luật.
Tình huống 23:
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã A phát động tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài địa phương để hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng do đợt lũ lớn xảy ra trên địa bàn. Sau khi tiếp nhận, UBND xã A giao cho ông Nguyễn Văn B, là cán bộ phụ trách công tác tiếp nhận và quản lý hàng cứu trợ, thực hiện việc bảo quản, thống kê và phân phối số hàng hóa cứu trợ đến các hộ dân bị thiệt hại. Trong quá trình quản lý, ông B đã không thực hiện đúng yêu cầu bảo quản hàng cứu trợ. Cụ thể: Một số lượng lớn gạo cứu trợ được tập kết tại kho tạm nhưng không được kê cao, che chắn đầy đủ làm cho nhiều bao gạo bị ẩm mốc, hư hỏng do để tiếp xúc trực tiếp với nền kho. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định số hàng cứu trợ bị hư hỏng, thất thoát không phải do nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn mà do lỗi trong quá trình quản lý, bảo quản của ông B. Giá trị hàng cứu trợ bị hư hỏng, thất thoát chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi của ông B có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
 Tại điểm a khoản 1, điểm a khoản Điều 12 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về quản lý tiền, hàng cứu trợ) quy định:
“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự:
a) Để hư hỏng, thất thoát tiền, hàng cứu trợ, trừ trường hợp bất khả kháng do thiên tai, hỏa hoạn;

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc hoàn trả số tiền hoặc bồi thường giá trị hàng cứu trợ bị hư hỏng, thất thoát do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;”.
Đối với tình huống trên ông Nguyễn Văn B có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn B (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm hành chính trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị định này. Buộc ông B phải hoàn trả hoàn trả số tiền hoặc bồi thường giá trị hàng cứu trợ bị hư hỏng, thất thoát do ông B đã không thực hiện đúng yêu cầu bảo quản hàng cứu trợ.
Tình huống 24:
Trong đợt vận động cứu trợ người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai trên địa bàn huyện X, Ban Cứu trợ xã X tiếp nhận nhiều loại hàng hóa do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh hỗ trợ, gồm: gạo, mì ăn liền, nước uống, quần áo, chăn màn và các nhu yếu phẩm thiết yếu khác. Ông Trần Văn A được Ban Cứu trợ xã X phân công quản lý kho hàng cứu trợ, có trách nhiệm tiếp nhận, bảo quản và xuất cấp hàng hóa theo danh sách, kế hoạch đã được phê duyệt. Trong quá trình quản lý kho, do muốn giữ lại một số loại hàng hóa có chất lượng tốt để sử dụng cho mục đích cá nhân, ông A đã tự ý thay thế một số thùng hàng cứu trợ có giá trị, chất lượng cao bằng các sản phẩm khác có giá trị thấp hơn trước khi bàn giao cho các hộ dân bị thiệt hại. Cụ thể: Một số thùng sữa dinh dưỡng do doanh nghiệp hỗ trợ đã bị ông A thay bằng loại sữa thông thường có giá trị thấp hơn.Việc thay đổi hàng hóa không được sự đồng ý của Ban Cứu trợ và không có thông báo cho đơn vị, cá nhân tiếp nhận. Sau khi nhận phản ánh của người dân, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra kho hàng và xác định ông A đã có hành vi tự ý thay đổi, tráo đổi hàng cứu trợ trong quá trình quản lý. Hành vi của ông A có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm c khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 12 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về quản lý tiền, hàng cứu trợ) quy định:
“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự:

c) Tráo đổi hàng cứu trợ.
2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

c) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người sử dụng hàng cứu trợ bị ảnh hưởng sức khỏe do hành vi vi phạm quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này.”.
Đối với tình huống trên ông Trần Văn A có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Trần Văn A (mức phạt áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Trần Văn A phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Nghị định này: Buộc ông A phải hoàn trả toàn bộ số sữa đã bị thay thế đúng chủng loại, số lượng, chất lượng hàng cứu trợ theo quy định ban đầu.
Tình huống 25:
Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã A tổ chức chương trình giao lưu văn nghệ dành cho người dân trên địa bàn nhằm tạo điều kiện để mọi người, trong đó có người khuyết tật, tham gia các hoạt động cộng đồng. Ông Nguyễn Văn B là thành viên Ban tổ chức chương trình được giao nhiệm vụ tiếp nhận đăng ký và sắp xếp người tham gia biểu diễn. Bà Trần Thị C là người khuyết tật vận động, có nhu cầu đăng ký tham gia biểu diễn một tiết mục văn nghệ tại chương trình. Bà C có đầy đủ khả năng tham gia và đã đăng ký theo đúng quy định. Tuy nhiên, ông B cho rằng việc bà C sử dụng xe lăn sẽ gây khó khăn cho việc bố trí sân khấu nên đã từ chối tiếp nhận đăng ký của bà C, đồng thời yêu cầu bà không tham gia chương trình với lý do "đây là hoạt động dành cho người bình thường, người khuyết tật nên tham gia các hoạt động riêng".Sau khi sự việc xảy ra, bà C phản ánh đến UBND xã A. Qua xác minh, cơ quan chức năng xác định: Việc từ chối cho bà C tham gia không xuất phát từ lý do bảo đảm an toàn hoặc quy định hợp pháp của chương trình, ông B đã có hành vi cản trở người khuyết tật tham gia bình đẳng vào hoạt động xã hội. Hành vi của ông B có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm d khoản 1 Điều 13 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về hành vi bị nghiêm cấm đối với người khuyết tật) quy định:
“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
d) Cản trở người khuyết tật tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;”.
Đối với tình huống trên ông Nguyễn Văn B có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn B (mức phạt áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều 13 Nghị định này.
Tình huống 26:
Trường Trung học phổ thông A triển khai hệ thống học tập trực tuyến và phòng máy tính dùng chung nhằm tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận công nghệ thông tin, phục vụ việc học tập và tham gia các hoạt động giáo dục. Em Nguyễn Văn B là học sinh khuyết tật vận động, có khả năng sử dụng máy tính và các thiết bị công nghệ thông tin để học tập như các học sinh khác. Theo quy định của nhà trường, học sinh được phép sử dụng phòng máy vào các buổi học và thời gian tự học theo lịch đăng ký. Tuy nhiên, ông Trần Văn C là nhân viên phụ trách quản lý phòng máy đã nhiều lần không cho em B sử dụng máy tính với lý do: "Học sinh khuyết tật sử dụng máy sẽ khó quản lý, làm chậm tiến độ của các bạn khác". Ông C còn tự ý khóa tài khoản học tập trực tuyến của em B, không cung cấp mật khẩu truy cập hệ thống học tập điện tử mặc dù nhà trường đã cấp quyền sử dụng cho em. Sau khi phụ huynh phản ánh, Ban giám hiệu nhà trường tiến hành kiểm tra và xác định: Em B đủ điều kiện sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin phục vụ học tập. Nhà trường không có quy định hạn chế học sinh khuyết tật tiếp cận hệ thống công nghệ thông tin. Hành vi của ông C có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm đ khoản 1 Điều 13 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về hành vi bị nghiêm cấm đối với người khuyết tật) quy định:
“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
đ) Cản trở người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận công nghệ thông tin.”.
Đối với tình huống trên ông Trần Văn C có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi  vi phạm của ông C (mức phạt tiền áp dụng cho cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều 13 Nghị định này.
Tình huống 27:
Ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B là vợ chồng, có con trai là anh Nguyễn Văn C, 25 tuổi, là người khuyết tật đặc biệt nặng do bị bệnh bẩm sinh, không có khả năng tự phục vụ các nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày. Theo quy định của pháp luật, ông A và bà B có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo đảm các điều kiện sinh hoạt, sức khỏe và hỗ trợ anh C hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, trong thời gian dài, do hoàn cảnh gia đình khó khăn và thiếu trách nhiệm, ông A và bà B đã không thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng anh C, cụ thể: Không bảo đảm chế độ ăn uống, sinh hoạt tối thiểu cho anh C, không đưa anh C đi khám, chữa bệnh khi có dấu hiệu sức khỏe giảm sút. Hàng xóm phát hiện anh C nhiều lần trong tình trạng sức khỏe yếu, thiếu điều kiện sinh hoạt và phản ánh đến UBND xã X. Qua kiểm tra, xác minh, cơ quan chức năng xác định: Anh C là người khuyết tật đặc biệt nặng, thuộc trường hợp cần được chăm sóc, nuôi dưỡng. Hành vi của ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại Khoản 2, điểm c khoản 5 Điều 13 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về hành vi bị nghiêm cấm đối với người khuyết tật) quy định:
“2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật theo quy định của pháp luật.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
c) Buộc thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật theo quy định của pháp luật.”.
Đối với tình huống trên ông A, bà B có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính (mức phạt tiền áp dụng cho cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
+ Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi phạm của ông Nguyễn Văn A;
+ Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà Trần Thị B.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm c khoản 5 Điều 13 Nghị định này. Buộc thực hiện đầy đủ trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật theo quy định của pháp luật.
Tình huống 28:
Ông Nguyễn Văn A là chủ một trang mạng xã hội chuyên đăng tải các nội dung kêu gọi hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn. Trong thời gian gần đây, ông A tự ý sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của chị Trần Thị B là người khuyết tật vận động để đăng tải bài viết kêu gọi cộng đồng quyên góp tiền với nội dung: “Hỗ trợ chị B có chi phí chữa bệnh và mua phương tiện trợ giúp để đi lại”. Tuy nhiên, ông A không thông báo, không được sự đồng ý của chị B và cũng không được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cho phép sử dụng hình ảnh, thông tin của chị B để vận động hỗ trợ. Sau khi nhận được tiền chuyển khoản từ nhiều cá nhân, ông A không thực hiện việc mua phương tiện trợ giúp hoặc hỗ trợ chi phí điều trị cho chị B như đã thông tin mà sử dụng một phần số tiền vào mục đích cá nhân. Qua phản ánh của người dân, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, xác minh và xác định: Hình ảnh, thông tin về tình trạng khuyết tật của chị B bị ông A sử dụng khi chưa có sự đồng ý việc kêu gọi hỗ trợ được thực hiện nhằm tạo lòng tin để nhận tiền từ cộng đồng. Hành vi của ông Nguyễn Văn A có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 3, điểm a, điểm c khoản 5 Điều 13 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về hành vi bị nghiêm cấm đối với người khuyết tật) quy định:
“3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng hình ảnh, thông tin cá nhân, tình trạng của người khuyết tật, tổ chức của người khuyết tật, tổ chức vì người khuyết tật để trục lợi hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này;
c) Buộc thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật theo quy định của pháp luật.”.
Đối với tình huống trên ông Nguyễn Văn A có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông A (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm hành chính trong trường hợp không có tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Nguyễn Văn A phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, điểm c khoản 5 Điều 13 Nghị định này:
+ Buộc ông A phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy mà có;
+ Buộc thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật theo quy định của pháp luật.
Tình huống 29:
Ông Trần Văn A là chủ một cơ sở kinh doanh nhỏ trên địa bàn xã X. Ông A quen biết anh Nguyễn Văn B, 30 tuổi, là người khuyết tật vận động, khả năng nhận thức và giao tiếp còn hạn chế. Do muốn giảm chi phí thuê nhân công và lợi dụng hoàn cảnh của anh B, ông A đã nhiều lần dụ dỗ, lôi kéo anh B thực hiện việc vận chuyển, giao nhận một số hàng hóa không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp cho các khách hàng của mình. Ông A nói với anh B rằng đây chỉ là "việc làm thêm bình thường", đồng thời hứa sẽ trả tiền công cao nếu anh B thực hiện theo yêu cầu. Do tin tưởng ông A và không nhận thức đầy đủ về tính chất vi phạm của hành vi, anh B đã thực hiện việc giao nhận hàng hóa theo chỉ dẫn. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện một số hàng hóa do anh B vận chuyển không có giấy tờ hợp lệ. Qua xác minh, cơ quan chức năng xác định: Anh B là người khuyết tật và bị ông A lợi dụng hoàn cảnh để tác động, dụ dỗ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi của ông A có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 4, điểm a, điểm c khoản 5 Điều 13 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về hành vi bị nghiêm cấm đối với người khuyết tật) quy định:
“4. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người khuyết tật thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này;
c) Buộc thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật theo quy định của pháp luật.”.
Đối với tình huống trên ông Trần Văn A có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 35.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ôgn Trần Văn A (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Trần Văn A phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, điểm c khoản 5 Điều 13 Nghị định này:
+ Buộc ông A nộp lại số lợi bất hợp pháp phát sinh từ hành vi vi phạm, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật bị lợi dụng;
+ Buộc thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật theo quy định của pháp luật.
Tình huống 30:
Bệnh viện đa khoa X là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có khoa Sản và khoa Nhi, thường xuyên tiếp nhận phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh đến khám, theo dõi sức khỏe. Chị Nguyễn Thị A đang mang thai 24 tuần đến khám thai định kỳ tại bệnh viện. Qua thăm khám, bác sĩ phát hiện thai nhi có một số yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến dị tật bẩm sinh, cần được tư vấn về các biện pháp theo dõi, sàng lọc trước sinh và phát hiện sớm nguy cơ khuyết tật. Tuy nhiên, bác sĩ trực tiếp khám bệnh chỉ ghi kết quả khám vào hồ sơ bệnh án, không tư vấn cho chị A về nguy cơ có thể xảy ra, không hướng dẫn thực hiện các xét nghiệm sàng lọc cần thiết và cũng không giới thiệu đến cơ sở chuyên khoa để được tư vấn theo quy định. Sau khi sinh, trẻ được phát hiện mắc dị tật bẩm sinh. Gia đình phản ánh đến Sở Y tế cho rằng trong quá trình khám thai, bệnh viện không thực hiện việc tư vấn các biện pháp phòng ngừa và phát hiện sớm khuyết tật. Qua thanh tra kiểm tra xác minh: Bệnh viện có trách nhiệm thực hiện tư vấn phòng ngừa, phát hiện sớm khuyết tật đối với trường hợp có yếu tố nguy cơ. Bác sĩ điều trị đã không thực hiện nội dung tư vấn theo quy định chuyên môn. Hành vi của Bệnh viện đa khoa X có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh) quy định:
“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không tư vấn biện pháp phòng ngừa và phát hiện sớm khuyết tật.”.
Đối với tình huống trên Bệnh viện đa khoa X có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 2.000.000 đồng đối với hành vi vi pham của Bệnh viện đa khoa X Tính chất, mức độ của hành vi vi phạm (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 14 Nghị định này.
Tình huống 31:
Bệnh viện Đa khoa X là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có khoa Sản và khoa Nhi, thực hiện tiếp nhận, chăm sóc và theo dõi trẻ sơ sinh sau sinh theo quy định. Ngày 15/3/2026, chị Nguyễn Thị A sinh con tại Bệnh viện Đa khoa huyện X. Sau khi trẻ được sinh ra, qua thăm khám ban đầu có biểu hiện bất thường ở bàn chân và khớp háng, là những dấu hiệu có thể liên quan đến khuyết tật bẩm sinh cần được khám chuyên sâu và xác định sớm để điều trị, chỉnh hình. Tuy nhiên, kíp trực và bác sĩ phụ trách khoa Nhi chỉ thực hiện các kiểm tra thông thường, không tiến hành đánh giá, xác định tình trạng khuyết tật bẩm sinh, không chỉ định các xét nghiệm hoặc chẩn đoán cần thiết và cũng không chuyển trẻ đến cơ sở chuyên khoa để được khám, can thiệp sớm theo quy định. Ba tháng sau, gia đình đưa trẻ đến bệnh viện tuyến trên khám và được xác định trẻ mắc khuyết tật bẩm sinh về hệ vận động. Bác sĩ kết luận nếu được phát hiện ngay sau khi sinh thì việc điều trị, chỉnh hình và phục hồi chức năng sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Gia đình phản ánh vụ việc đến Sở Y tế. Qua thanh tra, cơ quan có thẩm quyền xác định: Bệnh viện có trách nhiệm thực hiện việc kiểm tra, xác định khuyết tật bẩm sinh đối với trẻ sơ sinh theo quy định chuyên môn việc không thực hiện xác định khuyết tật bẩm sinh là do thiếu sót trong quá trình khám, theo dõi trẻ sau sinh. Cơ quan có thẩm quyền kết luận Bệnh viện Đa khoa X đã thực hiện hành vi không thực hiện xác định khuyết tật bẩm sinh đối với trẻ sơ sinh để kịp thời có biện pháp điều trị, chỉnh hình và phục hồi chức năng phù hợp. Hành vi của Bệnh viện đa khoa X có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh) quy định:
“2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện xác định khuyết tật bẩm sinh đối với trẻ em sơ sinh để kịp thời có biện pháp điều trị và chỉnh hình, phục hồi chức năng phù hợp.”.
Đối với tình huống trên Bệnh viện đa khoa X có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Bệnh viện Đa khoa X (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 14 Nghị định này.
Tình huống 32:
Bệnh viện Đa khoa X được cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án cải tạo, sửa chữa khu khám bệnh ngoại trú nhằm nâng cấp cơ sở vật chất, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân. Theo hồ sơ thiết kế và quy định của pháp luật về người khuyết tật, trong quá trình cải tạo bệnh viện phải bảo đảm các điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật như: xây dựng đường dốc dành cho xe lăn, lắp đặt tay vịn tại khu vực cầu thang, cải tạo nhà vệ sinh phù hợp, bố trí lối đi thuận tiện và các hạng mục hỗ trợ tiếp cận khác. Tuy nhiên, sau khi hoàn thành công trình, đoàn kiểm tra của Sở Y tế và Sở Xây dựng phát hiện: Khu khám bệnh mới vẫn chỉ có cầu thang, không bố trí đường dốc hoặc thiết bị hỗ trợ người sử dụng xe lăn; Nhà vệ sinh không được cải tạo phù hợp cho người khuyết tật. Qua làm việc, Ban Giám đốc bệnh viện thừa nhận đã cắt giảm một số hạng mục nhằm giảm chi phí đầu tư và cho rằng sẽ bổ sung sau khi công trình đưa vào sử dụng. Cơ quan có thẩm quyền xác định Bệnh viện Đa khoa X đã thực hiện hành vi không thực hiện cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật khi tiến hành cải tạo, sửa chữa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Hành vi của Bệnh viện đa khoa X có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh) quy định:
3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật khi tiến hành cải tạo, sửa chữa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.”.
Đối với tình huống trên Bệnh viện đa khoa X có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 12.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Bệnh viện Đa khoa X (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 14 Nghị định này.
Tình huống 33:
Trường Trung học cơ sở X là cơ sở giáo dục công lập có tiếp nhận học sinh khuyết tật học hòa nhập. Em Nguyễn Văn A là học sinh lớp 7, bị khuyết tật vận động nặng và được Hội đồng xác định mức độ khuyết tật kết luận là người khuyết tật nặng. Đồng thời, theo hồ sơ y tế và ý kiến của cơ sở chuyên môn, em A không đủ khả năng tham gia một số nội dung thực hành của môn Giáo dục thể chất. Đầu năm học, gia đình em A đã gửi đơn đề nghị nhà trường xem xét miễn thực hiện các nội dung vận động cường độ cao của môn Giáo dục thể chất, đồng thời kèm theo giấy xác nhận tình trạng sức khỏe và hồ sơ khuyết tật. Tuy nhiên, Ban Giám hiệu nhà trường không xem xét đề nghị mà yêu cầu em A phải tham gia đầy đủ các nội dung học tập như các học sinh khác. Giáo viên bộ môn nhiều lần buộc em A thực hiện các bài chạy bền, bật xa và leo dây. Do không thể thực hiện, em A thường xuyên bị đánh giá không hoàn thành môn học và bị trừ điểm rèn luyện. Sau khi nhận được phản ánh của gia đình, Sở Giáo dục và Đào tạo tiến hành kiểm tra. Kết quả xác minh cho thấy: Em A thuộc đối tượng được xem xét miễn, giảm một số nội dung giáo dục phù hợp với khả năng theo quy định của pháp luật. Nhà trường không tổ chức đánh giá nhu cầu hỗ trợ học tập của học sinh khuyết tật và không xem xét việc miễn, giảm các nội dung mà em A không có khả năng thực hiện. Hành vi của Trường THCS X có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm c khoản 1 Điều 15 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm giáo dục đối với người khuyết tật của cơ sở giáo dục) quy định:
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
c) Không cho phép người khuyết tật được miễn, giảm một số môn học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của người khuyết tật không thể đáp ứng;”.
Đối với tình huống trên Trường THCS X có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Trường Trung học cơ sở X (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 15 Nghị định này.
Tình huống 34:
Trường Tiểu học X là cơ sở giáo dục công lập thực hiện giáo dục hòa nhập trên địa bàn xã Y. Tháng 8 năm 2026, bà Nguyễn Thị A làm hồ sơ xin cho con là em Trần Văn B, 11 tuổi, bị khuyết tật trí tuệ mức độ nhẹ, nhập học lớp 1 tại Trường Tiểu học X. Do tình trạng khuyết tật và quá trình điều trị kéo dài, em B chưa có điều kiện đến trường đúng độ tuổi theo quy định. Hồ sơ của em B có đầy đủ giấy khai sinh, giấy xác nhận khuyết tật, hồ sơ y tế và văn bản đề nghị được nhập học ở độ tuổi cao hơn theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, Hiệu trưởng Trường Tiểu học X từ chối tiếp nhận với lý do: "Nhà trường chỉ tiếp nhận học sinh đúng độ tuổi vào lớp 1; học sinh quá tuổi sẽ ảnh hưởng đến công tác quản lý và chất lượng giáo dục." Gia đình nhiều lần đề nghị nhà trường xem xét nhưng vẫn bị từ chối. Sau đó, gia đình gửi đơn phản ánh đến Sở Giáo dục và Đào tạo. Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định: Em Trần Văn B là người khuyết tật thuộc đối tượng được pháp luật bảo đảm quyền học hòa nhập và được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với quy định chung nhà trường không có căn cứ pháp lý để từ chối tiếp nhận em B. Hành vi của Trường Tiểu học X có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại Điểm d khoản 1 Điều 15 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm giáo dục đối với người khuyết tật của cơ sở giáo dục) quy định:
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
d) Từ chối người khuyết tật nhập học ở độ tuổi cao hơn theo quy định của pháp luật;”.
Đối với tình huống trên Trường Tiểu học X có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm đối với hành vi của Trường Tiểu học X (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 15 Nghị định này.
Tình huống 35:
Trường Trung học cơ sở X là cơ sở giáo dục công lập có tổ chức giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật. Năm 2026, trường được cấp kinh phí để cải tạo, sửa chữa khu nhà học ba tầng, khu vệ sinh và sân trường nhằm nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy và học. Theo hồ sơ thiết kế và quy định của pháp luật về người khuyết tật, khi thực hiện cải tạo, sửa chữa, nhà trường phải bảo đảm các điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật như: xây dựng đường dốc cho xe lăn, lắp tay vịn tại cầu thang, cải tạo nhà vệ sinh phù hợp, bố trí lối đi thuận tiện và lắp đặt biển chỉ dẫn cần thiết.Tuy nhiên, sau khi công trình hoàn thành, đoàn kiểm tra của Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với cơ quan chuyên môn phát hiện: Khu nhà học mới vẫn chỉ có cầu thang, không có đường dốc hoặc thiết bị hỗ trợ học sinh sử dụng xe lăn; nhà vệ sinh không được cải tạo phù hợp với người khuyết tật. Qua làm việc, Hiệu trưởng nhà trường cho rằng việc xây dựng các hạng mục tiếp cận sẽ làm tăng chi phí nên chưa thực hiện và dự kiến sẽ bổ sung trong giai đoạn sau. Đoàn kiểm tra kết luận: Trường Trung học cơ sở X đã tiến hành cải tạo, sửa chữa cơ sở giáo dục nhưng không bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật theo quy định của pháp luật. Hành vi của Trường THCS X có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm b khoản 2 Điều 15 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về trách nhiệm giáo dục đối với người khuyết tật của cơ sở giáo dục) quy định:
“2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Không thực hiện cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất dạy và học bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật khi tiến hành cải tạo, sửa chữa cơ sở giáo dục.”.
Đối với tình huống trên Trường Trung học cơ sở X có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 12.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Trường Trung học cơ sở X (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 15 Nghị định này.
Tình huống 36:
Trường Cao đẳng Nghề X là cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đào tạo nghề may công nghiệp, tin học văn phòng và thiết kế đồ họa cho người khuyết tật. Năm 2026, nhà trường có 35 học viên là người khuyết tật tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề. Theo quy định, nhà trường có trách nhiệm tổ chức hoạt động tư vấn việc làm, giới thiệu việc làm và phối hợp với doanh nghiệp để hỗ trợ học viên sau tốt nghiệp tìm kiếm việc làm phù hợp với khả năng và tình trạng khuyết tật. Tuy nhiên, sau khi kết thúc khóa học, nhà trường chỉ tổ chức lễ tốt nghiệp mà không thực hiện bất kỳ hoạt động tư vấn việc làm nào cho học viên khuyết tật; không cung cấp thông tin tuyển dụng, không kết nối với doanh nghiệp sử dụng lao động và cũng không hướng dẫn học viên về cơ hội việc làm hoặc chính sách hỗ trợ việc làm dành cho người khuyết tật. Nhiều học viên phản ánh đến Sở Giáo dục và Đào tạo (hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về giáo dục nghề nghiệp) rằng sau khi tốt nghiệp họ không được nhà trường hỗ trợ tìm kiếm việc làm theo quy định. Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định: Trường Cao đẳng Nghề X không xây dựng kế hoạch tư vấn việc làm cho người khuyết tật sau đào tạo, không tổ chức các hoạt động tư vấn, hướng nghiệp hoặc giới thiệu việc làm theo quy định. Hành vi của Trường Cao đẳng Nghề X có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại khoản 1 Điều 16 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về hoạt động giáo dục nghề nghiệp của cơ sở giáo dục nghề nghiệp đối với người khuyết tật) quy định:
“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không tư vấn việc làm cho người khuyết tật theo quy định của pháp luật.”.
Đối với tình huống trên Trường Cao đẳng Nghề X có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Trường Cao đẳng Nghề X (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định này.
Tình huống 37:
Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Hòa Bình được cấp phép tổ chức đào tạo nghề kỹ thuật tin học và nghề may công nghiệp cho người khuyết tật. Năm 2026, Trung tâm tuyển sinh 40 học viên, trong đó có 22 học viên là người khuyết tật vận động, khiếm thính và khiếm thị. Qua phản ánh của học viên, Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp tiến hành kiểm tra hoạt động của Trung tâm. Kết quả kiểm tra cho thấy: Trung tâm sử dụng chung chương trình, giáo trình đào tạo dành cho người không khuyết tật, không có tài liệu được điều chỉnh phù hợp với từng dạng tật; không có giáo trình chữ nổi Braille hoặc tài liệu điện tử hỗ trợ học viên khiếm thị; không có tài liệu trực quan hoặc phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu hỗ trợ học viên khiếm thính. Qua xác minh, cơ quan có thẩm quyền kết luận Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Hòa Bình không bảo đảm chương trình, giáo trình và đội ngũ nhà giáo phù hợp với hoạt động giáo dục nghề nghiệp cho người khuyết tật, vi phạm quy định của pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Hòa Bình có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 16 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về hoạt động giáo dục nghề nghiệp của cơ sở giáo dục nghề nghiệp đối với người khuyết tật) quy định:
“2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
b) Không đủ chương trình hoặc giáo trình hoặc đội ngũ nhà giáo phù hợp với hoạt động giáo dục nghề nghiệp cho người khuyết tật;

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc bổ sung đủ chương trình, giáo trình, đội ngũ nhà giáo phù hợp với giáo dục nghề nghiệp cho người khuyết tật đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;”
Đối với tình huống trên Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Hòa Bình có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 17.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Hòa Bình (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Hòa Bình phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 3 Điều 16 Nghị định này. Buộc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Hòa Bình bổ sung đủ chương trình, giáo trình, đội ngũ nhà giáo phù hợp với giáo dục nghề nghiệp cho người khuyết tật.
Tình huống 38:
Trường Cao đẳng Nghề A là cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đào tạo nghề kỹ thuật chế biến món ăn và thiết kế đồ họa cho người khuyết tật. Trong năm học 2025–2026, anh Nguyễn Văn H là người khuyết tật vận động đã hoàn thành chương trình đào tạo nghề thiết kế đồ họa. Kết quả học tập cho thấy anh H đã hoàn thành đầy đủ các học phần, đạt yêu cầu kiểm tra, thi tốt nghiệp và đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được cấp bằng tốt nghiệp theo quy định của pháp luật cũng như quy chế đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên, khi thực hiện việc cấp văn bằng, nhà trường không cấp bằng tốt nghiệp cho anh H với lý do: "Anh H là người khuyết tật, khả năng làm việc còn hạn chế nên chưa cần cấp bằng; khi nào tìm được đơn vị tuyển dụng thì nhà trường sẽ xem xét." Trong khi đó, các học viên khác cùng khóa đã được cấp bằng đúng thời hạn. Anh H nhiều lần gửi đơn đề nghị giải quyết nhưng nhà trường không trả lời bằng văn bản và vẫn không thực hiện việc cấp văn bằng.
Sau khi nhận được phản ánh, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp tiến hành kiểm tra và kết luận: Anh H đã đủ điều kiện được cấp bằng tốt nghiệp theo quy định của pháp luật. Nhà trường không có căn cứ pháp lý để từ chối hoặc trì hoãn việc cấp văn bằng. Hành vi của Trường Cao đẳng Nghề A đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khuyết tật và vi phạm quy định về hoạt động giáo dục nghề nghiệp đối với người khuyết tật. Hành vi của Trường Cao đẳng nghề A có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm d khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 16 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về hoạt động giáo dục nghề nghiệp của cơ sở giáo dục nghề nghiệp đối với người khuyết tật) quy định:
“2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
d) Không cấp văn bằng, chứng chỉ khi người khuyết tật có đủ điều kiện được cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định của pháp luật.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Buộc cấp văn bằng, chứng chỉ đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 2 Điều này.”.
Đối với tình huống trên Trường Cao đẳng nghề A có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 17.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Trường Cao đẳng Nghề A (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính Trường Cao đẳng Nghề A phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm b khoản 3 Điều 16 Nghị định này. Buộc cấp văn bằng, chứng chỉ cho người khuyết tật khi đã đủ điều kiện theo đúng quy định của pháp luật.
Tình huống 40:
Công ty Cổ phần Vận tải hành khách Minh Phát là đơn vị khai thác tuyến xe buýt nội tỉnh từ thành phố A đến huyện B. Ngày 18/7/2026, anh Nguyễn Văn H là người khuyết tật vận động, sử dụng xe lăn gấp chuyên dụng để di chuyển, đến điểm đầu tuyến để lên xe buýt đi khám bệnh. Anh H đã mua vé đầy đủ và có xe lăn là phương tiện hỗ trợ di chuyển theo quy định. Khi xe buýt đến đón khách, nhân viên phục vụ và lái xe thấy anh H đi cùng xe lăn nên từ chối cho anh lên xe với lý do: "Xe lăn chiếm nhiều diện tích, gây bất tiện cho hành khách khác; nếu muốn đi thì phải tự để xe lăn ở nhà hoặc thuê phương tiện khác." Mặc dù anh H giải thích xe lăn có thể gấp gọn và là phương tiện hỗ trợ bắt buộc đối với người khuyết tật, lái xe vẫn kiên quyết từ chối vận chuyển. Anh H buộc phải hủy lịch khám bệnh và phản ánh sự việc đến Thanh tra Sở Xây dựng (hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về giao thông vận tải). Qua xác minh, cơ quan chức năng kết luận: Anh H là người khuyết tật hợp pháp, sử dụng xe lăn là phương tiện hỗ trợ phù hợp. Xe buýt vẫn còn chỗ ngồi và có khả năng bố trí xe lăn gấp lên phương tiện. Việc từ chối chuyên chở người khuyết tật và phương tiện hỗ trợ không xuất phát từ lý do bảo đảm an toàn giao thông hoặc trường hợp bất khả kháng. Công ty và nhân viên phục vụ đã vi phạm quy định của pháp luật về bảo đảm quyền tham gia giao thông của người khuyết tật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi của Công ty Cổ phần Vận tải hành khách Minh Phát có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Nếu có thì mức phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng như thế nào?
Trả lời:  
Tại khoản 3 Điều 17 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em (trường hợp vi phạm quy định về tham gia giao thông dành cho người khuyết tật, người cao tuổi) quy định:
“Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
3. Từ chối chuyên chở người khuyết tật hoặc từ chối chuyên chở phương tiện, thiết bị hỗ trợ phù hợp của người khuyết tật bằng phương tiện giao thông công cộng.”.
Đối với tình huống trên Công ty Cổ phần Vận tải hành khách Minh Phát có thể bị áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Công ty Cổ phần Vận tải hành khách Minh Phát (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại Điều 17 Nghị định này.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây