Bàn về vấn đề bình đẳng giới trong pháp luật về bầu cử

Thứ năm - 05/03/2026 23:22 5 0
Bình đẳng giới là một trong những nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong đời sống chính trị - xã hội. Mục tiêu của bình đẳng giới không chỉ dừng lại ở việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về giới, mà còn hướng tới việc tạo lập cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng thực chất giữa hai giới. Trên cơ sở đó, quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình được thiết lập và củng cố bền vững hơn.
Trong tổng thể các lĩnh vực của đời sống xã hội, lĩnh vực chính trị giữ vị trí đặc biệt quan trọng, bởi đây là không gian thể hiện trực tiếp quyền làm chủ của Nhân dân và sự tham gia vào quá trình thực thi quyền lực nhà nước. Do vậy, bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị không chỉ là yêu cầu về mặt chính sách xã hội mà còn là đòi hỏi mang tính hiến định. Pháp luật về bầu cử, với tư cách là cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân, chính là công cụ quan trọng để hiện thực hóa nguyên tắc bình đẳng giới trong đời sống chính trị. Những quyền này đã được ghi nhận nhất quán qua các bản Hiến pháp của Việt Nam và ngày càng được hoàn thiện theo hướng cụ thể, đầy đủ hơn.
Ngay từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ghi rõ “Tất cả quyền bính là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (điều 1); “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình” (điều 7); “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền” (điều 18). Kế thừa và phát huy Hiến pháp năm 1946, các bản Hiến pháp của Việt Nam qua các thời kì lịch sử đã ghi nhận cụ thể hơn, đầy đủ hơn quyền bình đẳng nam, nữ trong lĩnh vực chính trị.
Trong bản Hiến pháp năm 2013, ngoài các quy định về bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực chính trị, trong bầu cử và ứng cử, thì lần đầu tiên, văn bản có giá trị pháp lí cao nhất đưa ra những khái niệm liên quan đến giới. Điều 27 quy định “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách đảm bảo quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”. Đây là nền tảng để bảo đảm sự bình đẳng nam, nữ trong việc thực hiện quyền lực chính trị. Điều này cho thấy tầm quan trọng của bình đẳng giới - là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó (khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006); và chống phân biệt đối xử về giới - là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình (khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006) (Theo Báo cáo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân).
Trên cơ sở các quy định hiến định và pháp luật chuyên ngành về bình đẳng giới, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng giới trong lĩnh vực bầu cử.
Việc quy định các nội dung đảm bảo nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình trong bầu cử được thể hiện ở nhiều quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Trong đó, nhiều quy định của Luật thể hiện trung tính về giới, không có sự phân biệt đối xử. Nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được áp dụng chung đối với cả nam và nữ. Quyền bầu cử từ đủ mười tám tuổi trở lên và quyền ứng cử từ đủ hai mươi mốt tuổi trở lên vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân là bình đẳng với mọi công dân. Tiêu chuẩn của người ứng cử đại biểu Quốc hội được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không có sự phân biệt nam, nữ. Tương tự như vậy với các quy định về dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu; về Hội đồng bầu cử quốc gia và các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương; về danh sách cử tri; về ứng cử và hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; về tuyên truyền và vận động bầu cử; về kết quả bầu cử.
Luật Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) cũng đã ghi nhận và cụ thể hóa nhiều quy định nhằm thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong cơ quan quyền lực nhà nước, từ nguyên tắc lập danh sách ứng cử, cơ cấu, thành phần đại biểu đến các biện pháp bảo đảm thực thi trên thực tế.
Khoản 3 Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về dự kiến cơ cấu, thành phần những người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội: “Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Ban Thường vụ trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.”
Điều 9 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, trong đó có quy định:
“1. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở cấp mình và các đơn vị hành chính cấp dưới, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn được giới thiệu để ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, trong đó bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là phụ nữ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và tình hình cụ thể của từng địa phương;
2. Thường trực Hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là cấp xã) dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở cấp mình và thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khóm (sau đây gọi chung là tổ dân phố), đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn được giới thiệu để ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, trong đó bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là phụ nữ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và tình hình cụ thể của từng địa phương;”
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã thể hiện rõ sự tiếp cận tiến bộ và phù hợp với yêu cầu bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Việc kết hợp giữa các quy định mang tính trung tính về giới với các biện pháp thúc đẩy, đặc biệt là quy định về tỷ lệ tối thiểu 35% phụ nữ trong danh sách chính thức người ứng cử, cho thấy nỗ lực hướng tới bình đẳng thực chất chứ không chỉ dừng lại ở bình đẳng hình thức. Các quy định này góp phần tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao sự tham gia của phụ nữ trong cơ quan quyền lực nhà nước, từng bước thu hẹp khoảng cách giới trong lĩnh vực đại diện chính trị. Tuy nhiên, hiệu quả của các quy định vẫn phụ thuộc đáng kể vào quá trình tổ chức thực hiện, nhất là trong khâu hiệp thương, giới thiệu và vận động bầu cử.
Các quy định trên cũng đã thể hiện tương đối rõ nét về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới (là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này) trong lĩnh vực chính trị. Theo đó, nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.
Tuy nhiên, trong quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) vẫn còn một số nội dung trong pháp luật bầu cử cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện nhằm bảo đảm tốt hơn yêu cầu bình đẳng giới thực chất như quy định về tuyên truyền, vận động bầu cử, bởi trong quy định hiện hành chưa có chính sách đặc thù cho ứng cử viên nữ, trong khi họ vừa phải đảm nhận trọng trách xã hội khi tham gia đời sống nghề nghiệp, vừa phải hoàn thành các nghĩa vụ trong đời sống gia đình. Việc thiếu các biện pháp hỗ trợ phù hợp có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận cơ hội vận động tranh cử một cách bình đẳng so với nam giới.
Có thể thấy rằng, Thông qua các quy định của pháp luật về bầu cử, nguyên tắc bình đẳng giới đã từng bước được cụ thể hóa theo hướng tiếp cận bình đẳng thực chất, tạo cơ sở để phụ nữ tham gia ngày càng sâu rộng vào đời sống chính trị. Bình đẳng thực chất không chỉ là sự ghi nhận quyền ngang nhau trên phương diện pháp lý, mà còn đòi hỏi các điều kiện, cơ chế và chính sách phù hợp để khắc phục những rào cản thực tiễn do yếu tố giới mang lại. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật bầu cử theo hướng tăng cường các biện pháp thúc đẩy và bảo đảm thực thi hiệu quả sẽ góp phần phát huy đầy đủ vai trò, tiềm năng của phụ nữ trong cơ quan quyền lực nhà nước. Qua đó, bình đẳng giới trở thành nền tảng quan trọng cho sự phát triển công bằng, bao trùm và bền vững của hệ thống chính trị và toàn xã hội./.

Tác giả bài viết: Hoàng Ánh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây