Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý: Mở rộng diện được trợ giúp, tăng khả năng tiếp cận và đẩy mạnh chuyển đổi số

Thứ tư - 26/08/2026 00:15 20 0
Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Luật mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.
Luật lần này có nhiều quy định mới quan trọng, tập trung vào việc mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, tạo điều kiện thụ lý kịp thời những vụ việc cấp thiết, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động trợ giúp pháp lý.
Mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý
Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật là sửa đổi toàn diện Điều 7 về người được trợ giúp pháp lý. Theo đó, các nhóm đối tượng được trợ giúp pháp lý gồm: người có công với cách mạng; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật; trẻ em; người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và người dân tộc thiểu số rất ít người.
Luật còn quy định nhiều nhóm đối tượng cụ thể khác như người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV; người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại; người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý đối với vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi sự kiện này.
Đáng chú ý, Luật quy định cụ thể quyền được trợ giúp pháp lý đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi trong một số trường hợp như người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân theo Luật Tư pháp người chưa thành niên. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo Luật Phòng, chống mua bán người cũng thuộc diện được trợ giúp pháp lý.
Ngoài ra, cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; người nước ngoài thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và những người khác theo quy định của pháp luật cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 7 mới.
Hoàn thiện tổ chức Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh
Luật quy định Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có thể có Chi nhánh. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm và Trung tâm chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh.
Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động cũng như trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, sáp nhập Chi nhánh.
Quy định này tạo cơ sở để tổ chức mạng lưới cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu của người dân tại từng địa phương.
Quy định mới về tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý
Theo Điều 19 được sửa đổi, công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý khi đáp ứng các tiêu chuẩn: có phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ cử nhân luật trở lên; đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp đã từng là trợ giúp viên pháp lý; có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý.
Luật cũng chuyển thẩm quyền xem xét bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Chủ tịch UBND cấp tỉnh đồng thời có thẩm quyền cấp lại thẻ trong trường hợp thẻ bị mất, bị hư hỏng.
Mở rộng và hoàn thiện quy định về cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Luật sửa đổi Điều 24 theo hướng quy định cụ thể các nhóm người có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý. Trong đó có những người đã nghỉ hưu hoặc thôi việc và từng đảm nhiệm một số chức danh, vị trí pháp luật như trợ giúp viên pháp lý, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên và một số chức danh, ngạch chuyên môn khác đáp ứng điều kiện theo quy định.
Bên cạnh đó, viên chức giữ hạng III và tương đương làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên hoặc viên chức giữ hạng I, hạng II và tương đương làm công tác pháp luật cũng có thể trở thành cộng tác viên khi đáp ứng điều kiện và được cơ quan nơi làm việc đồng ý bằng văn bản. Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với người được cấp thẻ cộng tác viên để thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng tại địa phương.
Cho phép thụ lý ngay vụ việc trợ giúp pháp lý trong trường hợp cấp thiết.
Một quy định có ý nghĩa thiết thực đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý là cơ chế “thụ lý ngay”.
Theo Điều 30 được sửa đổi, khi yêu cầu trợ giúp pháp lý, người yêu cầu phải nộp hồ sơ cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Yêu cầu chỉ được thụ lý khi có vụ việc cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý và phù hợp với quy định của Luật.
Tuy nhiên, nếu người yêu cầu chưa thể cung cấp đầy đủ hồ sơ nhưng cần được trợ giúp pháp lý ngay do vụ việc sắp hết thời hiệu khởi kiện, sắp đến ngày xét xử, vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý hoặc để tránh gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý, người tiếp nhận yêu cầu báo cáo người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và thụ lý ngay, đồng thời hướng dẫn bổ sung giấy tờ, tài liệu cần thiết.
Quy định này góp phần hạn chế tình trạng quyền lợi của người dân bị ảnh hưởng chỉ vì chưa kịp hoàn thiện đầy đủ giấy tờ trong những trường hợp cấp bách.
Hoàn thiện các hình thức thực hiện trợ giúp pháp lý
Đối với tư vấn pháp luật, người thực hiện trợ giúp pháp lý không chỉ hướng dẫn, đưa ra ý kiến và giúp soạn thảo văn bản liên quan đến tranh chấp, khiếu nại, vướng mắc pháp luật mà còn hướng dẫn giúp các bên hòa giải, thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc.
Đối với đại diện ngoài tố tụng, trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý và cộng tác viên trợ giúp pháp lý được đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Luật cũng hoàn thiện cơ chế phối hợp xác minh khi tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc cần được xác minh tại địa phương khác và bổ sung cơ chế chuyển vụ việc giữa các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước trong những trường hợp nhất định.
Tăng hiệu quả kiến nghị trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý được kiến nghị bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ việc. Cơ quan nhận được kiến nghị có trách nhiệm trả lời bằng văn bản theo quy định.
Đáng chú ý, nếu cơ quan nhận kiến nghị không trả lời theo quy định, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền kiến nghị cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan đó xem xét, giải quyết.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý
Chuyển đổi số là một trong những nội dung nổi bật của Luật sửa đổi. Luật bổ sung trách nhiệm ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số và triển khai chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý; xây dựng, quản lý, vận hành và thường xuyên nâng cấp hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý; kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu trợ giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.
Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong tạo lập, tích hợp, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua kết nối với cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý. UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý tại địa phương, bảo đảm điều kiện làm việc của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và phối hợp thực hiện việc kết nối, chia sẻ dữ liệu. UBND cấp xã phối hợp với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước triển khai công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn.
Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng
Luật quy định cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm phối hợp thực hiện cơ chế liên ngành, trực trợ giúp pháp lý tại Tòa án nhân dân và trong điều tra hình sự; tạo điều kiện để người thuộc diện trợ giúp pháp lý được hưởng quyền trợ giúp pháp lý và để người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng theo quy định.
Các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng cũng có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong tạo lập, tích hợp, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua kết nối với cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.
Cơ quan nhà nước phải giải thích quyền được trợ giúp pháp lý
Một quy định đặc biệt có ý nghĩa đối với việc đưa chính sách trợ giúp pháp lý đến đúng đối tượng là trách nhiệm của cơ quan nhà nước khi giải quyết công việc liên quan đến công dân.
Theo đó, trong quá trình xử lý, giải quyết vụ việc liên quan đến công dân, nếu công dân thuộc diện người được trợ giúp pháp lý, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và giới thiệu đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
Quy định này góp phần chuyển từ việc người dân phải chủ động tìm hiểu chính sách sang cơ chế cơ quan nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ người thuộc diện được trợ giúp pháp lý tiếp cận dịch vụ khi giải quyết vụ việc.
Hoàn thiện cơ chế khiếu nại trong trợ giúp pháp lý
Luật cũng quy định rõ hơn trình tự giải quyết khiếu nại. Người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm giải quyết khiếu nại thuộc phạm vi quy định. Nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lên Giám đốc Sở Tư pháp.
Nếu tiếp tục không đồng ý với quyết định của Giám đốc Sở Tư pháp hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án.
Nâng cao khả năng tiếp cận công lý cho người dân
Luật số 05/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 01/01/2027. Với việc mở rộng và xác định rõ hơn các nhóm người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện đội ngũ trợ giúp viên và cộng tác viên, bổ sung cơ chế thụ lý ngay trong trường hợp cấp thiết, tăng trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và đẩy mạnh chuyển đổi số, Luật tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới.
Các quy định mới cũng góp phần bảo đảm để người thuộc diện được trợ giúp pháp lý có điều kiện tiếp cận dịch vụ pháp lý kịp thời, thuận lợi hơn, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nhất là đối với những nhóm yếu thế hoặc gặp khó khăn trong việc tự bảo vệ quyền lợi trước pháp luật.

Tác giả bài viết: CTV

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây