Nghị định 296/2025/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định 296/2025/NĐ-CP) được ban hành khi nào và có hiệu lực thi hành từ thời điểm nào?
Nghị định 296/2025/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định 296/2025/NĐ-CP) được ban hành khi nào và có hiệu lực thi hành từ thời điểm nào?
Trả lời:
Nghị định số 296/2025/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 16/11/2025 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026 và thay thế Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Kể từ thời điểm Nghị định có hiệu lực, việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo các quy định của Nghị định này.
Nghị định 296/2025/NĐ-CP điều chỉnh những nội dung gì?
Nghị định 296/2025/NĐ-CP điều chỉnh những nội dung gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 1 Nghị định 296/2025/NĐ-CP, phạm vi điều chỉnh của Nghị định này quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp khẩn cấp cần khắc phục ngay hậu quả vi phạm (sau đây gọi chung là cưỡng chế), chi phí cưỡng chế, trách nhiệm thi hành và bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế. Đối với việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế, trường hợp Luật Quản lý thuế và các Nghị định quy định chi tiết Luật này có quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt thì thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật đó.
Những đối tượng nào thuộc phạm vi áp dụng của Nghị định 296/2025/NĐ-CP?
Những đối tượng nào thuộc phạm vi áp dụng của Nghị định 296/2025/NĐ-CP?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 2 đối tượng áp dụng của Nghị định 296/2025/NĐ-CP gồm: Cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam mà không tự nguyện chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc không tự nguyện hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả; Người có thẩm quyền, cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thi hành cưỡng chế và tổ chức, cá nhân khác liên quan đến thi hành cưỡng chế.
Việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ những nguyên tắc nào?
Việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ những nguyên tắc nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải đảm bảo nguyên tắc sau:
1. Việc cưỡng chế chỉ được thực hiện khi có quyết định cưỡng chế bằng văn bản của người có thẩm quyền quy định tại Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và các Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm ban hành quyết định cưỡng chế trên cơ sở theo dõi, đôn đốc hoặc đề xuất của người có thẩm quyền xử phạt.
2. Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế quyết định áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 2 Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính nếu việc áp dụng một biện pháp cưỡng chế không đủ để bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế. Việc quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế cụ thể phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, điều kiện thi hành quyết định cưỡng chế và tình hình thực tế ở địa phương.
3. Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế và cá nhân, tổ chức khác có liên quan trong cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
1. Việc cưỡng chế chỉ được thực hiện khi có quyết định cưỡng chế bằng văn bản của người có thẩm quyền quy định tại Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và các Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm ban hành quyết định cưỡng chế trên cơ sở theo dõi, đôn đốc hoặc đề xuất của người có thẩm quyền xử phạt.
2. Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế quyết định áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 2 Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính nếu việc áp dụng một biện pháp cưỡng chế không đủ để bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế. Việc quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế cụ thể phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, điều kiện thi hành quyết định cưỡng chế và tình hình thực tế ở địa phương.
3. Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế và cá nhân, tổ chức khác có liên quan trong cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Nguồn tiền khấu trừ và tài sản kê biên đối với tổ chức, hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, cộng đồng dân cư bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được xác định như thế nào?
Nguồn tiền khấu trừ và tài sản kê biên đối với tổ chức, hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, cộng đồng dân cư bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được xác định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, cộng đồng dân cư, nguồn tiền khấu trừ và tài sản kê biên được xác định theo các nguyên tắc sau:
1. Đối với tổ chức là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập không có thu được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền và trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế thì phải tự bảo đảm nguồn tiền để thi hành quyết định cưỡng chế, không được sử dụng tiền ngân sách nhà nước hoặc tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
2. Đối với tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này có thu hoặc được tổ chức các hoạt động có thu theo quy định của pháp luật, khi bị khấu trừ tiền, kê biên tài sản và trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế thì lấy từ nguồn thu và tài sản do các hoạt động này mang lại.
3. Đối với tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ, các quỹ xã hội, quỹ từ thiện thì khấu trừ tiền, kê biên tài sản, trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế từ tiền, tài sản của tổ chức, quỹ đó.
4. Đối với doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã và hợp tác xã thì khấu trừ tiền, kê biên tài sản, trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế từ tiền, tài sản hoặc thu nhập bằng tiền, tài sản của doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã đó.
5. Đối với hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác thì khấu trừ tiền, kê biên tài sản, trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế từ tiền, tài sản chung của hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác; trường hợp tài sản chung không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế thì khấu trừ tiền, kê biên tài sản của các thành viên trong hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc pháp luật có liên quan quy định khác.
6. Đối với cộng đồng dân cư thì khấu trừ tiền, kê biên tài sản, trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế từ tiền, tài sản chung của cộng đồng dân cư.
1. Đối với tổ chức là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập không có thu được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền và trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế thì phải tự bảo đảm nguồn tiền để thi hành quyết định cưỡng chế, không được sử dụng tiền ngân sách nhà nước hoặc tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
2. Đối với tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này có thu hoặc được tổ chức các hoạt động có thu theo quy định của pháp luật, khi bị khấu trừ tiền, kê biên tài sản và trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế thì lấy từ nguồn thu và tài sản do các hoạt động này mang lại.
3. Đối với tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ, các quỹ xã hội, quỹ từ thiện thì khấu trừ tiền, kê biên tài sản, trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế từ tiền, tài sản của tổ chức, quỹ đó.
4. Đối với doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã và hợp tác xã thì khấu trừ tiền, kê biên tài sản, trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế từ tiền, tài sản hoặc thu nhập bằng tiền, tài sản của doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã đó.
5. Đối với hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác thì khấu trừ tiền, kê biên tài sản, trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế từ tiền, tài sản chung của hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác; trường hợp tài sản chung không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế thì khấu trừ tiền, kê biên tài sản của các thành viên trong hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc pháp luật có liên quan quy định khác.
6. Đối với cộng đồng dân cư thì khấu trừ tiền, kê biên tài sản, trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế từ tiền, tài sản chung của cộng đồng dân cư.
Việc lập biên bản đối với cá nhân, tổ chức bị xử phạt nhưng không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện như thế nào theo quy định tại Điều 5 Nghị định 296/2025/NĐ-CP?
Việc lập biên bản đối với cá nhân, tổ chức bị xử phạt nhưng không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện như thế nào theo quy định tại Điều 5 Nghị định 296/2025/NĐ-CP?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, khi cá nhân, tổ chức bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền hoặc người được giao nhiệm vụ có trách nhiệm lập biên bản về việc không chấp hành quyết định xử phạt, làm căn cứ để áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành. Cụ thể:
Trong quá trình theo dõi, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt xử phạt vi phạm hành chính khi đã hết thời hạn thi hành kể từ ngày hết thời hạn thi hành được nêu trong quyết định thì đại diện cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt hoặc người có thẩm quyền thuộc cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để tổ chức thi hành tiến hành lập biên bản về việc cá nhân, tổ chức vi phạm không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính với sự chứng kiến của cá nhân vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm.
Trường hợp cá nhân vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký, không điểm chỉ vào biên bản hoặc có mặt nhưng từ chối ký, từ chối điểm chỉ vào biên bản thì phải có chữ ký của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản hoặc có ít nhất 01 người chứng kiến xác nhận việc tổ chức, cá nhân vi phạm không ký vào biên bản.
Biên bản được lập trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện một trong các hành vi quy định tại khoản này.
Trong quá trình theo dõi, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt xử phạt vi phạm hành chính khi đã hết thời hạn thi hành kể từ ngày hết thời hạn thi hành được nêu trong quyết định thì đại diện cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt hoặc người có thẩm quyền thuộc cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để tổ chức thi hành tiến hành lập biên bản về việc cá nhân, tổ chức vi phạm không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính với sự chứng kiến của cá nhân vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm.
Trường hợp cá nhân vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký, không điểm chỉ vào biên bản hoặc có mặt nhưng từ chối ký, từ chối điểm chỉ vào biên bản thì phải có chữ ký của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản hoặc có ít nhất 01 người chứng kiến xác nhận việc tổ chức, cá nhân vi phạm không ký vào biên bản.
Biên bản được lập trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện một trong các hành vi quy định tại khoản này.
Biên bản về việc cá nhân, tổ chức không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải ghi những nội dung gì và biên bản này có ý nghĩa pháp lý như thế nào?
Biên bản về việc cá nhân, tổ chức không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải ghi những nội dung gì và biên bản này có ý nghĩa pháp lý như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 5 Nghị định 296/2025/NĐ-CP biên bản về việc cá nhân, tổ chức bị xử phạt không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải được lập đầy đủ, chính xác và thể hiện rõ các nội dung sau đây:
Biên bản phải ghi rõ thời gian cụ thể về giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; căn cứ lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; tên, địa chỉ, kết quả chấp hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của tổ chức, cá nhân vi phạm; ý kiến của tổ chức, cá nhân vi phạm và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (nếu có).
Biên bản nêu tại khoản 1 Điều này là căn cứ để xác định đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính cố tình trốn tránh, trì hoãn việc chấp hành quyết định xử phạt đã có hiệu lực, là một trong những căn cứ để người có thẩm quyền xác định thời hiệu thi hành quyết định xử phạt và ra quyết định cưỡng chế.
Biên bản phải ghi rõ thời gian cụ thể về giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; căn cứ lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; tên, địa chỉ, kết quả chấp hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của tổ chức, cá nhân vi phạm; ý kiến của tổ chức, cá nhân vi phạm và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (nếu có).
Biên bản nêu tại khoản 1 Điều này là căn cứ để xác định đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính cố tình trốn tránh, trì hoãn việc chấp hành quyết định xử phạt đã có hiệu lực, là một trong những căn cứ để người có thẩm quyền xác định thời hiệu thi hành quyết định xử phạt và ra quyết định cưỡng chế.
Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải được gửi cho những ai, trong thời hạn bao lâu và bằng hình thức nào?
Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải được gửi cho những ai, trong thời hạn bao lâu và bằng hình thức nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 6 Nghị định 296/2025/NĐ-CP việc gửi quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện như sau:
- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế, người ra quyết định cưỡng chế phải gửi quyết định cưỡng chế cho cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, cơ quan, tổ chức thực hiện việc cưỡng chế và cá nhân, tổ chức có liên quan.
- Trường hợp cưỡng chế bằng biện pháp quy định tại điểm b, c và d khoản 2 Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì quyết định cưỡng chế phải được gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế trước khi thi hành để phối hợp thực hiện.
- Quyết định cưỡng chế được giao trực tiếp, gửi qua bưu điện bằng hình thức gửi bưu phẩm bảo đảm hoặc hình thức khác theo quy định tại Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế, người ra quyết định cưỡng chế phải gửi quyết định cưỡng chế cho cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, cơ quan, tổ chức thực hiện việc cưỡng chế và cá nhân, tổ chức có liên quan.
- Trường hợp cưỡng chế bằng biện pháp quy định tại điểm b, c và d khoản 2 Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì quyết định cưỡng chế phải được gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế trước khi thi hành để phối hợp thực hiện.
- Quyết định cưỡng chế được giao trực tiếp, gửi qua bưu điện bằng hình thức gửi bưu phẩm bảo đảm hoặc hình thức khác theo quy định tại Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Ai có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính?
Ai có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 7 Nghị định 296/2025/NĐ-CP người ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do mình ban hành và các quyết định xử phạt của cấp dưới thuộc thẩm quyền quản lý.
Đối với quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực chuyên môn, địa bàn quản lý của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, các tổ chức hành chính khác ở địa phương, cơ quan được tổ chức theo ngành dọc hoặc cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp dưới để phân công cơ quan chủ trì tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế.
Việc phân công phải bảo đảm nguyên tắc: vụ việc thuộc lĩnh vực chuyên môn hoặc địa bàn quản lý của cơ quan nào thì giao cơ quan đó chủ trì; trường hợp vụ việc liên quan đến nhiều cơ quan thì căn cứ tính chất, nội dung chủ yếu của vụ việc để quyết định giao một cơ quan chủ trì tổ chức thi hành.
Đối với những vụ việc có tính chất phức tạp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân ra quyết định và tổ chức thi hành cưỡng chế trên cơ sở đề xuất của người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt thuộc cơ quan chuyên môn.
Đối với quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực chuyên môn, địa bàn quản lý của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, các tổ chức hành chính khác ở địa phương, cơ quan được tổ chức theo ngành dọc hoặc cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp dưới để phân công cơ quan chủ trì tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế.
Việc phân công phải bảo đảm nguyên tắc: vụ việc thuộc lĩnh vực chuyên môn hoặc địa bàn quản lý của cơ quan nào thì giao cơ quan đó chủ trì; trường hợp vụ việc liên quan đến nhiều cơ quan thì căn cứ tính chất, nội dung chủ yếu của vụ việc để quyết định giao một cơ quan chủ trì tổ chức thi hành.
Đối với những vụ việc có tính chất phức tạp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân ra quyết định và tổ chức thi hành cưỡng chế trên cơ sở đề xuất của người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt thuộc cơ quan chuyên môn.
Trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế được quy định như thế nào?
Trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 7 Nghị định 269/2025/NĐ-CP trường hợp việc cưỡng chế cần sự phối hợp, huy động nhiều cơ quan, đơn vị, lực lượng chức năng, cơ quan được giao chủ trì tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch cưỡng chế, trình người ra quyết định cưỡng chế phê duyệt trước khi tổ chức thực hiện.
Các tổ chức, cá nhân có liên quan có nghĩa vụ phối hợp với cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế hoặc cơ quan được giao chủ trì để triển khai các biện pháp nhằm thi hành quyết định cưỡng chế. Trách nhiệm phối hợp của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân phải được quy định cụ thể trong kế hoạch cưỡng chế.
Các tổ chức, cá nhân có liên quan có nghĩa vụ phối hợp với cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế hoặc cơ quan được giao chủ trì để triển khai các biện pháp nhằm thi hành quyết định cưỡng chế. Trách nhiệm phối hợp của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân phải được quy định cụ thể trong kế hoạch cưỡng chế.
Lực lượng Công an nhân dân có trách nhiệm gì trong việc bảo đảm trật tự, an toàn khi thi hành quyết định cưỡng chế?
Lực lượng Công an nhân dân có trách nhiệm gì trong việc bảo đảm trật tự, an toàn khi thi hành quyết định cưỡng chế?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 269/2025/NĐ-CP lực lượng Công an nhân dân có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế khi được phân công hoặc khi có yêu cầu tham gia.
Khi tham gia cưỡng chế, lực lượng Công an nhân dân thực hiện nhiệm vụ giữ gìn trật tự, an toàn tại khu vực cưỡng chế, đồng thời ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi gây rối, chống người thi hành công vụ, bảo đảm cho việc thi hành quyết định cưỡng chế được thực hiện đúng quy định pháp luật.
Khi tham gia cưỡng chế, lực lượng Công an nhân dân thực hiện nhiệm vụ giữ gìn trật tự, an toàn tại khu vực cưỡng chế, đồng thời ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi gây rối, chống người thi hành công vụ, bảo đảm cho việc thi hành quyết định cưỡng chế được thực hiện đúng quy định pháp luật.
Trong trường hợp nào Chủ tịch Ủy ban nhân dân có trách nhiệm phân công lực lượng Công an cùng cấp tham gia bảo đảm trật tự, an toàn khi cưỡng chế?
Trong trường hợp nào Chủ tịch Ủy ban nhân dân có trách nhiệm phân công lực lượng Công an cùng cấp tham gia bảo đảm trật tự, an toàn khi cưỡng chế?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị đinh 296/2025/NĐ-CP đối với các vụ việc cưỡng chế có tính chất phức tạp theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 296/2025/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có trách nhiệm phân công cơ quan Công an cùng cấp tham gia trong quá trình tổ chức thi hành cưỡng chế.
Việc phân công nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn, phòng ngừa và xử lý kịp thời các tình huống phát sinh, góp phần bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của việc thi hành quyết định cưỡng chế.
Việc phân công nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn, phòng ngừa và xử lý kịp thời các tình huống phát sinh, góp phần bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của việc thi hành quyết định cưỡng chế.
Trong trường hợp nào việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả bị tạm đình chỉ?
Trong trường hợp nào việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả bị tạm đình chỉ?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 296/2025/NĐ-CP việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả bị tạm đình chỉ khi có quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định cưỡng chế của:
- Người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính;
- Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
- Người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính;
- Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
Những trường hợp nào người có thẩm quyền phải ra quyết định đình chỉ cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính?
Những trường hợp nào người có thẩm quyền phải ra quyết định đình chỉ cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính?
Trả lời:
Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 296/2025/NĐ-CP người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế phải ra quyết định đình chỉ cưỡng chế trong các trường hợp sau:
1. Cá nhân bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt tiền hoặc chi trả chi phí khắc phục hậu quả chết hoặc mất tích mà không để lại di sản, hoặc theo quy định của pháp luật, nghĩa vụ đó không được chuyển giao cho người thừa kế;
2. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị hủy bỏ hoặc sửa đổi, dẫn đến việc cá nhân, tổ chức bị xử phạt không phải tiếp tục thi hành;
3. Tổ chức bị cưỡng chế đã giải thể hoặc phá sản, không còn tài sản và theo quy định của pháp luật, nghĩa vụ của tổ chức đó không được chuyển giao cho tổ chức khác;
4. Có quyết định miễn tiền phạt hoặc giảm tiền phạt và cá nhân, tổ chức bị xử phạt đã thi hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
5. Hành vi vi phạm hành chính bị xử phạt được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
1. Cá nhân bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt tiền hoặc chi trả chi phí khắc phục hậu quả chết hoặc mất tích mà không để lại di sản, hoặc theo quy định của pháp luật, nghĩa vụ đó không được chuyển giao cho người thừa kế;
2. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị hủy bỏ hoặc sửa đổi, dẫn đến việc cá nhân, tổ chức bị xử phạt không phải tiếp tục thi hành;
3. Tổ chức bị cưỡng chế đã giải thể hoặc phá sản, không còn tài sản và theo quy định của pháp luật, nghĩa vụ của tổ chức đó không được chuyển giao cho tổ chức khác;
4. Có quyết định miễn tiền phạt hoặc giảm tiền phạt và cá nhân, tổ chức bị xử phạt đã thi hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
5. Hành vi vi phạm hành chính bị xử phạt được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ cưỡng chế được quy định như thế nào?
Thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ cưỡng chế được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định 296/2025/NĐ-CP thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ cưỡng chế là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ tạm đình chỉ hoặc đình chỉ theo quy định.
Việc gửi quyết định tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định về gửi quyết định cưỡng chế tại Điều 6 Nghị định 296/2025/NĐ-CP.
Thời hạn tạm đình chỉ việc cưỡng chế phải phù hợp với thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
Việc gửi quyết định tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định về gửi quyết định cưỡng chế tại Điều 6 Nghị định 296/2025/NĐ-CP.
Thời hạn tạm đình chỉ việc cưỡng chế phải phù hợp với thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hiện nay gồm những biện pháp nào?
Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hiện nay gồm những biện pháp nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020, năm 2025) các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:
1. Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập;
2. Khấu trừ tiền từ tài khoản;
3. Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;
4. Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản;
5. Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
1. Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập;
2. Khấu trừ tiền từ tài khoản;
3. Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;
4. Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản;
5. Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Trong thời hạn bao lâu cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc thu nhập phải cung cấp thông tin về tiền lương, thu nhập cho người có thẩm quyền?
Trong thời hạn bao lâu cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc thu nhập phải cung cấp thông tin về tiền lương, thu nhập cho người có thẩm quyền?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định 296/2025/NĐ-CP trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu cung cấp thông tin của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế, cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập có trách nhiệm cung cấp thông tin về tiền lương, thu nhập và mức lương hưu hằng tháng được hưởng (nếu có).
Người có thẩm quyền yêu cầu cung cấp hoặc tổ chức xác minh thông tin về tiền lương, thu nhập thời hạn được xác định như thế nào?
Người có thẩm quyền yêu cầu cung cấp hoặc tổ chức xác minh thông tin về tiền lương, thu nhập thời hạn được xác định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định 296/2025/NĐ-CP trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc hết thời hạn mà cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt yêu cầu cá nhân, tổ chức hoàn trả kinh phí đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế hoặc người có thẩm quyền thuộc cơ quan tiếp nhận quyết định cưỡng chế để tổ chức thi hành có văn bản yêu cầu cá nhân bị cưỡng chế, cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập và các tổ chức, cá nhân liên quan (nếu có) phải cung cấp thông tin bằng văn bản về tiền lương, thu nhập, mức lương hưu hằng tháng của cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc tổ chức tiến hành xác minh thông tin về tiền lương, thu nhập, mức lương hưu hằng tháng của cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị khấu trừ có trách nhiệm gì khi thực hiện quyết định cưỡng chế?
Cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị khấu trừ có trách nhiệm gì khi thực hiện quyết định cưỡng chế?
Trả lời:
Theo Điều 14 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền lương, lương hưu hoặc thu nhập của cá nhân bị áp dụng biện pháp khấu trừ có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh quyết định cưỡng chế của người có thẩm quyền và tổ chức thực hiện việc khấu trừ theo đúng quy định. Cụ thể, các cơ quan, đơn vị này phải thực hiện khấu trừ một phần tiền lương, lương hưu hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày đến kỳ lĩnh tiền lương hoặc thu nhập gần nhất, chuyển số tiền đã khấu trừ vào tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo nội dung ghi trong quyết định cưỡng chế, đồng thời thông báo cho cá nhân bị cưỡng chế và người ra quyết định cưỡng chế biết.
Trường hợp chưa khấu trừ đủ số tiền theo quyết định cưỡng chế mà cá nhân bị cưỡng chế chấm dứt hợp đồng có hưởng lương hoặc thu nhập, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động phải thông báo ngay cho người ra quyết định cưỡng chế. Sau mỗi lần khấu trừ, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế biết.
Trường hợp cố tình không phối hợp cung cấp thông tin hoặc không thi hành quyết định cưỡng chế khấu trừ, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động được xác định là có hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trường hợp chưa khấu trừ đủ số tiền theo quyết định cưỡng chế mà cá nhân bị cưỡng chế chấm dứt hợp đồng có hưởng lương hoặc thu nhập, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động phải thông báo ngay cho người ra quyết định cưỡng chế. Sau mỗi lần khấu trừ, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế biết.
Trường hợp cố tình không phối hợp cung cấp thông tin hoặc không thi hành quyết định cưỡng chế khấu trừ, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động được xác định là có hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Số tiền làm căn cứ để kê biên tài sản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế được xác định như thế nào theo quy định của pháp luật?
Số tiền làm căn cứ để kê biên tài sản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế được xác định như thế nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, số tiền làm căn cứ để kê biên tài sản được xác định là tổng số tiền đủ để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và chi phí cho việc tổ chức thi hành cưỡng chế; việc kê biên chỉ được thực hiện tương ứng với tổng số tiền này.
Trường hợp cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế không có tài sản tương ứng với số tiền đủ để thi hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và dự kiến chi phí cho việc tổ chức thi hành cưỡng chế thì có thể kê biên nhiều tài sản hoặc một tài sản có giá trị lớn hơn tổng số tiền thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và chi phí cho việc tổ chức cưỡng chế nếu tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản.
Trường hợp cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế không có tài sản tương ứng với số tiền đủ để thi hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và dự kiến chi phí cho việc tổ chức thi hành cưỡng chế thì có thể kê biên nhiều tài sản hoặc một tài sản có giá trị lớn hơn tổng số tiền thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và chi phí cho việc tổ chức cưỡng chế nếu tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản.
Những tài sản nào không được kê biên khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính?
Những tài sản nào không được kê biên khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, không được kê biên các tài sản thuộc danh mục quy định tại Điều 21 của Nghị định này khi áp dụng biện pháp cưỡng chế (Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, cơ yếu, lợi ích công cộng; vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; tài sản có chứa chất phóng xạ; chất cháy, chất độc; tài sản là di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu theo quy định của Luật Di sản văn hóa; Tài sản sau đây của đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế là cá nhân: Nhà ở duy nhất của cá nhân và gia đình người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế có diện tích tối thiểu theo quy định của pháp luật về cư trú; Thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu cho cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế và gia đình họ sử dụng; Công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt thông thường cần thiết cho cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế và gia đình họ sử dụng; Đồ dùng thờ cúng; di vật, huân chương, huy chương, bằng khen; Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm; Tài sản sau đây của đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế là tổ chức: Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn của người lao động; Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh; Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường; Tài sản đang được cầm cố, thế chấp hợp pháp).
Việc không kê biên các tài sản này nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế và tuân thủ đúng nguyên tắc thi hành cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
Việc không kê biên các tài sản này nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế và tuân thủ đúng nguyên tắc thi hành cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
Việc kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện như thế nào?
Việc kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 26 Nghị dịnh 296/2025/NĐ-CP việc kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo trình tự, thủ tục cụ thể như sau:
1. Trước khi thực hiện kê biên, người chủ trì việc kê biên phải có văn bản yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản, các giao dịch đã đăng ký theo quy định của pháp luật, làm căn cứ cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế.
2. Sau khi kê biên tài sản, người chủ trì việc kê biên có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để cơ quan đăng ký thực hiện các biện pháp quản lý, xử lý tiếp theo theo quy định.
3. Cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm có trách nhiệm:
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký cho người chủ trì việc kê biên;
- Tạm dừng hoặc dừng việc thực hiện các yêu cầu liên quan đến giao dịch đối với tài sản của người bị cưỡng chế ngay sau khi nhận được yêu cầu của người chủ trì kê biên hoặc người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế;
- Thực hiện đăng ký hoặc ghi nhận việc chuyển dịch quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản theo quy định của pháp luật;
- Thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người bị cưỡng chế và cấp mới các giấy tờ phù hợp theo quy định của pháp luật đối với loại tài sản đó.
1. Trước khi thực hiện kê biên, người chủ trì việc kê biên phải có văn bản yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản, các giao dịch đã đăng ký theo quy định của pháp luật, làm căn cứ cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế.
2. Sau khi kê biên tài sản, người chủ trì việc kê biên có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để cơ quan đăng ký thực hiện các biện pháp quản lý, xử lý tiếp theo theo quy định.
3. Cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm có trách nhiệm:
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký cho người chủ trì việc kê biên;
- Tạm dừng hoặc dừng việc thực hiện các yêu cầu liên quan đến giao dịch đối với tài sản của người bị cưỡng chế ngay sau khi nhận được yêu cầu của người chủ trì kê biên hoặc người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế;
- Thực hiện đăng ký hoặc ghi nhận việc chuyển dịch quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản theo quy định của pháp luật;
- Thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người bị cưỡng chế và cấp mới các giấy tờ phù hợp theo quy định của pháp luật đối với loại tài sản đó.
Việc kê biên nhà ở của cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt
Việc kê biên nhà ở của cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 29 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, việc kê biên nhà ở của cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế được thực hiện theo các nguyên tắc và trình tự sau đây:
1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế và gia đình chỉ được kê biên khi không thuộc trường hợp tài sản không được kê biên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 21 của Nghị định và sau khi đã xác định người bị cưỡng chế không còn tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế, trừ trường hợp người bị cưỡng chế tự nguyện đồng ý kê biên nhà ở để thi hành quyết định.
2. Khi kê biên nhà ở phải kê biên đồng thời quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì chỉ kê biên cả nhà ở và quyền sử dụng đất khi người có quyền sử dụng đất đồng ý. Nếu người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người bị cưỡng chế, với điều kiện việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị của căn nhà.
3. Trường hợp nhà ở của người bị cưỡng chế đang cho thuê hoặc cho ở nhờ, người chủ trì việc kê biên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết, đồng thời thực hiện việc thông báo cho cơ quan đăng ký theo quy định. Trường hợp nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc lưu cư vẫn còn, người thuê hoặc người lưu cư được tiếp tục thực hiện quyền của mình theo quy định của Bộ luật Dân sự.
4. Việc kê biên nhà ở bị khóa được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, bảo đảm an toàn, khách quan và đúng pháp luật.
1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế và gia đình chỉ được kê biên khi không thuộc trường hợp tài sản không được kê biên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 21 của Nghị định và sau khi đã xác định người bị cưỡng chế không còn tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế, trừ trường hợp người bị cưỡng chế tự nguyện đồng ý kê biên nhà ở để thi hành quyết định.
2. Khi kê biên nhà ở phải kê biên đồng thời quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì chỉ kê biên cả nhà ở và quyền sử dụng đất khi người có quyền sử dụng đất đồng ý. Nếu người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người bị cưỡng chế, với điều kiện việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị của căn nhà.
3. Trường hợp nhà ở của người bị cưỡng chế đang cho thuê hoặc cho ở nhờ, người chủ trì việc kê biên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết, đồng thời thực hiện việc thông báo cho cơ quan đăng ký theo quy định. Trường hợp nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc lưu cư vẫn còn, người thuê hoặc người lưu cư được tiếp tục thực hiện quyền của mình theo quy định của Bộ luật Dân sự.
4. Việc kê biên nhà ở bị khóa được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, bảo đảm an toàn, khách quan và đúng pháp luật.
Việc định giá tài sản đã kê biên khi thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Việc định giá tài sản đã kê biên được thực hiện như thế nào khi thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 33 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, việc định giá tài sản đã kê biên được thực hiện theo trình tự, nguyên tắc sau:
Trước hết, tài sản đã kê biên được ưu tiên định giá theo thỏa thuận giữa người chủ trì thi hành quyết định cưỡng chế với cá nhân hoặc đại diện tổ chức có tài sản bị kê biên và chủ sở hữu chung (trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung). Thời hạn để các bên thỏa thuận về giá không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày tài sản bị kê biên.
Trường hợp không đạt được thỏa thuận về giá, trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày tài sản bị kê biên, người đã ra quyết định cưỡng chế phải ra quyết định thành lập Hội đồng định giá tài sản. Hội đồng định giá tài sản do người ra quyết định cưỡng chế làm Chủ tịch, gồm đại diện cơ quan tài chính cùng cấp và đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày được thành lập, Hội đồng định giá tài sản phải tiến hành định giá. Việc định giá được thực hiện theo giá thị trường tại thời điểm định giá; đối với tài sản do Nhà nước định giá thì căn cứ giá do Nhà nước quy định.
Hội đồng định giá tài sản làm việc theo nguyên tắc tập thể; cuộc họp định giá phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự. Quyết định về giá tài sản được thông qua khi quá nửa số thành viên tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì quyết định theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng hoặc người được ủy quyền. Cá nhân bị kê biên hoặc đại diện tổ chức có tài sản bị kê biên được tham gia ý kiến trong quá trình định giá, tuy nhiên quyền quyết định giá tài sản thuộc Hội đồng định giá tài sản.
Trước hết, tài sản đã kê biên được ưu tiên định giá theo thỏa thuận giữa người chủ trì thi hành quyết định cưỡng chế với cá nhân hoặc đại diện tổ chức có tài sản bị kê biên và chủ sở hữu chung (trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung). Thời hạn để các bên thỏa thuận về giá không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày tài sản bị kê biên.
Trường hợp không đạt được thỏa thuận về giá, trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày tài sản bị kê biên, người đã ra quyết định cưỡng chế phải ra quyết định thành lập Hội đồng định giá tài sản. Hội đồng định giá tài sản do người ra quyết định cưỡng chế làm Chủ tịch, gồm đại diện cơ quan tài chính cùng cấp và đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày được thành lập, Hội đồng định giá tài sản phải tiến hành định giá. Việc định giá được thực hiện theo giá thị trường tại thời điểm định giá; đối với tài sản do Nhà nước định giá thì căn cứ giá do Nhà nước quy định.
Hội đồng định giá tài sản làm việc theo nguyên tắc tập thể; cuộc họp định giá phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự. Quyết định về giá tài sản được thông qua khi quá nửa số thành viên tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì quyết định theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng hoặc người được ủy quyền. Cá nhân bị kê biên hoặc đại diện tổ chức có tài sản bị kê biên được tham gia ý kiến trong quá trình định giá, tuy nhiên quyền quyết định giá tài sản thuộc Hội đồng định giá tài sản.
Bên thứ ba đang giữ tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm gì?
Bên thứ ba đang giữ tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 38 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, bên thứ ba đang giữ tiền, tài sản của đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế có các trách nhiệm sau:
1. Cung cấp thông tin cho người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế về số tiền, tài sản đang giữ của đối tượng bị cưỡng chế khi có yêu cầu.
2. Không được chuyển trả tiền, tài sản cho đối tượng bị cưỡng chế kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế, cho đến khi thực hiện việc nộp tiền vào ngân sách nhà nước hoặc chuyển giao tài sản cho người có thẩm quyền để làm thủ tục bán đấu giá theo quy định. Trường hợp không chấp hành yêu cầu thì bị coi là hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ và bị xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp không thực hiện yêu cầu hoặc có hành vi tẩu tán tiền, tài sản đang giữ của đối tượng bị cưỡng chế; các hành vi này đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
1. Cung cấp thông tin cho người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế về số tiền, tài sản đang giữ của đối tượng bị cưỡng chế khi có yêu cầu.
2. Không được chuyển trả tiền, tài sản cho đối tượng bị cưỡng chế kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế, cho đến khi thực hiện việc nộp tiền vào ngân sách nhà nước hoặc chuyển giao tài sản cho người có thẩm quyền để làm thủ tục bán đấu giá theo quy định. Trường hợp không chấp hành yêu cầu thì bị coi là hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ và bị xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp không thực hiện yêu cầu hoặc có hành vi tẩu tán tiền, tài sản đang giữ của đối tượng bị cưỡng chế; các hành vi này đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Nội dung của quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và việc thông báo
Nội dung của quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và việc thông báo được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 41 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả phải được lập bằng văn bản và bao gồm đầy đủ các nội dung chủ yếu sau: số quyết định; ngày, tháng, năm ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ của người ra quyết định; họ tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; biện pháp khắc phục hậu quả phải thực hiện; số tài khoản của cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; thời gian hoàn thành cưỡng chế; cá nhân, cơ quan có trách nhiệm chủ trì tổ chức cưỡng chế; các cơ quan có trách nhiệm tham gia; chữ ký của người ra quyết định và đóng dấu của cơ quan ra quyết định.
Quyết định cưỡng chế này phải được thông báo rõ ràng, đầy đủ đến cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế và các cơ quan, tổ chức tham gia cưỡng chế, nhằm bảo đảm việc tổ chức thi hành đúng trình tự, thủ tục và đúng quy định của pháp luật.
Quyết định cưỡng chế này phải được thông báo rõ ràng, đầy đủ đến cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế và các cơ quan, tổ chức tham gia cưỡng chế, nhằm bảo đảm việc tổ chức thi hành đúng trình tự, thủ tục và đúng quy định của pháp luật.
Việc xử lý tài sản không thuộc diện cưỡng chế khi tổ chức cưỡng chế phá dỡ công trình xây dựng trái phép, di chuyển công trình hoặc bàn giao đất
Việc xử lý tài sản không thuộc diện cưỡng chế khi tổ chức cưỡng chế phá dỡ công trình xây dựng trái phép, di chuyển công trình hoặc bàn giao đất được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 42 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, khi tổ chức cưỡng chế phá dỡ, di chuyển công trình xây dựng trái phép hoặc cưỡng chế bàn giao đất mà trong công trình hoặc trên đất có tài sản không thuộc diện phải cưỡng chế, việc xử lý được thực hiện như sau:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 42 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, khi tổ chức cưỡng chế phá dỡ, di chuyển công trình xây dựng trái phép hoặc cưỡng chế bàn giao đất mà trong công trình hoặc trên đất có tài sản không thuộc diện phải cưỡng chế, việc xử lý được thực hiện như sau:
Trước hết, người tổ chức cưỡng chế có quyền buộc cá nhân, tổ chức phải thi hành quyết định cưỡng chế và những người có mặt trong công trình hoặc khu vực đất ra khỏi công trình, khu đất, đồng thời yêu cầu họ tự di chuyển tài sản ra ngoài. Trường hợp họ không tự nguyện thực hiện thì lực lượng cưỡng chế được yêu cầu đưa người và tài sản ra khỏi công trình hoặc khu vực đất đó.
Trường hợp cá nhân, tổ chức từ chối nhận tài sản, người tổ chức cưỡng chế phải lập biên bản, ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng của từng loại tài sản; đồng thời thuê tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện để trông giữ, bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan ra quyết định cưỡng chế, và thông báo địa điểm, thời gian để cá nhân, tổ chức có tài sản đến nhận lại. Cá nhân, tổ chức có tài sản phải chịu các chi phí vận chuyển, trông giữ, bảo quản tài sản.
Quá thời hạn 06 tháng kể từ ngày nhận được thông báo mà cá nhân, tổ chức có tài sản không đến nhận, thì tài sản đó được bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Số tiền thu được sau khi trừ các chi phí liên quan sẽ được gửi tiết kiệm không kỳ hạn tại tổ chức tín dụng và thông báo cho cá nhân, tổ chức có tài sản biết để nhận. Đối với tài sản bị hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, người tổ chức cưỡng chế tổ chức tiêu hủy theo quy định của pháp luật và phải lập biên bản ghi rõ hiện trạng tài sản trước khi tiêu hủy.
Trường hợp cá nhân, tổ chức từ chối nhận tài sản, người tổ chức cưỡng chế phải lập biên bản, ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng của từng loại tài sản; đồng thời thuê tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện để trông giữ, bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan ra quyết định cưỡng chế, và thông báo địa điểm, thời gian để cá nhân, tổ chức có tài sản đến nhận lại. Cá nhân, tổ chức có tài sản phải chịu các chi phí vận chuyển, trông giữ, bảo quản tài sản.
Quá thời hạn 06 tháng kể từ ngày nhận được thông báo mà cá nhân, tổ chức có tài sản không đến nhận, thì tài sản đó được bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Số tiền thu được sau khi trừ các chi phí liên quan sẽ được gửi tiết kiệm không kỳ hạn tại tổ chức tín dụng và thông báo cho cá nhân, tổ chức có tài sản biết để nhận. Đối với tài sản bị hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, người tổ chức cưỡng chế tổ chức tiêu hủy theo quy định của pháp luật và phải lập biên bản ghi rõ hiện trạng tài sản trước khi tiêu hủy.
Các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế được áp dụng trong trường hợp nào, gồm những biện pháp gì?
Các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế được áp dụng trong trường hợp nào và bao gồm những biện pháp gì?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định 296/2025/NĐ-CP về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, khi đã có quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế mà có dấu hiệu cho thấy cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế có hành vi tẩu tán hoặc làm hư hại tiền bạc, tài sản, người đã ra quyết định cưỡng chế có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân bị cưỡng chế cư trú hoặc công tác, nơi tổ chức bị cưỡng chế đóng trụ sở thực hiện các biện pháp phong tỏa nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản.
Các biện pháp phong tỏa được áp dụng gồm: phong tỏa tài khoản, tiền gửi tại ngân hàng; niêm phong tài sản; và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm tài sản không bị tẩu tán, làm căn cứ cho việc tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế đúng quy định.
Các biện pháp phong tỏa được áp dụng gồm: phong tỏa tài khoản, tiền gửi tại ngân hàng; niêm phong tài sản; và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm tài sản không bị tẩu tán, làm căn cứ cho việc tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế đúng quy định.
Cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế có hành vi chống đối, không thi hành quyết định cưỡng chế thì áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành cưỡng chế như thế nào?
Trường hợp cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế có hành vi chống đối, không thi hành quyết định cưỡng chế thì áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành cưỡng chế như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Nghị định 296/2025/NĐ-CP khi cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế có hành vi chống đối, không chấp hành quyết định cưỡng chế sau khi đã vận động, giải thích, thuyết phục mà không có hiệu quả, người ra quyết định cưỡng chế có quyền huy động lực lượng, phương tiện để bảo đảm thi hành cưỡng chế. Các biện pháp cụ thể có thể bao gồm: Huy động lực lượng an ninh, cảnh sát; bổ sung phương tiện kỹ thuật, công nghệ để hỗ trợ việc cưỡng chế; sử dụng các biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật.
Cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế ở địa bàn cấp tỉnh này nhưng cư trú, đóng trụ sở ở địa bàn cấp tỉnh khác và không có điều kiện chấp hành quyết định cưỡng chế tại nơi thực hiện hành vi vi phạm thì xử lý như thế nào?
Trường hợp cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế ở địa bàn cấp tỉnh này nhưng cư trú, đóng trụ sở ở địa bàn cấp tỉnh khác và không có điều kiện chấp hành quyết định cưỡng chế tại nơi thực hiện hành vi vi phạm thì xử lý như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Nghị định 296/2025/NĐ-CP trường hợp cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế ở địa bàn cấp tỉnh này nhưng cư trú, đóng trụ sở ở địa bàn cấp tỉnh khác và không có điều kiện chấp hành quyết định cưỡng chế tại nơi thực hiện hành vi vi phạm, thì quyết định cưỡng chế được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế cùng cấp nơi cá nhân bị cưỡng chế cư trú hoặc tổ chức bị cưỡng chế đóng trụ sở để tổ chức thi hành. Nếu nơi cá nhân bị cưỡng chế cư trú hoặc nơi tổ chức bị cưỡng chế đóng trụ sở không có cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế cùng cấp, thì quyết định cưỡng chế được chuyển đến Ủy ban nhân dân cấp xã để tổ chức thi hành.
Trường hợp cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thuộc phạm vi một tỉnh ở địa bàn miền núi, hải đảo hoặc những vùng xa xôi, hẻo lánh khác mà việc đi lại gặp khó khăn và cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế không có điều kiện chấp hành tại nơi bị ra quyết định cưỡng chế thì quyết định cưỡng chế được chuyển đến cơ quan cùng cấp nơi cá nhân bị cưỡng chế cư trú, tổ chức bị cưỡng chế đóng trụ sở để tổ chức thi hành.
Trường hợp cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thuộc phạm vi một tỉnh ở địa bàn miền núi, hải đảo hoặc những vùng xa xôi, hẻo lánh khác mà việc đi lại gặp khó khăn và cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế không có điều kiện chấp hành tại nơi bị ra quyết định cưỡng chế thì quyết định cưỡng chế được chuyển đến cơ quan cùng cấp nơi cá nhân bị cưỡng chế cư trú, tổ chức bị cưỡng chế đóng trụ sở để tổ chức thi hành.
Trách nhiệm của cơ quan chuyển việc thi hành cưỡng chế và cơ quan tiếp nhận hồ sơ cưỡng chế
Cơ quan chuyển việc thi hành cưỡng chế và cơ quan tiếp nhận hồ sơ cưỡng chế có trách nhiệm cụ thể như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 45 Nghị định 296/2025 trách nhiệm của cơ quan chuyển việc thi hành cưỡng chế và cơ quan tiếp nhận có tránh nhiệm như sau:
1. Cơ quan chuyển việc thi hành cưỡng chế có trách nhiệm chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền tại địa phương nơi cá nhân bị cưỡng chế cư trú hoặc nơi tổ chức bị cưỡng chế đóng trụ sở để tổ chức thi hành.
Hồ sơ chuyển giao phải đầy đủ, bao gồm:
- Quyết định cưỡng chế;
- Các tài liệu, bằng chứng liên quan đến vụ việc;
- Biên bản và các tài liệu khác đã lập trong quá trình xử lý vụ việc.
2. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm
- Xác nhận đã nhận đầy đủ hồ sơ và thông báo lại cho cơ quan chuyển hồ sơ;
- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo chuyển và hồ sơ vụ việc, tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế theo đúng quy định của pháp luật tại địa phương nơi cá nhân cư trú hoặc tổ chức đóng trụ sở.
1. Cơ quan chuyển việc thi hành cưỡng chế có trách nhiệm chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền tại địa phương nơi cá nhân bị cưỡng chế cư trú hoặc nơi tổ chức bị cưỡng chế đóng trụ sở để tổ chức thi hành.
Hồ sơ chuyển giao phải đầy đủ, bao gồm:
- Quyết định cưỡng chế;
- Các tài liệu, bằng chứng liên quan đến vụ việc;
- Biên bản và các tài liệu khác đã lập trong quá trình xử lý vụ việc.
2. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm
- Xác nhận đã nhận đầy đủ hồ sơ và thông báo lại cho cơ quan chuyển hồ sơ;
- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo chuyển và hồ sơ vụ việc, tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế theo đúng quy định của pháp luật tại địa phương nơi cá nhân cư trú hoặc tổ chức đóng trụ sở.
Trường hợp nào người có thẩm quyền ban hành quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính?
Trong trường hợp nào người có thẩm quyền ban hành quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính?
Trả lời:
Sau khi đã tiến hành xác minh, nếu có căn cứ xác định chưa có điều kiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, thì người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế ban hành quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế.
Quyết định này được ban hành khi cá nhân, tổ chức vi phạm thuộc một trong các trường hợp theo quy định của pháp luật, như:
1. Người phải thi hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người đó, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để cưỡng chế thi hành hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản không đủ hoặc chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế hoặc tài sản thuộc trường hợp không được kê biên;
2. Tổ chức, hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, cộng đồng dân cư bị cưỡng chế không có tài sản để cưỡng chế thi hành hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản không đủ hoặc chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế hoặc tài sản thuộc trường hợp không được kê biên;
3. Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả khi đã thực hiện tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật.
Quyết định này được ban hành khi cá nhân, tổ chức vi phạm thuộc một trong các trường hợp theo quy định của pháp luật, như:
1. Người phải thi hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người đó, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để cưỡng chế thi hành hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản không đủ hoặc chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế hoặc tài sản thuộc trường hợp không được kê biên;
2. Tổ chức, hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, cộng đồng dân cư bị cưỡng chế không có tài sản để cưỡng chế thi hành hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản không đủ hoặc chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế hoặc tài sản thuộc trường hợp không được kê biên;
3. Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả khi đã thực hiện tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật.
Việc xác minh và xử lý tiếp theo sau khi ban hành quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Sau khi ban hành quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, việc xác minh và xử lý tiếp theo được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều Điều 47 Nghị định 296/2025/NĐ-CP sau khi ban hành quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm tiếp tục theo dõi, xác minh theo trình tự, thời hạn sau đây:
- Thực hiện xác minh lần thứ nhất trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế đã được ban hành đủ 06 tháng.
- Thực hiện xác minh lần thứ hai trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc xác minh lần thứ nhất đủ 06 tháng.
- Trường hợp kết thúc xác minh lần thứ hai mà vẫn xác định chưa có điều kiện cưỡng chế, thì trong thời hạn 15 ngày, người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế ban hành quyết định chấm dứt việc cưỡng chế.
Trong quá trình theo dõi, khi có thông tin mới về điều kiện cưỡng chế thi hành, người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế phải tổ chức xác minh lại kịp thời. Nếu kết quả xác minh cho thấy đã đủ điều kiện cưỡng chế, thì hủy bỏ quyết định chấm dứt việc cưỡng chế và tiếp tục tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện xác minh lần thứ nhất trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế đã được ban hành đủ 06 tháng.
- Thực hiện xác minh lần thứ hai trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc xác minh lần thứ nhất đủ 06 tháng.
- Trường hợp kết thúc xác minh lần thứ hai mà vẫn xác định chưa có điều kiện cưỡng chế, thì trong thời hạn 15 ngày, người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế ban hành quyết định chấm dứt việc cưỡng chế.
Trong quá trình theo dõi, khi có thông tin mới về điều kiện cưỡng chế thi hành, người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế phải tổ chức xác minh lại kịp thời. Nếu kết quả xác minh cho thấy đã đủ điều kiện cưỡng chế, thì hủy bỏ quyết định chấm dứt việc cưỡng chế và tiếp tục tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
Mức chi bồi dưỡng cho những người được huy động trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế
Mức chi bồi dưỡng cho những người được huy động trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế được quy định như thế nào?
Trả lời:
Chi bồi dưỡng cho những người được huy động trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế được thực hiện theo mức sau:
- Đối với cán bộ, công chức của cơ quan thi hành quyết định cưỡng chế; lực lượng Công an; lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; Dân quân tự vệ; đại diện Ủy ban nhân dân trực tiếp tham gia cưỡng chế:
- Người chủ trì cưỡng chế được chi 300.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế;
- Các đối tượng còn lại được chi 200.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.
- Đối với đại diện tổ dân phố, trưởng thôn và các đối tượng khác được người ra quyết định cưỡng chế huy động tham gia cưỡng chế: Mức chi 200.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.
Mức chi nêu trên là căn cứ để thanh toán chi phí cưỡng chế, bảo đảm phù hợp với tính chất, mức độ tham gia và đúng quy định của pháp luật.
- Đối với cán bộ, công chức của cơ quan thi hành quyết định cưỡng chế; lực lượng Công an; lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; Dân quân tự vệ; đại diện Ủy ban nhân dân trực tiếp tham gia cưỡng chế:
- Người chủ trì cưỡng chế được chi 300.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế;
- Các đối tượng còn lại được chi 200.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.
- Đối với đại diện tổ dân phố, trưởng thôn và các đối tượng khác được người ra quyết định cưỡng chế huy động tham gia cưỡng chế: Mức chi 200.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.
Mức chi nêu trên là căn cứ để thanh toán chi phí cưỡng chế, bảo đảm phù hợp với tính chất, mức độ tham gia và đúng quy định của pháp luật.
Việc tạm ứng chi phí cưỡng chế
Việc tạm ứng chi phí cưỡng chế được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Nghị định 296/2025/NĐ-CP rước khi tổ chức việc cưỡng chế, người ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm phê duyệt dự trù chi phí cưỡng chế. Dự trù chi phí cưỡng chế được lập căn cứ vào biện pháp cưỡng chế áp dụng, thời gian, địa điểm cưỡng chế, phương án tiến hành cưỡng chế và lực lượng tham gia cưỡng chế (bao gồm số lượng và thành phần tham gia).
Sau khi được phê duyệt, dự trù chi phí cưỡng chế phải được gửi cho đối tượng bị cưỡng chế 01 bản cùng với quyết định cưỡng chế để thực hiện việc nộp chi phí cưỡng chế. Văn bản gửi kèm phải ghi rõ ngày, tháng, năm xử phạt; số tiền phải thanh toán; địa chỉ thanh toán bằng tiền mặt hoặc số tài khoản thanh toán chuyển khoản và các thông tin cần thiết khác theo quy định.
Việc lập, phê duyệt và thông báo dự trù chi phí cưỡng chế là căn cứ để bảo đảm tổ chức cưỡng chế đúng trình tự, minh bạch và đúng pháp luật.
Sau khi được phê duyệt, dự trù chi phí cưỡng chế phải được gửi cho đối tượng bị cưỡng chế 01 bản cùng với quyết định cưỡng chế để thực hiện việc nộp chi phí cưỡng chế. Văn bản gửi kèm phải ghi rõ ngày, tháng, năm xử phạt; số tiền phải thanh toán; địa chỉ thanh toán bằng tiền mặt hoặc số tài khoản thanh toán chuyển khoản và các thông tin cần thiết khác theo quy định.
Việc lập, phê duyệt và thông báo dự trù chi phí cưỡng chế là căn cứ để bảo đảm tổ chức cưỡng chế đúng trình tự, minh bạch và đúng pháp luật.




