Kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ hoà giải viên đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác hòa giải cơ sở trên địa bàn tỉnh

Chủ nhật - 21/12/2025 22:46 4 0
Hoà giải ở cơ sở là phương thức giải quyết tranh chấp, xung đột xã hội có từ lâu đời, mang ý nghĩa xã hội, nhân văn sâu sắc, được nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam thừa nhận, khuyến khích.
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, công tác hoà giải ở cơ sở của tỉnh Thái Nguyên cũng đã có nhiều thành công, như: hàng năm hầu hết các tổ hoà giải đều được kiện toàn, tỷ lệ hoà giải thành từng bước được tăng lên, đội ngũ hoà giải viên được tuyên truyền, tập huấn nâng cao trình độ pháp luật và kỹ năng hoà giải… Trong những năm qua, tỉnh Thái Nguyên luôn quan tâm, chú trọng đến việc củng cố, kiện toàn các tổ hòa giải và Hòa giải viên. Hàng năm, Sở Tư pháp chỉ đạo, hướng dẫn cấp cơ sở phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, tiến hành rà soát, thống kê, kịp thời kiện toàn các tổ hòa giải và hòa giải viên.
Đến nay (theo số liệu báo cáo năm 2025), trên địa bàn tỉnh có 1.423 tổ hòa giải (trên tổng số 1.423 thôn bản, tổ phố) với 7.565 hòa giải viên. Thành phần Tổ hòa giải gồm Bí thư chi bộ, Trưởng thôn/Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban công tác Mặt trận, Trưởng các đoàn thể, Trưởng các chi hội, người có uy tín... Tổ trưởng tổ hòa giải thường là Bí thư chi bộ hoặc Trưởng thôn/Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban công tác Mặt trận. Đối với những địa bàn có nhiều thành phần dân tộc sinh sống, có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số, tỷ lệ nữ tham gia cơ bản đảm bảo theo đúng quy định. Cụ thể:
Về giới tính: 5.545 hòa giải viên là nam; 2.685 hòa giải viên là nữ;
Về dân tộc: 685 hòa giải viên dân tộc Kinh; 7.513 hòa giải viên là người dân tộc thiểu số;
Về trình độ chuyên môn: 123 hòa giải viên có chuyên môn Luật; 7.442 hòa giải viên có trình độ chuyên môn khác. Tính đến tháng 12 năm 2025, số hòa giải viên được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ là 4.803 hòa giải viên.
Về phẩm chất đạo đức: Các hòa giải viên đều là những đảng viên hoặc những người có uy tín trong cộng đồng dân cư, gương mẫu, có trách nhiệm trong công việc của thôn, tổ.
Về năng lực, trách nhiệm trong công việc: Đa số các hòa giải viên đều là những người có năng lực và trách nhiệm trong công việc được giao trong thực hiện nhiệm vụ hòa giải vụ việc.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt đạt được, đội ngũ hòa giải viên hiện nay vẫn còn có những hạn chế sau:
Một là, đội ngũ hòa giải viên thường xuyên biến động qua các năm do không đ sức khỏea phần là những người cao tuổi), có nguyện vọng không tiếp tục tham gia công tác hòa giải cơ sở, không còn đủ uy tín trong cộng đồng, chuyển đổi nơi cư trú hoặc không có điều kiện tiếp tục làm hòa giải viên vì nhiều lý do khác nhau.
Hai là, việc vận động phụ nữ, nhất là phụ nữ các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tham gia hoạt động hòa giải còn rất khó khăn, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động hòa giải, nhất là những vụ việc về hôn nhân và gia đình, phòng chống bạo lực gia đình, bảo đảm bình đẳng giới...
Ba là, trình đ học vấn và trình đ hiểu biết pháp luật của đội ngũ hòa giải viên còn chưa đồng đều. Đại đa số hòa giải viên không thường xuyên được cập nhật kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hòa giải cơ sở. Nhiều hòa giải viên vẫn tiến hành hòa giải theo kinh nghiệm sống, theo luật tục, không biết vận dụng pháp luật đ giải quyết các tình huống cụ thể.
Bốn là, vẫn còn có tình trạng hoà giải viên nhầm lẫn trong việc xác định phạm vi hoà giải, có những vụ việc không thuộc phạm vi hòa giải cơ sở nhưng vẫn được tiến hành hòa giải. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tính nghiêm minh của pháp luật, tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, giảm chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải cơ sở.
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do: Cấp uỷ đảng, chính quyền một số địa phương nhận thức chưa đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của công tác hoà giải cơ sở nên thiếu sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho công tác này; công chức cấp xã chưa thực sự chủ động tham mưu trong quản lý công tác hòa giải; cơ chế, chính sách phục vụ cho công tác hòa giải ở cơ sở ở cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu; chưa thực sự khuyến khích, động viên, phát huy được tính tích cực của đội ngũ hòa giải viên.
Theo Thông tư số 14/2018/TT-BNV ngày 03/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 04/2012/TT-BNV ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố thì thời gian tới sẽ có sự thay đổi nhất định về quy mô, số lượng thôn, tổ dân phố. Điều đó chắc chắn sẽ dẫn đến sự thay đổi về tổ hòa giải và hòa giải viên. Nếu không kịp thời củng cố, kiện toàn tổ hòa giải, tăng cường năng lực cho đội ngũ hòa giải viên, chất lượng, hiệu quả hòa giải cơ sở không thể đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của đời sống xã hội. Vì vậy, đ đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho công tác hòa giải cơ sở trong tình hình mới, dưới góc độ nghiên cứu cá nhân, tác giả đề xuất một số giải pháp để khắc phục và nâng cao chất lượng hòa giải viên trên địa bàn tỉnh như sau:
Một là: hoàn thiện thể chế, bổ sung cơ chế, chính sách đối với đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở. Bộ Tư pháp tiếp tục chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức triển khai hiệu quả Đề án "Nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở giai đoạn 2024 - 2030" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kèm theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 17/4/2024. Bên cạnh đó, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách liên quan đến chế độ, điều kiện hoạt động của hòa giải viên theo hướng ổn định, lâu dài, phù hợp với yêu cầu thực tiễn; đặc biệt quan tâm bảo đảm nguồn kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở, coi đây là yếu tố then chốt nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải.
Hai là: Rà soát, đánh giá thực trạng tổ chức, kết quả hoạt động của tổ hòa giải và đội ngũ hòa giải viên; trên cơ sở đó thực hiện củng cố tổ hòa giải, kiện toàn đội ngũ hòa giải viên gắn kết với thực hiện củng cố, kiện toàn thôn, tổ dân phố, đảm bảo tất cả các tổ hòa giải đều đủ số lượng, thành phần, chất lượng, đáp ứng nhu cầu hòa giải ở cơ sở; chú trọng vận động, thuyết phục đội ngũ luật sư, luật gia, người đã từng là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên, thẩm tra viên trong cơ quan tiến hành tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức có đủ tiêu chuẩn đang sinh sống tại địa bàn tham gia làm hòa giải viên; xây dựng thí điểm các mô hình tổ hòa giải ở cơ sở phù hợp với các địa bàn khác nhau.
Ba là: Tăng cường tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên và đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý, theo dõi, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở: Trong giai đoạn hiện nay, để nâng cao chất lượng đội ngũ Hòa giải viên cần tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ hoà giải viên. Vì vậy, công tác bồi dưỡng, tập huấn phải có mục tiêu, mục đích cụ thể, hiệu quả; nội dung tập huấn cần xuất phát từ sự cần thiết thực tế, yếu khâu nào tập huấn, bồi dưỡng khâu đó.
Để tổ chức bồi dưỡng, tập huấn có chất lượng, cần quan tâm những điểm sau đây: Tổ chức biên soạn, phát hành các loại tài liệu tập huấn, bồi dưỡng, tài liệu bổ trợ, tham khảo phù hợp với các địa bàn khác nhau (đô thị, nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…);  Biên dịch một số nội dung trong Bộ tài liệu tập huấn, bồi dưỡng cho hòa giải viên sang tiếng một số dân tộc thiểu số, cung cấp cho hòa giải viên là người dân tộc thiểu số không biết tiếng Việt; đăng tải trên mạng Internet, trang thông tin điện tử các loại tài liệu nêu trên; xây dựng chương trình bồi dưỡng cho hòa giải viên phù hợp với nhu cầu thực tiễn; tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng và nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên tại các xã, phường.
Bốn là: Tổ chức các hội nghị, diễn đàn, hội thảo, giao lưu, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm về thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở, trao đổi về những vướng mắc, bất cập, vấn đề mới phát sinh trong công tác hòa giải ở cơ sở, từ đó có những giải pháp tháo gỡ hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền tháo gỡ; tôn vinh, biểu dương, khen thưởng những hòa giải viên, tổ hòa giải điển hình xuất sắc.
Hoà giải cơ sở liên quan đến nhiều lĩnh vực, đòi hỏi hoà giải viên cần có trình độ nhất định mới có thể khiến những người có tranh chấp, mâu thuẫn “tâm phục, khẩu phục”. Bên cạnh đó, thông qua hòa giải, hoà giải viên không chỉ giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn, mà nhiều khi cũng cần kết hợp để tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách và pháp luật cho cộng đồng. Vì thế, những tiêu chuẩn đối với hoà giải viên là một “khung” để đội ngũ hoà giải viên phát huy và củng cố được thế mạnh của hoạt động hoà giải cơ sở … trong điều kiện cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Tác giả bài viết: BBT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây